Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh ở mắt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh ở mắt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 12 tháng 5, 2011

Cận thị, viễn thị, loạn thị (3 bài)

Bài 1. Cận thị, viễn thị, loạn thị: ba tật khúc xạ của mắt


A. Đaị cương

Cận, viễn, loạn thị là các tật khúc xạ của mắt. Khi mắt nhìn một vật thì ánh sáng từ vật đó sẽ xuyên qua không khí, qua các môi trường trong suốt của mắt (giác mạc, thể thủy tinh, dịch kính ) đến võng mạc cảm thụ ánh sáng. Các môi trường trong suốt này có các chỉ số khúc xạ khác nhau, nhưng chúng ta có thể đơn giản hóa: Khúc xạ con mắt như một thấu kính hình cầu có đường kính 5,7mm, tiêu cự sau F , = 22,9mm, công suất hội tụ + 58,2 đi-ốp.


I. Mắt chính thị

Là mắt có cấu tạo hài hòa giữa chiều dài trước sau của nhãn cầu và công suất hội tụ của mắt. Khi đó ảnh cuả một vật ở vô cực (quang sinh lí là 5m) sẽ hội tụ đúng trên võng mạc. Nghĩa là tiêu điểm sau trùng với võng mạc. Lúc đó người ta sẽ thấy ảnh rõ nét.

II. Mắt cận thị

Là mắt có công suất khúc xạ quá mạnh so với chiều dài nhãn cầu, vì thế các tia sáng song song vào mắt sẽ hội tụ trước võng mạc. Nói cách khác, mắt cận thị có tiểm sau trước võng mạc. Ảnh sẽ mờ đi.



Có 2 loại cận thị

Cận thị trục (cận thị đơn thuần) như đã nói trên, là sự mất quân bình giữa chiều dài của mắt và lực khúc xạ của nó. Nhưng 2 chỉ số nầy vẫn nằm trong giới hạn bình thường. Đây là loại cận thị thường gặp, bắt đầu ở lứa tuổi đi học, nhỏ hơn 6 độ, không có những tổn thương thực thể ở mắt.

Cận thị bệnh lí: chiều dài của mắt quá giới hạn bình thường. Cận trên 6 độ có thể 20 – 30 độ. Có những tổn thương, hư biến ở mắt, có tính di truyền.

III. Mắt viễn thị

Là mắt có có công suất khúc xạ kém so với chiều dài của mắt, vì thế các tia sáng vào mắt sẽ hội tụ sau võng mạc. Nghĩa là tiêu điểm sau nằm sau võng mạc. Nhìn vật thấy mờ, không rõ nét.

Nguyên nhân phổ biến của viễn thị là trục nhãn cầu ngắn. Ở trẻ em mới sinh thường có một độ viễn thị nhẹ từ 2 – 3 độ. Trong quá trình phát triển cùng với sự trưởng thành của cơ thể, nhãn cầu cũng dài thêm ra, mắt sẽ trở thành chính thị. Nếu sự phát triển này không trọn vẹn sẽ gây nên viễn thị.

IV. Mắt loạn thị

Là mắt có hệ quang học không phải là lưỡng chất cầu. Nghĩa là bề mặt giác mạc không phải đồng nhất hình cầu mà có những kinh tuyến với các đường kính khác nhau. Do đó ảnh của một điểm qua hệ quang học nầy không phải một điểm mà là một đường thẳng. Như vậy sự khác nhau giữa viễn thị và loạn thị là sự khác nhau về khúc xạ. Mắt Viễn thị là mắt có khúc xạ lường chất cầu. Còn mắt loạn thị không phải cầu mà có thể coi như nhiều kính trụ chồng lên nhau. Mắt loạn thị có thể đi cùng với cận và viễn thị. Điều chỉnh kính cho mắt loạn thị phức tạp hơn so với mắt cận và viễn.

B. Triệu chứng

Triệu chứng chung của tật khúc xạ là nhìn xa không rõ. Hay mỏi mắt, nhức đầu. Đối với trẻ em, khi thấy các triệu chứng: nhìn chữ trên bảng không rõ, hay nheo mắt, cầm sách đọc quá gần, hay đỏ mắt, kèm với hay than nhức mỏi mắt, nhìn mờ là rất có thể trẻ đã bị tật khúc xạ, cần phải cho trẻ đi khám ngay.

