Hiển thị các bài đăng có nhãn Trẻ em - bệnh tật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trẻ em - bệnh tật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011

Nhà quá sạch có thể gây trầm cảm

Nhà, văn phòng sạch sẽ thì có mật độ bụi và vi khuẩn ít hơn. Điều này dễ tạo ra một hệ miễn dịch ốm yếu, kéo theo chức năng của não giảm sút, một nghiên cứu vừa khẳng định điều đó.

Trước kia, từng có công trình tìm thấy mối liên hệ rõ ràng giữa việc nhà sạch với hệ miễn dịch kém, trong khi các nghiên cứu khác cho thấy trẻ tiếp xúc với bụi, đất bẩn và các thứ như lông chó mèo có thể giúp phát triển khả năng đề kháng với một số loại bệnh.

Nghiên cứu mới nhất, từ Atlanta (Mỹ), lập luận rằng một khi hệ miễn dịch yếu đi, nó sẽ có xu hướng phản ứng quá mẫn với bụi, bẩn dưới dạng viêm nhiễm và dị ứng, từ đó làm chậm sự sản xuất các hóa chất "vui vẻ" trong não như serotonin và gây ra trầm cảm.

Cũng theo công trình này, tỷ lệ trầm cảm tại các nước phát triển cao hơn nhiều các vùng còn nghèo khó trên hành tinh. Chẳng hạn, tại Anh, 10% dân số phàn nàn bị chứng trầm cảm, trong khi chỉ 1% nói vậy ở Nigeria.

Tiến sĩ Andrew Miller, tác giả công trình, cho biết: "Chúng tôi tin rằng hệ miễn dịch gây ra trầm cảm. Khi con người lớn lên, phát triển, hệ miễn dịch cũng phát triển theo. Nếu hệ miễn dịch tiếp xúc với nhiều vi khuẩn và ký sinh trùng hơn, chúng có thể kiểm soát tốt hơn các chứng viêm nhiễm".

"Ngày nay, môi trường sống của mọi người ngày càng sạch và vệ sinh hơn, vì thế hệ miễn dịch của chúng ta không bao giờ thực sự học được cách đối phó với các nhân tố gây nhiễm trùng".

Công trình được đăng trên tạp chí Tâm thần học phân tử (Molecular Psychiatry).

T. An

'Nghịch bẩn tốt cho trẻ'



Trẻ con nên được bố mẹ cho phép nghịch bẩn - các nhà khoa học tuyên bố, sau khi tìm thấy việc sống quá sạch có thể làm suy yếu khả năng tự lành của da.

Nhóm khoa học Mỹ, đứng đầu là giáo sư Richard Gallo, đã phát hiện những loại vi khuẩn thông thường (vô hại) sống trên da chúng ta có tác dụng kích hoạt một phản ứng giúp ngăn ngừa sự viêm sưng khi chúng ta bị thương.

Nghiên cứu thực hiện trên chuột và các tế bào người tìm thấy, những vi khuẩn này kìm hãm phản ứng quá mức của hệ miễn dịch lên các vết xước, cắt... vốn khiến các chỗ này sưng lên.

Theo nhóm tác giả, phát hiện này đã cung cấp một lời giải thích cho "lý thuyết vệ sinh" - theo đó, việc tiếp xúc với các chất bẩn trong thời kỳ thơ ấu sẽ cung cấp cho cơ thể vũ khí chống lại hiện tượng dị ứng.

Theo BBC, nhiều chuyên gia tin rằng chính sự sạch sẽ quá mức là thủ phạm gây nên việc bùng nổ các loại bệnh dị ứng ở các quốc gia phát triển hiện nay.

Chỉ riêng tại Anh, tốc độ mắc các bệnh dị ứng đã tăng gấp 3 lần trong thập kỷ qua. Cứ 3 người thì có 1 người mắc một thể dị ứng nào đó.

