Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc Tây. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc Tây. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011

Chăm sóc mắt hàng ngày với Vitamin B

Vitamin nhóm B là loại vitamin rất cần thiết để duy trì hoạt động của thần kinh thị giác, giúp chống lại một số bệnh về mắt. Ngoài chế độ nghỉ ngơi, dinh dưỡng cần thiết cho đôi mắt, bạn nên dùng thuốc nhỏ mắt có chứa vitamin B để chăm sóc mắt hằng ngày

Sống và làm việc trong môi trường ô nhiễm như hiện nay, đôi mắt nhạy cảm của bạn rất dễ bị tổn thương. Các tác nhân gây hại cho mắt có thể kể đến là: tia tử ngoại UV, ánh sáng chói lòa, hóa chất, các tác nhân trực tiếp hay gián tiếp hoặc vật thể lạ... Chính vì thế, đôi mắt rất cần được chăm sóc và nuôi dưỡng đặc biệt hằng ngày để luôn khỏe mạnh với thời gian. Hãy cùng theo dõi phần tư vấn của bác sĩ nhãn khoa Nguyễn Hoàng Cẩn để trang bị cho mình những kiến thức chăm sóc mắt cần thiết.

Chăm sóc mắt từ bên ngoài

Theo bác sĩ Nguyễn Hoàng Cẩn, có nhiều cách chăm sóc mắt nhưng có thể phân loại ra thành hai dạng: chăm sóc từ bên ngoài và chăm sóc từ bên trong. Cách chăm sóc từ bên ngoài có thể kể đến như bảo vệ mắt bằng kính, giữ vệ sinh cho mắt.

Bảo vệ mắt bằng kính có thể loại trừ được các tác hại của các tia sáng, tia cực tím có hại cho mắt và giúp tránh tình trạng cát, bụi hay vật lạ rơi vào mắt.

Giữ vệ sinh cho mắt rất cần thiết để bảo vệ mắt khỏi sự viêm nhiễm có hại gây ra bởi sự ô nhiễm, hóa chất hoặc vi khuẩn có trong không khí. Khi đi làm hay đi chơi về, bạn nên rửa mắt bằng nước sạch ngay. Đối với các bạn nữ có sử dụng mỹ phẩm như mascara hay phấn mắt, cần phải rửa mi mắt thật sạch vì các hóa chất này có thể gây kích thích mắt gây viêm mi, dị ứng mắt hay nặng hơn có thể làm nhiễm trùng mắt. Đối với những bạn sử dụng kính sát tròng, cần phải tuân thủ đúng quy trình đeo và bảo quản, vệ sinh kính tiếp xúc cũng như giữ vệ sinh cho đôi mắt của bạn.

Ngoài ra, tất cả những triệu chứng bất thường do đeo kính tiếp xúc như mắt cộm, khô, khó chịu hay đỏ mắt... thì cần phải đi khám để tránh những hậu quả đáng tiếc như nhiễm trùng, loét giác mạc hay các biến chứng của việc sử dụng kính tiếp xúc không đúng cách.

Chăm sóc mắt với vitamin B

Chăm sóc mắt từ bên trong là việc làm rất cần thiết để có đôi mắt thực sự khỏe và đẹp. Ngoài chế độ nghỉ ngơi, dinh dưỡng cần thiết cho đôi mắt, bạn nên dùng thuốc nhỏ mắt có chứa vitamin B để chăm sóc mắt hàng ngày. Thuốc nhỏ mắt chứa vitamin B không chỉ có tác dụng vệ sinh mắt, tránh tình trạng gây kích thích mắt, đỏ mắt mà còn làm giảm mỏi mắt sau một ngày làm việc căng thẳng. Riêng vitamin nhóm B là loại vitamin rất cần thiết để duy trì hoạt động của thần kinh thị giác, giúp chống lại một số bệnh về mắt, cụ thể là:

- Vitamin B5 (panthenol): Là một trong các acid pantothenic thuộc vitamin nhóm B. Vitamin B5 rất cần thiết để giữ cho mắt được khỏe mạnh và gia tăng sự trao đổi chất ở mắt, gia tăng tác dụng làm lành mô, đặc biệt những bệnh thuộc về mắt như mềm củng mạc, loét củng mạc, mất biểu mô củng mạc lặp đi lặp lại nhiều lần, tác dụng chống lại những vi khuẩn gây bệnh, làm giảm và ngăn chứng mỏi mắt.

- Vitamin B6 (Pyridoxine Hydrochloride): Có liên quan mật thiết tới sự chuyển hóa các amino acid, đặc biệt là tryptophan. Pyridoxine hydrochloride làm giảm tình trạng mỏi mắt, có tác dụng kích hoạt hô hấp mô.