C. Điều trị

Hiện nay có 3 phương pháp để điều trị tật khúc xạ

Cách 1: Đeo kính gọng : là phương pháp đơn giản, ít tốn kém và an toàn nhất. Nó được chỉ định cho mọi lứa tuổi. Tuy nhiên đối với trẻ em nhỏ hơn 5 tuổi, việc xác định chính xác tật khúc xạ của trẻ phaỉ nhờ vào các phương pháp khám khúc xạ khách quan. Bạn nên đưa trẻ đến các bệnh viện có khoa Mắt để được khám chính xác. Tại đó, bác sĩ sẽ nhỏ thuốc liệt điều tiết (trẻ sẽ mờ vài ngày) sau đó sẽ dùng phương pháp soi bóng đồng tử để xác định tật khúc xa. Phương pháp này có giá trị đặc biệt ở trẻ em, người câm, người không trả lời chính xác.

Cách 2: Mang kính tiếp xúc (contactlens): Trong trường hợp không muốn mang kính gọng, không muốn hoặc không có chỉ định mổ, có thể mang kính tiếp xúc.

Cách 3: Phẫu thuật : Được chỉ định cho những trường hợp vì lí do nghề nghiệp hay lí do gì đó mà không muốn mang kính gọng hoặc kính tiếp xúc. Hiện nay phương pháp mổ bằng laser (LASIK) cho kết quả rất tốt.Tuy phương pháp này chỉ được áp dụng cho trẻ lớn hơn 18 tuổi khi mà độ khúc xạ của trẻ ổn định.

D. Dự phòng tật khúc xa chọ trẻ em

Đọc sách phaỉ đủ ánh sáng. Không nên để chói mắt.
Không được ngồi quá gần màn hình tivi, xem tivi quá lâu.
Nên vui chơi giải trí, thể dục ngoài trời haì hoà với việc học tập.
Thức ăn hằng ngày phải đủ dinh dưởng gồm thịt, cá, dầu, các loaị đậu, hoa quả, rau xanh.

Nguồn : http://www.nhattanhospital.com.vn

Bài 2. Khi nào cần mổ cận thị, viễn thị, loạn thị?



Người bị cận thị, viễn thị, loạn thị thường đến cơ sở y tế để mổ lasik. Nhưng không phải ai muốn mổ cũng được và có những trường hợp sau mổ lại phải mang kính... Tại sao? BS Nguyễn Hữu Chức - phó khoa mắt BV Chợ Rẫy - cho biết:

- Hiện nay phẫu thuật bằng laser excimer (phương pháp lasik) được coi là hiệu quả nhất. Tùy theo cận thị, viễn thị hay tật khúc xạ khác, người ta dùng năng lượng (tia) laser để làm thay đổi công suất quang học của giác mạc. Được chỉ định cho các trường hợp cận thị từ -1D đến - 20D, viễn thị từ +1 đến +10 D, loạn thị từ 1D đến 7 D, lão thị theo phương pháp PAC (Pseudo Accomodative Cornea). Bệnh nhân (BN) mổ cận thị phải trên 18 tuổi, có độ cận ổn dịnh.

Chống chỉ định trong các trường hợp: đang có các bệnh cấp hoặc mãn tính tại mắt như viêm kết mạc, viêm giác mạc, viêm màng bồ đào, glaucom, giác mạc hình nón; có các bệnh lý toàn thân ảnh hưởng đến phẫu thuật, đang có thai hoặc trong thời kỳ cho con bú vì trong giai đoạn này có thể sẽ ảnh hưởng làm thay đổi mức độ điều chỉnh sau mổ.

* Vì sao một số trường hợp sau mổ cận thị vẫn phải mang kính?

- Đó là do cận thị quá nặng, khả năng điều chỉnh bằng phẫu thuật không hết. Do chiều dày giác mạc không cho phép điều chỉnh hoàn toàn độ khúc xạ. Ở BN cận trên 7 diop có thể thay đổi độ cận suốt đời, nhưng sau mổ độ cận có thể vẫn cứ thay đổi. Trên BN có giác mạc hình chóp hoặc độ dày giác mạc không cho phép thì cũng không có chỉ định mổ. Vì vậy cần sự nghiêm túc, đúng đắn của thầy thuốc, phải khám thật chính xác trước mổ và tư vấn một cách đầy đủ, trách nhiệm cho người bệnh.

* Có BN bị lóa mắt sau mổ lasik nên gặp khó khăn khi đọc sách?