Phát ngôn viên của Hiệp hội dị ứng Anh cũng cho biết, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy việc tiếp xúc với các loại vi khuẩn là một điều tốt. Tuy nhiên, bà cũng nói rằng cần có các nghiên cứu thêm về vấn đề này.

T. An

Môi trường sống quá sạch có thể khiến trẻ bị viêm ruột



Các nhà khoa học Israel khẳng định, những trẻ em lớn lên trong một ngôi nhà ít vi khuẩn, virus có nguy cơ bị viêm đường ruột cao hơn những đứa trẻ khác.

Viêm ruột (IBD) là tình trạng viêm nhiễm kéo dài bên trong hệ thống tiêu hóa, dẫn tới các triệu chứng như đau bụng và ỉa chảy. Người ta cho rằng bệnh bắt nguồn từ một phản ứng quá mức của hệ miễn dịch khiến mô ruột bị tổn thương.

Trong một nghiên cứu gần đây, các chuyên gia y tế tại Đại học Hebrew (Israel) muốn tìm hiểu xem liệu cái gọi là “giả thuyết vệ sinh” có liên quan tới nguy cơ bị viêm đường ruột ở người hay không. Theo giả thuyết này, khi trẻ em sống trong môi trường có quá ít virus, vi khuẩn và các vi sinh vật khác, quá trình phát triển của hệ miễn dịch trong cơ thể các em sẽ bị tác động, làm tăng nguy cơ xuất hiện các phản ứng bất thường của hệ miễn dịch. Nhiều nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng, những đứa trẻ được nuôi dưỡng tại trường mẫu giáo - nơi chúng phải tiếp xúc với nhiều loại vi sinh vật - ít có nguy cơ mắc các bệnh dị ứng hơn những em được chăm sóc tại nhà riêng.

Đối tượng nghiên cứu của nhóm chuyên gia là gần 400 nghìn trẻ em Israel sống ở cả thành thị và nông thôn. Môi trường nông thôn được coi là kém sạch sẽ hơn môi trường đô thị. Các nhà khoa học nhận thấy 768 em (chiếm khoảng 0,2%) được chẩn đoán bị viêm ruột. Những em có từ một anh, chị hoặc em ruột có nguy cơ cao gấp 2-3 lần so với các em có từ 5 anh, chị hoặc em ruột trở lên.

Tương tự, nguy cơ bị viêm ruột ở những trẻ sống ở đô thị cao gấp 38% so với trẻ sống ở vùng nông thôn.

Theo tiến sĩ Eran Israeli, trưởng nhóm nghiên cứu, sẽ là không thực tế nếu khuyên các cặp vợ chồng tạo ra một môi trường kém vệ sinh hay thay đổi môi trường sống để ngăn chặn khả năng mắc bệnh viêm ruột cho con cái trong tương lai. Tuy nhiên, ông cho rằng bác sĩ có thể giúp các phụ huynh làm giảm nguy cơ mắc bệnh cho trẻ bằng cách để các em tiếp xúc với những vi sinh vật vô hại nhằm điều chỉnh các phản ứng của hệ miễn dịch.

Việt Linh (theo Reuters)

Bác sĩ khuyên cha mẹ bình tĩnh khi trẻ em nóng sốt

Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ công bố một hướng dẫn mới, khuyên cha mẹ tránh sử dụng quá mức thuốc giảm sốt khi thân nhiệt của trẻ em lên cao. Trong khi cha mẹ thường xem sốt như là bệnh tật, có thể sốt chỉ là dấu hiệu tích cực của cơ thể chống bị viêm nhiễm.

Chỉ dẫn mới của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ về chữa trị sốt của trẻ em khuyến cáo cha mẹ không nên chú trọng quá nhiều đến chuyện giữ con em luôn có thân nhiệt ở mức “bình thường.”

Một cuộc thăm dò của các bác sĩ nhi khoa cho thấy phân nửa cha mẹ xem nhiệt độ dưới 38 độ là sốt. Và một phần tư những bác sĩ được thăm dò nói họ chỉ cho thuốc giảm sốt nếu trẻ em có thân nhiệt vào khoảng 37,8 độ.