- Vitamin B12 (Cyanocobalamin): Gia tăng sự trao đổi chất ở trong mắt và giúp mắt hồi phục mệt mỏi.

- Vitamin B1, vitamin B2 và vitamin B3 đều có thể bảo vệ mắt khỏi bệnh cườm mắt.

Duy trì đôi mắt tinh anh, khỏe mạnh là ước muốn của mọi người. Để có thể làm được việc đó, bạn nên bắt đầu từ hôm nay và hãy tạo thành thói quen hằng ngày vì ai cũng biết đôi mắt là “công cụ” duy nhất giúp bạn chiêm ngưỡng được vẻ đẹp hiện thực của thế giới.

(24H.COM.VN)

Sai lầm thường gặp khi dùng kháng sinh

Thuốc kháng sinh được ví là "của để dành", con dao 2 lưỡi. Tuy nhiên nhiều người bệnh ngay cả bác sĩ cũng đang lạm dụng nó, bệnh gì cũng dùng kháng sinh, mà không lường trước hết được hậu quả khôn lường.

Theo một khảo sát mới đây của Bệnh viện Bạch Mai, đối với trẻ dưới 3 tuổi, có tới 90% nhiễm trùng hô hấp trên (viêm mũi họng, viêm họng, viêm tai) là do virus và không cần điều trị bằng kháng sinh. Nhưng thực tế đa số các em nhỏ vẫn đang phải dùng rất thường xuyên loại thuốc này.

Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, không chỉ người dùng mà ngay cả bác sĩ nhiều khi cũng kê đơn sai, lạm dụng kháng sinh. Trong khi, kháng sinh là con dao 2 lưỡi, nếu dùng đúng thì có tác dụng tốt. Còn ngược lại, người bệnh có thể gánh những hậu quả khôn lường.

Theo phó giáo sư, một số sai lầm thường gặp khi dùng kháng sinh là:

1. Tự ý dùng thuốc kháng sinh

Bản chất con người không cần thuốc hằng ngày, chỉ cần khi có bệnh. Vì thế, trước hết phải xem bệnh nặng hay nhẹ, có cần thiết phải dùng kháng sinh hay không. Hơn nữa, nếu là bệnh do virus thì có uống bao nhiêu thuốc khác sinh cũng không có tác dụng. Bệnh không khỏi, người lại mệt mỏi hơn.

Khi không cần mà uống vào thì cơ thể mất công thải ra (ở đây là gan, thận). Nhưng trong một số trường hợp có thể gây hại, chất không cần thiết lại vào cho vào, đôi khi ảnh hưởng đến chức năng gan, thận. Không những thế, kháng sinh đưa vào người là để diệt vi khuẩn gây bệnh, nhưng nếu không có nó diệt cả vi khuẩn không gây bệnh, vi khẩn có lợi, gây tiêu chảy, rối loạn tiêu hóa. Viêm ruột do kháng sinh có trường hợp chảy máu, thậm chí tử vong.

2. Dùng kháng sinh liều cao, nhiều loại cho nhanh khỏi

Đúng là bệnh sẽ khỏi nhanh hơn. Tuy nhiên, cần phải biết khi phối hợp với nhau. liều cao thì cũng sẽ tỷ lệ thuận với nguy cơ gặp tác dụng phụ. Kháng sinh lại là con dao 2 lưỡi, nó có tác dụng phụ như: dị ứng, nhẹ thì ngứa ngáy khó chịu, nổi ban, nặng có thể dẫn đến tử vong, sốc phản vệ. Phản ứng phụ gây dị ứng thì ai cũng có thể thấy nhưng điều không phải ai cũng thấy đó là tiêu chảy và tình trạng kháng thuốc.

Trong đó có lẽ đáng sợ nhất là tình trạng kháng thuốc. Gần đây, nhiều chuyên gia còn lo ngại vi khuẩn kháng thuốc này có thể lây sang cho người khác. Kháng sinh được ví như "của để dành", dùng khi bệnh nặng, nếu cứ lạm dụng nó thì sẽ đến lúc ngay cả vũ khí cuối cùng này cũng không thể cứu được.

Điều quan trọng nữa là loại thuốc dùng kèm có ảnh hưởng gì không. Thuốc cùng dùng có thể làm tăng hoặc giảm tác dụng của nhau vì thế có khi đơn ít thuốc lại nhanh khỏi.