- Thời gian đầu sau mổ nếu bị lóa mắt, BN nên mang kính mát. Ban đêm cũng mang kính màu nhạt hơn. Hiện tượng lóa mắt này sau 3-6 tháng có thể mất đi hoặc BN đã thích nghi được. Tuy nhiên lóa mắt chỉ xảy ra đối với các máy phẫu thuật lasik thế hệ cũ.

Tại BV Chợ Rẫy vừa hình thành đơn vị phẫu thuật khúc xạ laser excimer, chính thức đi vào hoạt động giữa tháng 7-2006. Máy laser EC -5000 CXIII mới sản xuất năm 2005 với hệ thống phần mềm có nhiều ưu điểm xử lý trong lão thị, loạn thị và các tật khúc xạ kết hợp. Sau khi nạp các thông tin của BN vào máy, máy sẽ cho các thông số về chiều dày giác mạc, mức độ phẳng của giác mạc, tìm được các trục trên mắt loạn thị...

Từ đó máy lên chương trình phẫu thuật rất chính xác, khắc phục được những khiếm khuyết của các thế hệ máy trước, đặc biệt là giảm tối đa hiện tượng lóa mắt sau mổ.

Nhân đây tôi cũng xin có lời khuyên với các bạn trẻ hãy gìn giữ đôi mắt của mình. Hiện nay ở lứa tuổi học sinh cấp I, II bắt đầu mắc cận thị nhiều nhất, đặc biệt ở thành thị cao hơn ở nông thôn. Tốt nhất là nên phòng ngừa bằng cách: phòng học phải đủ ánh sáng, ghế và bàn cân đối với chiều cao của học sinh. Khi đọc sách không nên để quá gần mắt (dưới 35cm), tư thế khi đọc sách phải đúng (không nên nằm). Không ngồi trước màn hình vi tính hoặc tivi quá lâu (trên một giờ)...

Theo Tuoi tre

Bài 3. ĐIỀU TRỊ CẬN THỊ, VIỄN THỊ, LOẠN THỊ



BS. NGUYỄN CƯỜNG NAM, 8/11/2003


PHẦN I: PHẪU THUẬT HAY KHÔNG PHẪU THUẬT?

Vào khoảng từ 10 đến 15 năm nay, với những cuộc cách mạng về tin học thì cũng có những cuộc bùng nổ về phẫu thuật khúc xạ đã giúp ích cho hàng triệu người trên thế giới thoát khỏi tật khúc xạ. Sự gia tăng này được xem là một niềm phấn kích cho các nhà sáng tạo ra cũng như các chuyên khoa nhãn khoa. Các bác sĩ nhãn khoa ngày càng học hỏi nhiều về phẫu thuật khúc xạ và điều chính cần phải biết khuynh hướng của quần chúng ưa thích phẫu thuật ra sao và sự chọn lọc phẫu thuật nào thích hợp trong số hàng ngàn người bệnh với các độ khúc xạ rất khác biệt nhau.

Có khoảng 12 hình thái kết hợp khác nhau của các tật khúc xạ, trong số đó cận thị chiếm khoảng 25% số người lớn trên toàn thế giới như bảng 1 cho biết tình trạng khúc xạ trên toàn nước Mỹ.

Đã có rất nhiều nghiên cứu cho biết tỷ lệ cận thị tăng cao ở giới trí thức, ngoài ra tỷ lệ này lại cao hơn các nước châu Á như Đài Loan và Hồng Kông. Ở TPHCM trong một nghiên cứu mới đây của Hội Nhãn khoa TP cho thấy tỷ lệ này rất cao ở các trường đại học, các trường chuyên cấp III, và ở trên thế giới thì tỷ lệ cận thị mới đây cũng cao hơn so với trước kia như ở Mỹ và châu Á.

Người ta nghĩ rằng tần suất cận thị tăng cao 1 phần là do yếu tố môi trường như làm việc gần mắt nhiều và việc đeo kính.

Hướng dẫn về phẫu thuật khúc xạ

Hiện nay có rất nhiều phương pháp phẫu thuật và mỗi loại phẫu thuật lại thích hợp với 1 loại độ khúc xạ nào đó, mỗi phương pháp đều có những ưu khuyết điểm riêng tùy theo độ khúc xạ và cũng tùy thuộc vào người bệnh.