Bác sĩ Kimberly Giuliano tại bệnh viện Nhi đồng Cleveland hoan nghênh khi thấy phúc trình nhấn mạnh những lợi ích khi bị sốt:

“Sốt là cách bảo vệ bình thường của cơ thể con người chống bị nhiễm trùng. Do đó thân nhiệt tăng để giúp chống lại vi trùng hay virút làm cho trẻ em ốm. Nó cũng kích thích một phần của hệ miễn nhiễm làm việc tốt hơn. Do đó sốt là một điều tốt.”

Các chuyên gia cũng ghi nhận sốt giúp cho thân thể chúng ta hồi phục nhanh chóng khi bị nhiễm trùng do virút gây nên bằng cách làm vi trùng và virút chậm tăng trưởng, cùng lúc sản xuất thêm bạch huyết cầu, là chiến lũy chính của cơ thể chống lại nhiễm trùng.

Hướng dẫn mới ghi nhận là dù có nhiều người tin tưởng trái ngược lại, không có mối quan hệ được thiết lập giữa một cơn sốt cao không được chữa trị và tổn hại não bộ, co giật và chết.

Các bác sĩ đồng ý là mục đích chính của việc chữa cơn sốt của trẻ em nên chỉ đơn giản là làm cho trẻ em dễ chịu hơn. Bác sĩ Giuliano khuyên cha mẹ đừng đánh thức trẻ em để cho uống thuốc giảm sốt:

“Nhiều cha mẹ nghĩ là có thể cho các em uống thuốc giảm sốt cách nhau từ 4 đến 6 giờ và nếu mức 4 đến 6 giờ rơi vào nửa đêm thì phải đánh thức các em dậy và cho các em uống thuốc. Tuy nhiên ngủ cũng quan trọng cho một em bé đang ốm. Do đó trừ phi em bé ốm tự thức giấc và cảm thấy khó chịu, thì thực sự không cần cho các em uống các loại thuốc giảm đau vào giữa đêm.”

Hướng dẫn mới cũng khuyến cáo các bác sĩ xem xét những dấu hiệu có thể là bệnh nặng và hãy bắt các em uống nhiều nước.

Bản hướng dẫn cũng phác họa những nguy cơ gắn liền với việc sử dụng thuốc giảm sốt, ví dụ như sốt có thể là bề mặt của một bệnh nặng, chờ quá lâu mới cho dùng, hoặc sử dụng thuốc quá liều lượng.

Sữa bột dễ làm con bạn phát phì

Những em bé được nuôi bằng sữa bột giàu dinh dưỡng dễ có nguy cơ béo phì ở tuổi lên 5, các nhà nghiên cứu Anh khẳng định.

Công trình của họ cho thấy việc tăng cân nhanh ở tuổi sơ sinh dường như đã lập trình cho suốt cuộc đời về sau của trẻ, đẩy chúng vào nguy cơ mắc các bệnh như tim mạch, tiểu đường.

Nhóm chuyên gia từ Trung tâm nghiên cứu dinh dưỡng trẻ em MRC, thuộc Đại học Tổng hợp London, đã tìm thấy những trẻ khỏe mạnh được uống sữa công thức giàu đạm, vitamin... thì có lượng mỡ cơ thể nhiều hơn từ 22 đến 38% ở thời điểm 5-8 tuổi, so với những em bé uống sữa bình thường.

Theo các chuyên gia, đó là vì trẻ đã nhận được nhiều calo hơn và tích lũy năng lượng nhiều hơn hẳn ở một giai đoạn quyết định của sự tăng trưởng.

Họ cũng dự đoán 20% người lớn bị béo phì có thể bắt nguồn từ việc bị thừa dinh dưỡng trong giai đoạn sơ sinh.