3. Thấy đỡ bệnh là thôi không dùng

Chưa dùng hết liều kháng sinh nhưng người bệnh đã cảm thấy khỏe hơn, triệu chứng bệnh không còn hoặc giảm hẳn. Nghĩ đã khỏi nhiều người liền bỏ thuốc. Tuy nhiên khi đó vi khuẩn có thể mới chỉ bị tiêu diệt một phần, bị yếu đi chứ chưa bị loại trừ hoàn toàn. Vì thế, nếu bỏ thuốc, rất có thể chúng sẽ phục hồi lại và tiếp tục gây bệnh.

Một nguyên tắc quan trọng khi sử dụng kháng sinh là phải đúng liều, cao hoặc thấp quá đều không được. Có loại chỉ dùng một liều duy nhất, có loại uống 3 ngày, 5 ngày, 10 ngày, một tháng mới được gọi là đủ liều. Chính vì thế việc uống kháng sinh bao nhiêu ngày mới đủ phụ thuộc vào chỉ định của bác sĩ.

Bên cạnh đó, liều uống giờ đây cũng thay đổi, không cổ điển như trước nên nếu bác sĩ không cập nhật kiến thức thì có thể dẫn đến dùng sai liều.

4. Đã dùng kháng sinh thì phải dùng loại xịn

Dùng kháng sinh thế hệ mới, hiệu quả điều trị bệnh thường mạnh hơn, nhanh hơn vì chúng nhạy cảm với nhiều loại vi khuẩn hơn kháng sinh cũ. Tuy nhiên, nó được xem là thứ vũ khí cuối cùng cho người bệnh trong rất nhiều tình huống nguy cấp.

Vì thế, người bệnh không nên lãng phí để tránh hậu quả đáng tiếc. Có không ít trường hợp, bác sỹ đành bó tay nhìn bệnh nhân qua đời vì tất cả các loại kháng sinh mới nhất, mạnh nhất, đắt nhất đều đã bị vô hiệu hóa.

5. Không đỡ thì đổi thuốc

Kháng sinh cũng giống như nhiều loại thuốc cần có thời gian nhất định để phát huy tác dụng, chứ không thể vừa uống, bệnh đã khỏi. Nhiều cha mẹ cho con uống thuốc chưa hết liều nhưng thấy con không có dấu hiệu thuyên giảm thì yêu cầu bác sĩ đổi thuốc ngay. Điều này là không nên, tránh gây nhờn thuốc.

Nếu thuốc không có tác dụng thì cần xem xét đến các khía cạnh như: đã tuân thủ đúng liều chưa, việc chẩn đoán, kê đơn đã đúng bệnh chưa, khả năng đáp ứng thuốc của cơ thể...

Nam Phương

Nguồn: http://vnexpress.net/gl/doi-song/2011/03/sai-lam-thuong-gap-khi-dung-khang-sinh/

Đã có loại viên nén sủi bọt hỗ trợ cho tiêu hóa

Những vấn đề về tiêu hóa biểu hiện như: táo bón, chướng bụng, đầy hơi, khó tiêu ngày càng trở nên phổ biến hơn với con người trong xã hội hiện đại.

Nguyên nhân là do chịu ảnh hưởng của thói quen ăn uống sinh hoạt bị xáo trộn, căn bệnh dạ dày, những biểu hiện stress căng thẳng…khiến hệ tiêu hóa của chúng ta ngày một kém đi. Những chứng táo bón, chướng bụng, đầy hơi, khó tiêu không chỉ gây nên cảm giác khó chịu, phiến toái mà còn làm giảm cảm giác ngon miệng khi ăn uống của nhiều người. Các triệu chứng về đường ruột nói trên là do trong hệ tiêu hóa bị thiếu hoặc kém loại men vi sinh sống Lactobacillus acidophilus, Bifidobacterium bifidum - đây là loại men giúp cân bằng hệ tiêu hóa, kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh. 



Nhiều sản phẩm hỗ trợ tiêu hóa, làm giảm những triệu chứng khó chịu về tiêu hóa được biết trên thị trường Việt Nam chủ yếu ở dạng đóng gói hoặc dạng viên. Tuy nhiên, do một vài bất tiện của hai dạng này mà nhiều người ít hoặc không thường xuyên sử dụng, nếu sử dụng thì dùng như một loại thuốc chữa bệnh lâu dài, và uống theo quy định nhất định. Để điều trị các vấn đề khó chịu về tiêu hóa như trên, người tiêu dùng trên thế giới đã có xu hướng sử dụng sản phẩm ở dạng viên sủi - vừa tiện lợi, vừa có tác dụng nhanh, giống như việc sử dụng phổ biến các loại viên sủi chữa bệnh và giảm các triệu chứng khác.