Ở Việt Nam hiện nay có 3 phương pháp phẫu thuật
Phẫu thuật rạch giác mạc bằng dao kim cương đã có từ 1990
Phương pháp mổ bằng Laser (mới có) với 2 kỹ thuật:
PRK
LASIK

Với 3 kỹ thuật mổ trên thì LASIK có ưu thế hơn nhiều, tuy nhiên không phải bất cứ người bị cận thị nào cũng có thể mổ được bằng LASIK, có khi cần phải mổ bằng PRK hay rạch giác mạc bằng dao kim cương.

Ngoài ra cũng tùy thuộc vào giá cả của mỗi phương pháp có phù hợp với túi tiền của người bệnh hay không.

Thí dụ 1 người bệnh cận thị 3 - 4 độ có thể mổ được cả 3 phương pháp nói trên.

Việc chọn phương pháp nào lại tùy thuộc vào người bệnh, căn cứ trên một số các yếu tố như động cơ đi mổ: vì công việc, vì thẩm mỹ, vì nghề nghiệp với kết cục của phẫu thuật và tiền căn của người bệnh v.v... Quyết định này có liên quan đến việc suy tính lợi hại, những cái được và những nguy cơ có thể xảy ra của từng trường hợp người bệnh và khả năng tài chính của họ.

Thí dụ với người trẻ độ cận 6 độ thì mổ LASIK là tốt nhất. Nhưng với người chơi thể thao hoạt động nhiều như đánh quần vợt hay quyền anh thì mổ PRK hơn là LASIK vì LASIK có thể bị lệch vạt khi bị đụng chạm mặc dù là rất hiếm. Vì vậy khi quyết định mổ phương pháp nào cần phải thảo luận rất kỹ với phẫu thuật viên để hiểu rõ từng phương pháp sao cho phù hợp với mình.

Điều trị không phải mổ: Dùng kính

Người ta chưa biết rõ người phát minh ra kính đầu tiên là ai. Nhưng kính để cho đeo thuộc nhiều dạng khác nhau được mô tả khoảng 700 năm nay.

Đeo kính vẫn là một phương pháp an toàn và có thị lực rõ nhất. Khoảng 18% bệnh nhân đeo kính tiếp xúc. Từ 20 năm qua với loại kính tiếp xúc mềm ngày một phổ biến hơn. Tuy nhiên cũng có một số bệnh nhân không thích hợp với kính tiếp xúc do dị ứng nhất là ở nước ta có bụi bặm nhiều, kính tiếp xúc cũng gây một số biến chứng nguy hiểm nhất là loét giác mạc. Chính vì lý do đó mà một số bệnh nhân không dùng được kính tiếp xúc đã muốn được mổ.

Trong thời gian vừa qua có một số các thí nghiệm được nghiên cứu để làm chậm phát triển độ cận như luyện tập mắt, chỉnh hình giác mạc (làm bẹt giác mạc bằng cách đeo kính tiếp xúc cũng có chiều cong thay đổi dần) và các phương pháp này chỉ có hiệu quả tạm thời mà không điều chỉnh hay giảm được vĩnh viễn độ cận, nhất là độ cận nặng.

Các phương pháp dùng dược chất như nhỏ thuốc co đồng tử hay ngăn chặn thụ thể Beta đã được thử nghiệm nhưng không có kết quả. Việc nhỏ atropin ở trẻ em cho 1 kết quả giới hạn để làm giảm độ cận tăng nhưng lại có nhiều hiệu quả phụ như là nở đồng tử, liệt mi thể và chói mắt.

Kính gọng và kính tiếp xúc hiện nay vẫn là phương pháp điều trị tật khúc xạ phổ biến nhất. Nhưng người bệnh bị tật khúc xạ có thêm bệnh về mắt, bệnh toàn thân, có độ khúc xạ không ổn định và không có đòi hỏi gì về nghề nghiệp thì việc đeo kính vẫn là cách lựa chọn tốt nhất còn phẫu thuật khúc xạ thích hợp cho các người trẻ, có chỉ định rõ ràng, khi đeo kính gọng hay kính tiếp xúc gây phiền toái về công việc, nghề nghiệp hay thẩm mỹ v.v...

NGUYÊN TẰC

LASIK:

Dùng dao vi phẫu để cắt nắp giác mạc mỏng.

Lật nắp giác mạc. Dùng LASER để đốt nhu mô giác mạc làm phẳng giác mạc.

Nắp giác mạc úp trở lại chỗ cũ.