Theo ninemsn.com.au, các bà mẹ từng được khuyến cáo hãy cho các bé nhẹ cân uống các loại sữa giàu dưỡng chất nếu chúng không được bú mẹ. Nhưng giờ đây, các nhà khoa học lại dặn họ rằng không nên "vỗ béo" con mình trừ phi chúng bị sinh non.

Trưởng nhóm nghiên cứu, giáo sư Atul Singhal, cho biết: "Công trình này ủng hộ quan điểm phổ biến lâu này rằng cho trẻ bú mẹ, vì trẻ sẽ ít khả năng bị thừa dưỡng chất từ sữa mẹ".

T. An

Những bệnh vùng kín hay gặp ở bé gái

Thói quen hay ngồi xổm, thường xuyên thủ dâm hoặc có giun kim, bị kiết lỵ... có thể gây viêm nhiễm vùng kín ở bé gái mà ít bà mẹ biết.

Do buồng trứng chưa hoạt động, nên đặc điểm cơ quan sinh dục ở bé gái trước tuổi dậy thì khác với phụ nữ tuổi sinh sản. Cụ thể, vùng kín của bé dễ bị kích ứng môi lớn, môi nhỏ chưa phát triển, màng trinh và biểu mô âm đạo mỏng... Ngoài ra, âm đạo có pH trung tính và thiếu các kháng thể bảo vệ là yếu tố thuận lợi cho vi trùng phát triển. Những yếu tố trên kết hợp với vệ sinh kém dễ gây nên viêm âm hộ, âm đạo ở bé gái.

Vì những lý do trên, âm hộ và âm đạo của bé gái thường bị viêm do các vi trùng đường ruột, thậm chí vi trùng đường hô hấp và cả ký sinh trùng như giun kim. Ngoài ra cũng phải kể đến các dị vật do bé đút vào âm đạo, các loại hóa chất và các bệnh da liễu khác.

Để phòng tránh các bệnh này cho bé, bác sĩ sản phụ khoa Lê Thị Kim Dung, Trung tâm Y khoa Thái Hà (Hà Nội) cho biết cha mẹ cần lưu ý những điều sau:

Các biểu hiện khi bé gái bị viêm nhiễm vùng kín

Biểu hiện phổ biến nhất của viêm âm đạo là hiện tượng tiết dịch, ngoài ra, có ​​thể kèm theo ngứa, rối loạn bài niệu: đái dắt, buốt hoặc đái dầm (ở trẻ lớn).

Viêm âm đạo và âm hộ không đặc hiệu: thường gặp ở những bé gái không được vệ sinh đúng cách. Dịch tiết thường thấy ở đáy quần đặc trưng bởi màu xanh lá cây hoặc màu nâu, đi kèm với một mùi khó chịu và dịch âm đạo có pH 4,7-6,5. Đây là loại viêm âm đạo chủ yếu do vi khuẩn đường ruột (phân). Quần áo, hóa chất, mỹ phẩm, xà phòng hoặc chất tẩy rửa dùng để tắm hoặc rửa cũng có thể gây kích ứng.

Viêm âm hộ và âm đạo không đặc hiệu trong một số trường hợp có thể gây ra tình trạng nhiễm trùng mãn tính, tạo tâm lý lo lắng cho trẻ em và cả cha mẹ.

Các nguyên nhân gây viêm nhiễm vùng kín ở trẻ:

Viêm âm đạo do thiếu nội tiết

Bình thường, sau khi ra đời, các bé gái sẽ nhận được một lượng estrogen từ máu mẹ truyền sang. Lượng nội tiết tố này giúp âm đạo của trẻ tạo được môi trường pH trung tính. Tuy nhiên, một số trẻ nhận được lượng estrogen rất ít, khiến âm đạo khô, dễ bị kích ứng, gây ngứa.

Viêm âm đạo do virus nhóm Poxvirus

Da vùng âm đạo có thể bị nhiễm trùng do một loại virus tên là Poxvirus, thường xảy ra ở trẻ em khoảng 5 tuổi, hoặc nhóm 15 đến 29 tuổi khi bị suy giảm miễn dịch. Âm đạo có thể bị viêm do lây qua tiếp xúc từ nơi khác trên cơ thể mắc bệnh hoặc qua đường tình dục. Thời kỳ ủ bệnh kéo dài 2-7 tuần.