Hiện nay thực phẩm chức năng Effidigest được công ty Hóa dược Đông Á nhập khẩu từ Pháp là sản phẩm duy nhất đóng dưới dạng viên nén sủi bọt, có hương vị thơm dịu, dễ uống và hiệu quả ngay sau khi uống. Cho nên, bất cứ khi nào có biểu hiện như chướng bụng, đầy hơi, khó tiêu, táo bón thì viên sủi Effidigest có thể nhanh chóng giúp bạn khắc phục triệu chứng đó. Sản phẩm có chứa men vi sinh sống Lactobacillus acidophilus, Bifidobacterium bifidum, dịch chiết xuất lúa mạch, dịch chiết xuất đu đủ, dịch chiết xuất dứa – là những thành phần quan trọng giúp cân bằng hệ tiêu hóa, hỗ trợ điều trị và tái tạo lớp thành ruột khỏe mạnh, giúp phòng ngừa táo bón, chướng bụng, đầy hơi khó tiêu, bổ sung vi khuẩn có ích, thiết lập trạng thái cân bằng vi khuẩn đường ruột. Hơn nữa, viên nén sủi bọt Effidigest còn kích thích tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất, giúp ăn ngon miệng. Sản phẩm cũng có tác dụng trong việc hỗ trợ điều trị tiêu chảy.

Là dạng viên nén sủi, nên sản phẩm rất dễ sử dụng. Sau mỗi bữa ăn hoặc khi có những triệu chứng không tốt về tiêu hóa, hòa tan 1 viên sủi với 1 ly nước và sử dụng. Sản phẩm dùng cho người lớn và trẻ em trên 7 tuổi.

Nhà phân phối sản phẩm: Công ty TNHH Hóa dược Đông Á
Hà Nội: 34/2 Nguyên Hồng – P. Lánh Hạ - Q. Đống Đa
ĐT: 043. 773.1716
TP. Hồ Chí Minh: 273 Phan Xích Long – P.7 – Q. Phú Nhuận
ĐT: 083. 517 4357

(24H.COM.VN)

Thứ Hai, 21 tháng 2, 2011

Tác hại của thiếu và thừa vitamin A, D

Hai loại vi chất trên rất cần thiết cho cơ thể, song nếu bổ sung không thích hợp có thể gây nguy hiểm. Thừa vitamin A sẽ sinh đau xương khớp, còn thiếu vitamin D dễ dẫn đến gây còi xương.

Vitamin A là thành phần thiết yếu của sắc tố võng mạc nên rất quan trọng đối với mắt. Ngoài ra, nó còn giúp giữ toàn vẹn lớp tế bào biểu mô bao phủ bề mặt và các khoang trong cơ thể

Thiếu vitamin A sẽ gây khô da ở màng tiếp hợp, giác mạc, nặng hơn sẽ làm thủng giác mạc và dẫn đến mù lòa. Nó còn gây sừng hóa nang lông, bề mặt da thường nổi gai, làm giảm tốc độ tăng trưởng và sức đề kháng của cơ thể với bệnh tật.

Thừa vitamin A sẽ gây đau bụng, buồn nôn, bơ phờ, chậm chạp, phù gai thị, bong da toàn thân. Ngộ độc có thể xảy ra khi uống trên 40.000 đơn vị mỗi ngày, gây đau xương khớp, rụng tóc, môi khô nứt nẻ, chán ăn, gan lách to. Đối với phụ nữ mang thai 3 tháng đầu, nếu dùng quá 10.000 đơn vị vitamin A mỗi ngày có thể khiến thai nhi dị dạng. Beta caroten - một tiền tố của vitamin A có hoạt tính cao nhất - có thể làm vàng da, nhất là ở gan bàn tay, chân. Nhu cầu hàng ngày về vitamin A ở trẻ em là 400mcg và người trưởng thành là 600mcg.

Vitamin D - Ergocan-xiferol D2, Cholecan-xiferol D3

Vitamin D giúp điều hòa sự chuyển hóa canxi và phospho trong cơ thể, làm tăng hấp thu và đồng hóa canxi tới 50-80% nhu cầu cần thiết cho quá trình cốt hóa. Vitamin D3 hoạt động mạnh hơn vitamin D2 với tỷ lệ 4:3.

Thiếu vitamin D dẫn đến còi xương. Đối với trẻ dưới 2 tuổi, thiếu vitamin D sinh rối loạn ban đầu không điển hình như dễ bị kích thích, ra mồ hôi, sau đó làm chậm mọc răng, mềm xương sọ, dễ bị co giật. Khi trẻ biết đứng sẽ dễ cong cột sống, chân vòng kiềng.