Mắt cận thị sau khi mổ LASIK.

PRK:

Giống như LASIK

Không làm nắp mà chiếu thẳng LASER vào mắt ( H. B ).

PHẦN II: ĂN GÌ KHI CẬN THỊ ?

Ăn nhiều đường làm bệnh cận thị nặng thêm . Người bị cận thị hạn chế ăn quá nhiều đường và đồ ngọt. Ăn nhiều đường ngọt là một yếu tố làm mắt cận thị. Khi cơ thể hấp thu quá nhiều đường sẽ khiến cho hàm lượng vitamin B1 giảm, lâu ngày sẽ ảnh hưởng tới lượng vitamin cung cấp cho thần kinh thị giác, dẫn tới bệnh cận thị nặng thêm.

Theo báo cáo của Hội đồng chống cận thị Nhật Bản, lượng đường nhiều còn ảnh hưởng tới lượng canxi trong cơ thể, làm tăng khả năng đàn hồi của nhãn cầu, đường kính nhãn cầu dễ tăng, mức độ cận thị vì vậy cũng tăng. Bác sĩ B. Lein, nhà nhãn khoa nổi tiếng người Mỹ, dựa trên nhiều số liệu về dinh dưỡng của người bệnh mà ông đã điều trị, khẳng định: bệnh cận thị phát triển không chỉ do mắt mệt mỏi bởi làm việc nhiều quá mà còn do ăn uống không đủ các chất cần thiết. Một chế độ ăn thừa đường, canxi, protein và thiếu crôm sẽ làm cho bệnh cận thị nặng thêm.

Để phòng ngừa cận thị, chế độ ăn uống cần có đầy đủ các vitamin như: vitamin A (có nhiều trong gan cá, gan gia súc gia cầm, lòng đỏ trứng...) có tác dụng hạn chế mức tiến triển của cận thị; vitamin D (có trong dầu cá, bơ, lòng đỏ trứng, gan động vật...) giúp chuyển hoá tốt canxi, củng cố mao mạch hắc mạch mắt, làm dẻo vỏ nhãn cầu phòng ngừa cận thi; vitamin E (có nhiều trong mầm ngũ cốc và có trong đậu xanh, xà lách, ngô, trứng...) giúp tăng cường tổ chức hồ chun của củng mạc mắt và giác mạc. Ngoài ra, người ta cũng dùng vitamin E để hạn chế độ giãn yếu của vỏ nhãn cầu, điều trị cận thị.

PHẦN III: TIỀM HIỂU VỀCẬN THỊ ?

Cận thị là gì?

Cận thị là mắt chỉ nhìn rõ vật ở gần, khi nhìn xa trên 5 mét thì mắt nhìn mờ, và không thấy rõ chữ trên bảng.

Tại sao nhìn xa lại mờ?

Vì mắt cận thị thường là mắt có kích thước lớn. Khi nhìn vật ở xa, ảnh của nó không hiện trên võng mạc của mắt mà lại nằm ở phía trước. Trong khi ở mắt người bình thường, ảnh hiện trên võng mạc thì nhìn rõ; Giống như khi xem phim ảnh không nằm trên màn ảnh mà lại nằm trước màn ảnh nên nhìn thấy mờ, hoặc khi chụp hình canh sai khoảng cách cho hình mờ.

Làm sao nhìn cho rõ?

Muốn nhìn xa cho rõ thì phải dùng kính phân kỳ, tức kính cận đặt trước mắt để đưa ảnh hiện trên võng mạc; giống như chụp hình mờ thì phải canh lại ống kính để ảnh hiện đúng trên phim.

Tại sao lại sinh ra cận thị?

Có 2 lý do chính:

Do di truyền: Nếu cha hoặc mẹ bị cận thị thì con cũng dễ bị cận. Loại này thường bị nặng trên 6 độ, có khi đến 20 độ, được gọi là cận thị bệnh. Tuy nhiên không phải bao giờ cũng vậy, cũng có khi cha mẹ không bị cận thị mà con bị cận thị nặng hoặc có khi con lại bình thường trong khi cha mẹ bị.

Do môi trường, hoạt động, cách sống: Khi học nhiều, làm việc nhiều gần mắt... cũng dễ bị cận thị. Loại cận thị này thường nhẹ, được gọi là cận thị học đường, thường đến 6-7 độ thì ngưng, khi cơ thể hết phát triển vào khoảng 20 tuổi.