Viêm âm hộ do rối loạn sắc tố

Là một bệnh mãn tính teo da, biểu hiện đặc trưng là có sự mất màu hoặc da đổi sang màu hồng, màu ngà voi tại một điểm ở vùng kín. Với hầu hết trẻ, bệnh thường khởi phát trước 7 tuổi. Khi có kinh, bệnh có thể được cải thiện, mặc dù thường là quá trình bệnh vẫn tiếp tục. Trẻ mắc bệnh này có thể bị teo mất môi lớn và thu hẹp âm vật cũng như thu hẹp lối vào tiền sảnh của âm đạo. Nguyên nhân của bệnh có thể liên quan với rối loạn tự miễn.

Điều trị bổ sung vitamin A kèm theo estrogen

Viêm âm hộ vùng da tiết bã

Căn bệnh này có liên quan với sự có mặt của ban hồng, khu trú từng điểm, có thể nằm trong tam giác mu. Xung quanh âm hộ có thể có vết nứt, nhiễm trùng thứ cấp. Nhiễm trùng thứ cấp do vi khuẩn hay nấm tương đối phổ biến và gây đau, ngứa.

Viêm âm hộ do viêm da dị ứng

Triệu chứng là ngứa dai dẳng, ban đỏ, sẩn cục, nốt phỏng. Trên bề mặt của âm hộ có thể xuất hiện các điểm tróc. Nó cũng có thể xảy ra nhiễm trùng thứ phát do vi khuẩn hoặc nấm.

Viêm âm hộ do bệnh vẩy nến

Bệnh này thường đi kèm với những thay đổi ở các bộ phận khác của cơ thể. Người ta có thể quan sát thấy tổn thương dày, dính, màu bạc xung quanh tam giác mu.

Viêm âm đạo do giun kim

Giun kim là một loại ký sinh trùng đường ruột, có thể mang vi khuẩn vào đáy chậu và gây ra viêm nhiễm thứ phát của âm hộ và âm đạo. Viêm âm hộ và âm đạo phát triển trong khoảng 20% ​​các em gái có có giun kim. Bệnh nhân thường bị ngứa trong khu vực hậu môn.

Viêm âm đạo do chứng bệnh kiết lỵ

Kiết lỵ gây xuất huyết đường tiêu hóa và cũng có lúc gây ra máu ở đường âm đạo.

Dính môi nhỏ

Dính môi nhỏ gặp ở các bé gái từ khoảng dưới 6 tuổi, do thiếu estrogen trong giai đoạn trước tuổi dậy thì, thường biểu hiện ở dạng viêm vùng da môi nhỏ. Nhiễm trùng đường tiểu xảy ra ở khoảng 20-40% bệnh nhân dính môi nhỏ và cần điều trị. Ở tuổi dậy thì, độ pH thay đổi, do đó làm mất xu hướng dính các môi nhỏ.

Các dị vật âm đạo

Dị vật âm đạo gây chảy máu âm đạo ở bé gái. Hội chứng tiết dịch âm đạo và chảy máu âm đạo có thể chỉ ra sự hiện diện của một dị vật. Việc chẩn đoán có thể cần đến X-quang hoặc siêu âm bụng. Các dị vật phổ biến nhất trong âm đạo là giấy vệ sinh.

Vương Linh

Nguồn: http://vnexpress.net/gl/doi-song/2011/04/nhung-benh-vung-kin-hay-gap-o-be-gai/

Có nên dùng kháng sinh khi trẻ bị viêm mũi họng?

Viêm mũi họng là bệnh rất hay gặp ở trẻ dưới 6 tuổi, đặc biệt là khi thay đổi thời tiết. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng cần kháng sinh, đôi khi chỉ cần dùng các thuốc điều trị triệu chứng bệnh lại nhanh khỏi.

Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, tác nhân gây viêm mũi họng ở trẻ có thể do virus hoặc vi khuẩn. Trong đó chủ yếu là do virus với hơn 150 tuýp khác nhau.

Các bác sĩ hoàn toàn có thể dựa vào triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm để phân biệt bệnh do virus hay do vi khuẩn. Ví dụ với bệnh viêm họng - amidan cấp thì tác nhân gây bệnh do virus chiếm đến 70-80%, sau đó là liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A, phó giáo sư Dũng cho biết.

Nếu là do virus, người bệnh có thể có các biểu hiện như: viêm kết mạc, chảy mũi, ho, tiêu chảy, ban dạng virus... Còn nếu do vi khuẩn thì các triệu chứng thường gặp là: sốt trên 38,5 độ C, sưng đau hạch cổ, đau đầu, nốt xuất huyết ở vòm, đau bụng, khởi bệnh đột ngột (dưới 12 giờ), chất xuất tiết ở họng, amidan...

"Nếu là bệnh do virus thì không cần dùng kháng sinh. Thay vào đó, người bệnh chỉ cần dùng các thuốc có tác dụng điều trị triệu chứng. Chẳng hạn, nếu thấy ho thì dùng thuốc long đờm, giảm ho hoặc khi chảy mũi, tắc mũi thì dùng nước muối sinh lý, thuốc co mạch, kháng histamin. Nếu sốt và đau họng thì uống pracetamol và nghỉ ngơi, uống nhiều nước...", phó giáo sư Dũng nói.

Tuy nhiên không phải ai cũng biết điều này hoặc biết nhưng vẫn dùng kháng sinh, ngay cả với bác sĩ. Cũng chính vì thế, việc sử dụng kháng sinh hợp lý trong các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp trên được chọn là một trong những nội dung sẽ được thảo luận tại Hội nghị nhi khoa Việt-Mỹ trong 2 ngày 7-8/4, tại Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội).

Hội nghị lần này có sự tham dự của hơn 500 đại biểu gồm các bác sĩ nhi khoa trên toàn quốc và một số giáo sư đầu ngành trong lĩnh vực nhi khoa của Mỹ.

Nam Phương
Nguồn: http://vnexpress.net/gl/doi-song/2011/04/co-nen-dung-khang-sinh-khi-tre-bi-viem-mui-hong/ , 6/4/2011

Xem tivi nhiều có hại cho trẻ

Những trẻ xem tivi quá nhiều ở độ tuổi thứ hai sẽ đối mặt với nhiều vấn đề trong tương lai như giảm hứng thú học tập, lười vận động cơ thể và dễ bị bạn cùng lớp bắt nạt.

Nhiều nhà khoa học từng nghiên cứu những tác động của việc xem tivi đối với trẻ em, song rất ít người tìm hiểu những tác động đối với trẻ dưới hai tuổi.

Livescience cho biết, các nhà khoa học của Đại học Montreal, Canada thu thập dữ liệu của 1.300 trẻ em tại Quebec, Canada trong khoảng thời gian từ năm 1997-1998. Sau đó họ tiếp tục theo dõi các em trong những năm tiếp theo. Nhóm nghiên cứu hỏi cha mẹ các bé về thời gian con họ xem tivi khi chúng được 29 tháng và 53 tháng.

Khi trẻ học tới lớp 4, nhóm nghiên cứu yêu cầu các giáo viên dạy chúng đánh giá khả năng đọc, làm toán, mức độ chú ý nghe giảng, quan hệ với bạn bè và nhiều khía cạnh khác. Giáo viên cũng đánh giá các tương tác xã hội của trẻ, như hành vi bắt nạt hoặc giúp đỡ học sinh khác.