Thừa vitamin D, đặc biệt D2, D3 có liều cao gấp hàng nghìn lần liều chuẩn có thể gây ngộ độc. Các triệu chứng hay gặp là kém ăn, buồn nôn, tiểu nhiều, ngừng lớn, xanh xao, đôi khi gây co giật, khó thở.
Vitamin A - Gan gà: 6.960mcg - Cà rốt: 5.040mcg - Gan lợn: 6.000mcg - Đu đủ chín: 2.100mcg - Trứng vịt lộn: 875mcg - Rau ngót: 6.650mcg - Lươn: 1.800mcg - Rau dền: 5.300mcg

Lượng vitamin D trong một số thực phẩm- Sữa mẹ 2-4 đơn vị/100g (mùa hè) và 0,3-2 đơn vị/100g (mùa đông). - Sữa bò 4 đơn vị - Trứng 50-200 - Lòng đỏ trứng 300 - Gan bò 100 - Gan lợn 90 - Gan cá thu 500-1.500

Bác sĩ Phạm Thị Thục, Sức Khỏe & Đời Sống

Thừa vitamin A gây hại xương



Những người bổ sung trên 5.000 IU vitamin A mỗi ngày có mật độ chất khoáng xương thấp hơn 10% so với người dùng chất này vừa phải. Nguy cơ gãy cổ xương đùi ở họ cũng tăng gấp đôi so với người dùng vitamin A với liều chỉ bằng 1/3.

Lâu nay, người ta thường chú ý đến các tai biến do thừa vitamin A như chán ăn, nôn, sút cân, gây dị tật cho thai, còn tai biến cho xương được ghi nhận nhưng chưa được giải thích, chứng minh. Những năm gần đây, điều này đã được làm rõ trong các nghiên cứu lâm sàng và dịch tễ.

Acid retinoic (một chất chuyển hóa có hoạt tính của vitamin A) kích thích sự hình thành và hoạt động của tế bào hủy xương (hủy cốt bào) dẫn đến tăng sự tiêu xương và hình thành xương màng. Việc tăng tiêu xương dẫn đến giảm mật độ chất khoáng xương, làm cho xương giòn, kém dẻo dai, sức chịu lực kém nên dễ gãy. Việc hình thành xương màng gây nên phì đại xương. Hiện tượng này thường xảy ra ở xương đốt bàn tay, đốt bàn chân, các xương ống khác như xương trụ, xương chày, xương mác.

Các nghiên cứu cho thấy những người bổ sung quá nhiều vitamin A có mật độ chất khoáng xương thấp hơn, nguy cơ gãy cổ xương đùi cao hơn người bình thường. Thực tế cho thấy, người vùng Bắc Âu bổ sung vitamin A cao gấp 6 lần người Nam Âu và tỷ lệ gãy xương đùi cũng cao hơn.

Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, nếu bổ sung vitamin A mỗi ngày khoảng 2.000-2.800 IU thì mật độ khoáng xương đạt đến mức lý tưởng. Bổ sung cao hơn hay thấp hơn mức này đều không có lợi cho xương.

Từ đó, có thể rút ra kết luận: Đối với người già hay người bị loãng xương, không nên bổ sung thường xuyên vitamin A, không nên ăn quá nhiều các loại thực phẩm giàu chất này. Ở trẻ em và thanh niên, việc thiếu vitamin A sẽ gây quáng gà, khô giác mạc, loét giác mạc, mù, tăng sừng hóa, khô da... nên có thể bổ sung nhưng không nên lạm dụng. Tốt nhất nên bổ sung dưới dạng tiền vitamin A (beta caroten) sẽ an toàn hơn.

Vitamin A (retinol) có nhiều trong gan, thận, sữa. Còn tiền vitamin A (beta caroten) có nhiều trong thực vật (củ cà rốt, màng hạt gấc...).

Nếu cần bổ sung vitamin A (bằng ăn uống hay dùng thuốc), nên theo liều khuyến cáo mỗi ngày với nam là 3.000 IU, nữ 2.300 IU. Nếu không có bệnh tật gì về đường tiêu hóa, mức ăn uống bình thường là đã đủ hoặc ít nhất cũng đảm bảo được 50% nhu cầu vitamin A. Chất này chỉ thiếu khi thức ăn quá nghèo hay hấp thu kém, hoặc khi nhu cầu tăng (bị bệnh về mắt, bị bỏng...).

Đối với trẻ đã uống vitamin A trong chương trình bổ sung vi chất dinh dưỡng (6 tháng một lần) thì không cần dùng thêm bất cứ loại thuốc chứa vitamin A nào nữa.

Theo DS. Hà Quảng, Sức Khỏe & Đời Sống

Bài đăng phổ biến