Nếu có cả hai yếu tố trên, tức cha mẹ bị cận và lại học quá nhiều thì tỷ lệ cận cao hơn.

Có cách nào tránh được cận thị?

Vì là do di truyền và cách sống không thể ngăn được cận thị ở những người có học. Những nước phát triển, phải học nhiều và làm việc gần mắt nhiều nên tỷ lệ cận thị nhiều hơn so với những nước chậm phát triển. Về nghề nghiệp, những người trí thức cận thị nhiều hơn nông dân, ngư dân...

Có thuốc gì để chữa cận thị?

Vì cận thị là do mắt lớn nên không có thuốc nào uống để cho mắt nhỏ lại, cũng như người cao quá khổ, không có thuốc nào uống để cho người thấp lại được.

Tại sao trẻ con bị cận thị lại tăng độ?

Vì cơ thể trẻ em còn phát triển, phải học hành nhiều nên mắt cũng phát triển theo và độ cận tăng. Ở người lớn cơ thể không phát triển nữa, nên mắt không lớn nữa và độ cận được ổn định không tăng.

Đeo kính thường xuyên có làm tăng độ không?

Thực ra việc đeo kính không có ảnh hưởng gì đến sự tăng độ. Đeo kính là để nhìn xa cho rõ. Khi đã bị cận thị rồi thì có đeo kính hay không đeo, độ vẫn tăng. Trẻ con đi học phải cho đeo kính để có thể nhìn thấy rõ mọi vật và chữ trên bảng. Khi ra ngoài đường cũng cần đeo kính để có thể nhìn thấy rõ vật ở xa và tránh bụi bậm. Chúng ta hãy tưởng tượng, làm sao cuộc đời thấy "tươi đẹp" được khi mọi vật đều mờ nhòe. Khi nào gần không cần kính mà vẫn thấy rõ hoặc khi ở nhà không cần làm gì bằng mắt thì không cần đeo như khi nghỉ ngơi, nghe nhạc, ngồi nói chuyện... để mắt được thư giãn.

Kính gọng và kính tiếp xúc, nên đeo kính loại nào?

Đối với trẻ em còn đi học nên đeo kính có gọng vì đỡ phiền phức, thao tác dễ. Đối với người lớn, điều này tùy thuộc ý thích cá nhân, nghề nghiệp và cơ thể của từng người. Có người không thích đeo kính gọng vì không muốn cho người khác biết mình bị cận thị, hoặc có mặc cảm, hoặc vì vấn đề thẩm mỹ, hoặc do nghề nghiệp khi đeo kính gọng có những bất tiện. Tuy nhiên, đối với người cận thị nặng, độ cận cao, tuổi còn trẻ nên đeo kính tiếp xúc vì vấn đề thẩm mỹ cũng như bệnh lý giúp cho thị lực tốt hơn. Tuy nhiên không phải là ai cũng thích hợp với kính tiếp xúc vì khi đeo bị dị ứng mắt.

Mổ cận thị có hết được cận không?

Với loại cận thị nhẹ dưới 5 độ, có thể mổ để hết cận khỏi phải đeo kính. Đối với cận thị nặng trên 7 độ thì ở nước ta hiện nay chưa mổ được vì phải dùng loại laser đặc biệt, đắt tiền. Tiêu chuẩn để mổ cận thị là:
Cận dưới 5 độ.
Trên 20 tuổi.
Độ cận đã ổn định.
Không bị bệnh nặng gì ở mắt như tăng áp mắt, bệnh giác mạc...

Biến chứng của cận thị ra sao, có bị mù không?

Với cận thị nặng có nhiều biến chứng như suy thoái võng mạch mạc cận thị, suy thoái pha lê thể, bong võng mạc... làm mắt mờ dần dù có đeo kính. Đối với cận thị nhẹ thì ít hơn nhiều, chỉ có hiện tượng người ta gọi là ruồi bay là phổ biến, tức nhìn thấy những vết đen lởn vởn trước mắt làm người bệnh khó chịu.

Đề phòng và vấn đề thực tế?

Như ta đã thấy những yếu tố gây cận thị thường do di truyền và đời sống hoạt động giáo dục... chủ yếu là những công việc gần mắt. Cuộc sống ngày một phát triển, trẻ em không thể không cho học hành, không cho đến trường, không được làm việc gần mắt như học vi tính, xem tivi. Có thể giảm bớt ảnh hưởng của những yếu tố có thể gây tăng độ:

- Về dinh dưỡng: Cho trẻ bổ sung các loại vitamin như A, B, C, E, Calcium...