Kết quả cho thấy thời gian xem tivi trung bình của trẻ ở tháng thứ 29 là 1,2 giờ mỗi ngày. Trong khi đó, Viện nghiên cứu bệnh trẻ em Mỹ khẳng định trẻ em dưới hai tuổi không nên xem tivi, còn trẻ trên hai tuổi chỉ xem tối đa hai giờ mỗi ngày.

Cứ mỗi giờ xem tivi nhiều hơn mức trung bình, trẻ sẽ đối mặt với những nguy cơ sau:

Bị bạn cùng lớp hoặc cùng trường bắt nạt: 10%

Giảm mức độ hoạt động thể chất: 13%

Tăng chỉ số khối lượng cơ thể (tỉ số giữa chiều cao và trọng lượng): 5%

Theo Livescience, kết quả vẫn đúng ngay cả khi các nhà nghiên cứu loại trừ những yếu tố có thể ảnh hưởng như giới tính, thời gian ngủ, trình độ học vấn của mẹ, tính cách của trẻ, thời gian trẻ xem tivi mỗi ngày.

Linda S. Pagani, trưởng nhóm nghiên cứu, cho rằng xem tivi quá sớm và quá nhiều gây nên tác động lâu dài vì nó xảy ra vào giai đoạn mà não và lối sống của trẻ đang phát triển.

“Xem tivi là một hoạt động thụ động cả về trí óc lẫn thể chất. Khi hoạt động ấy xảy ra vào giai đoạn mà bộ não đang phát triển, lối sống và sở thích đang hình thành thì sẽ có nhiều hậu quả tiêu cực xuất hiện trong tương lai”, Pagani nói.

Minh Long
http://www.vnexpress.net/GL/Khoa-hoc/2010/05/3BA1B7F0/
5/5/2010

Thứ Ba, 22 tháng 2, 2011

Những sai lầm khi ngừa còi xương cho trẻ

Khi đưa con đến khám còi xương, nhiều bà mẹ cam đoan với bác sĩ là ngày nào họ cũng cho con tắm nắng nhưng chỉ đưa trẻ đi dưới bóng râm và mặc quần áo dài. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, cách này chẳng có tác dụng gì.

Bác sĩ Lê Quang Hào, Trung tâm tư vấn dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng, cho biết còi xương là bệnh mềm và yếu xương ở trẻ em do cơ thể thiếu hụt vitamin D, ảnh hưởng tới quá trình hấp thu, chuyển hoá canxi và phốt pho, gây biến dạng và gãy xương.

Những trẻ dễ bị còi xương là các bé không được tắm nắng hay được cho ăn bột sớm, ăn bột nhiều (gây ức chế hấp thu canxi). Trẻ đẻ non, đẻ sinh đôi, trẻ không bú mẹ, trẻ quá bụ bẫm, trẻ sinh vào mùa đông cũng dễ bị bệnh này.

Một nguyên nhân khác khiến trẻ còi xương là do chế độ ăn thiếu canxi, phốt pho, vitamin và chất khoáng khác, hoặc mắc một số bệnh đường tiêu hoá làm giảm hấp thu vitamin D3. Một số ít trẻ bị bệnh vì di truyền.

Các triệu chứng của trẻ còi xương:

- Trẻ rối loạn tiêu hóa kéo dài, biếng ăn, ngủ kém, hay giật mình, khi ngủ vặn vẹo, quẫy đạp không yên, dễ bị kích thích, quấy khóc và hay khóc đêm.

- Ra nhiều mồ hôi khi ăn, khi bú mẹ, nhất là khi ngủ (mồ hôi trộm).

- Ngấn thịt xuất hiện ở cổ tay hoặc mắt cá

- Dễ bị táo bón hoặc đi ngoài phân sống.

- Trẻ lớn hơn hay kêu đau bụng, đau một lúc rồi hết, hay kêu đau nhức xương vào chiều tối hoặc ban đêm (hay gặp ở những xương dài như xương cẳng chân).

- Rụng tóc cũng là một triệu chứng hay gặp

Ngoài ra, trẻ bị còi xương thường có các biểu hiện:

- Đầu tiên, xương sọ sẽ bị ảnh hưởng, nhất là vào 3 tháng đầu sau sinh: thóp rộng, bờ thóp mềm, lâu khép kín, có bướu đỉnh, bướu trán.

- Từ tháng thứ 6 đến tháng thứ 12 xuất hiện các nốt ở đầu xương sườn và biến dạng lồng ngực, ngực dô ức gà, xương sườn cong. Sau 1 tuổi, biến dạng sẽ ảnh hưởng lên chi khi trẻ em đã tập đi: cong xương chi dưới hình chữ O, chữ X, đầu gối vẹo ra ngoài.

- Trẻ bị gù vẹo cột sống, khung chậu hẹp, chậm phát triển chiều cao.

- Chậm mọc răng

- Cơ nhẽo, yếu cơ gây chậm vận động như chậm biết lẫy, biết ngồi, biết bò, biết đi.

Khi thấy con có các biểu hiện này, phụ huynh nên đưa trẻ đi khám để được bác sĩ chẩn đoán chính xác tình trạng bệnh và có cách điều trị phù hợp.

Để phòng bệnh còi xương cho trẻ, theo bác sĩ Hào, tốt nhất là bà mẹ thời kỳ mang thai và cho con bú phải ăn uống đầy đủ, uống bổ sung thêm viên sắt, canxi... và nhất là không quên tắm nắng.

- Đối với trẻ em, cho bú mẹ sớm ngay sau khi sinh và bú mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu. Đến tuổi ăn dặm, cần cho bé ăn đầy đủ và cân đối 4 nhóm thức ăn là chất bột, chất đạm, chất béo, vitamin và muối khoáng.

- Các bé sau sinh 1 tháng cần được tắm nắng mỗi ngày 15 phút vào lúc mặt trời mọc (nên trước 9 giờ sáng) và ánh nắng phải chiếu trực tiếp trên bề mặt da mu tay, chân, bụng, lưng, ngực.

- Vào mùa đông, bạn cần cho con uống 1 liều vitamin D3 (200.000 đơn vị) để điều trị dự phòng. Có thể 6 tháng cho trẻ uống nhắc lại một lần.

- Ngoài ra, mẹ có thể uống vitamin D3 một liều 200.000 đơn vị vào lúc thai được 7 tháng.

Minh Thùy

Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011

Món ăn chữa đái dầm

Đông y có nhiều món ăn bài thuốc giúp cải thiện tình trạng đái dầm ở trẻ nhỏ, trong đó một số món khá đơn giản, dễ làm như cháo nhân sâm, nhục quế hầm gan gà...

Cháo nhân sâm: Gạo tẻ 100 g, rang cho nở, sau dùng lửa nhỏ hầm nhừ. Lấy 10 g nhân sâm thái lát mỏng cho vào hầm tiếp là được. Mỗi ngày cho ăn một lần, nên sử dụng thường xuyên.

Đậu đen hầm thịt chó: Thịt chó 150 g, đậu đen 20 g, cho vào nồi đun lửa to cho sôi, hớt bọt cho sạch, hạ lửa riu riu để đến nhừ, cho muối hoặc đường vào, chia ra cho trẻ ăn hết trong ngày. 15 ngày là một liệu trình.

Nhục quế hầm gan gà: Bột nhục quế 3 g, gan gà trống 2 bộ. Cho gan gà vào trong bát có nắp đậy, rắc bột nhục quế lên và đậy nắp bát lại, cho vào nồi đun cách thủy cho đến khi chín. Cho trẻ ăn hết. Cần ăn 10-15 ngày.

Ba kích hầm ruột gà: Ba kích thiên 15 g, ruột gà 2 bộ. Ruột gà rửa sạch, cắt khúc cho vào nồi cùng ba kích thiên, đổ 2 bát nước, sắc còn 1 bát, cho thêm ít muối. Ăn cái uống canh, cho trẻ ăn ngày một lần trong 10 ngày.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Bài đăng phổ biến