- Về sinh hoạt: Những ngày nghỉ nên cho trẻ sinh hoạt ngoài trời, đi picnic, thể dục thể thao nhẹ cho mắt được nghỉ ngơi thư giãn.

- Khi học: Ngồi tư thế thẳng, để sách xa mắt, tránh cúi sát sách, phải đủ ánh sáng, bàn nghế ngồi thoải mái.

- Học 1 hay 2 giờ nên nghỉ 5-10 phút, nhắm mắt lại hay nhìn ra xa qua cửa sổ vào khoảng không cho mắt thư giãn.

- Xoa nhẹ lên mắt cho máu lưu thông, cơ mắt được thư giãn, giảm lực cơ co kéo vào võng mạc lúc học nhiều. Đối với những trẻ bị cận thị nặng nên đi khám bác sĩ hàng năm. Nếu có hiện tượng gì khác ở mắt, hãy đến bác sĩ nhãn khoa hầu phát hiện sớm bệnh bong võng mạc để mổ kịp thời hoặc có biện pháp phòng ngừa.

Quan niệm sai lầm

Có những phụ huynh thấy trẻ bị cận thị nặng rất lo lắng, sợ sau này bị mù nên không muốn cho trẻ đi học. Đây là một quan niệm sai lầm vì loại cận thị nặng có học hay không, thì bệnh vẫn tiến triển. Có điều khác biệt là, có thể hướng nghiệp cho trẻ về sau này học những nghề nào ít phải dùng đến mắt hoặc phải làm việc quá gần mắt.

PHẦN IV: PHÒNG TRÁNH CẬN THỊ HỌC ĐƯỜNG ?

Khi đã bị cận thị, việc đeo kính hoặc dùng thuốc đều không thể ngăn cản bệnh tiến triển. Tật này thường chỉ ngừng hẳn khi tới 25-30 tuổi. Một học sinh bị cận thị lúc mới được phát hiện phải đeo kính 0,5 điốp, thì đến 30 tuổi có thể phải đeo kính 2,5-5 điốp hoặc hơn. Vì vậy, việc phòng bệnh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Quá trình học tập và giải trí thiếu khoa học ở tuổi học sinh có thể ảnh hưởng xấu tới khả năng điều tiết của đôi mắt, dẫn tới cận thị học đường. Tật cận thị có 2 biểu hiện chính: độ hội tụ của mắt tăng và trục trước sau của mắt dài quá giới hạn bình thường. Hậu quả là thị lực giảm, mắt không nhìn rõ vật ở xa, chỉ thấy vật ở gần.

Bệnh cận thị hoàn toàn có thể phòng được nếu có sự phối hợp tích cực giữa học sinh, gia đình và nhà trường. Sau đây là một số chỉ dẫn cần được tuân thủ trong sinh hoạt và học tập:

1. Giữ đúng tư thế ngồi khi học

Ngồi thẳng lưng, hai chân khép, hai bàn chân để ngay ngắn sát nền nhà, đầu cúi 10-15 độ. Khoảng cách từ mắt đến sách vở trên bàn học là 25 cm đối với học sinh tiểu học, 30 cm với học sinh trung học cơ sở, 35 cm với học sinh trung học phổ thông và người lớn. Thầy cô giáo và cha mẹ học sinh phải thường xuyên nhắc nhở, không để các em cúi gằm mặt, nghiêng đầu, áp má lên bàn học khi đọc hoặc viết.

2. Lớp học, góc học tập phải đủ những điều kiện cần thiết

Kích thước phòng học; cách sắp xếp bàn ghế, bảng viết phải phù hợp với lứa tuổi để học sinh có thể ngồi đúng tư thế và giữ đúng khoảng cách từ mắt đến sách vở.

Đảm bảo đủ ánh sáng: nơi tối nhất không dưới 30 lux, nơi sáng nhất không quá 700 lux.

Chữ viết trên bảng và trong sách vở phải rõ nét, chiều cao ít nhất của chữ viết là 1/200 khoảng cách từ mắt tới chữ. Ví dụ, khoảng cách từ bảng tới học sinh là 8 m thì chiều cao tối thiểu của cỡ viết trên bảng phải là 4 cm. Chữ trong vở phải có chiều cao ít nhất 1,75 mm cho khoảng cách từ mắt đến vở là 35 cm.

Khi đọc sách buổi tối, cần đèn đủ sáng và có chụp phản chiều. Không dùng đèn ống neon, nên dùng bóng điện dây tóc.

Không viết mực đỏ, mực xanh lá cây. Không đọc sách có chữ quá nhỏ in trên giấy vàng hoặc giấy đen, vì tỷ lệ tương phản giữa chữ và nền quá nhỏ, khiến mắt bị mệt.

Duy trì mỗi tiết học 45 phút, sau đó nghỉ giải lao, đưa mắt nhìn xa, hết co thắt thị giác rồi mới bước vào giờ học tiếp theo.

3. Bỏ những thói quen có hại cho mắt

Không nằm, quỳ để đọc sách hoặc viết bài.

Không đọc sách báo, tài liệu khi đang đi trên ô tô, tàu hỏa, máy bay.

Khi xem ti vi, video phải ngồi cách xa màn hình tối thiểu 2,5 m, nơi ánh sáng phòng phù hợp. Thời gian xem cần ngắt quãng, không quá 45-60 phút mỗi lần xem.

Không tự ý dùng kính đeo mắt không đúng tiêu chuẩn. Khi đeo kình cần tuân thủ hướng dẫn của nhà chuyên môn.

Viêm màng bồ đào (3 bài)

Bài 1. Bệnh viêm màng bồ đào



Viêm màng bồ đào là bệnh mắt khá phổ biến, thường có những tổn thương nặng nề, nhiều biến chứng, hay tái phát, khó xác định nguyên nhân. Nhiều trường hợp dẫn đến mù lòa.

Những biểu hiện của viêm màng bồ đào:

Viêm màng bồ đào trước:



Các triệu chứng của viêm màng bồ đào trước là nhìn mờ, mắt thường đau đỏ, sợ ánh sáng, chảy nước mắt. Có tủa giác mạc (là những lắng đọng tế bào viêm ở mặt sau giác mạc), thủy dịch đục, có xuất tiết hoặc mủ tiền phòng. Ðồng tử co, có khi dính bờ đồng tử, có thể có các nốt viêm trên mống mắt. Nhãn áp bình thường hoặc tăng cao.

Viêm màng bồ đào trung gian:

Mắt nhìn mờ nhưng triệu chứng khiến người bệnh đến khám thường là hiện tượng thấy những thể lơ lửng trước mắt như “ruồi bay” do dịch kính đục. Có thể thấy phù hoàng điểm, viêm thành tĩnh mạch võng mạc.

Viêm màng bồ đào sau (viêm hắc mạc):

Mắt không đau đỏ nhưng nhìn mờ, có hiện tượng chớp sáng trước mắt do kích thích các tế bào cảm thụ ánh sáng. Những thể lơ lửng trước mắt tạo cảm giác như “ruồi bay” hoặc “mạng nhện” trước mắt do xuất tiết gây đục dịch kính. Các dấu hiệu khác như nhìn vật biến dạng, nhỏ đi hoặc to ra chỉ xuất hiện khi vùng hoàng điểm bị tổn thương. Khám mắt có đục dịch kính, ổ viêm hắc mạc màu trắng xám ở trung tâm hoặc rải rác khắp hắc mạc, khi bệnh ổn định sẽ để lại sẹo.

Cần phân biệt viêm màng bồ đào trước với các trường hợp viêm kết mạc cấp, cơn glôcôm góc đóng cấp (cơn thiên đầu thống cấp).

Biến chứng của viêm màng bồ đào:

Tăng nhãn áp, đục thể thủy tinh. Ðây là hai biến chứng hay gặp trong viêm màng bồ đào trước.

Các biến chứng khác: tổ chức hóa dịch kính, phù hoàng điểm biến dạng nang, bong võng mạc, màng trước võng mạc, tân mạch dưới võng mạc, tân mạch đĩa thị giác, teo nhãn cầu là biến chứng thường gặp trong viêm màng bồ đào ở trẻ em.

Nguyên nhân gây viêm màng bồ đào:

Các nguyên nhân gây viêm màng bồ đào gồm:

+ Vi khuẩn:

Nhiễm khuẩn ngoại sinh trong các trường hợp chấn thương, phẫu thuật mắt. Nhiễm khuẩn nội sinh từ các ổ viêm lân cận như sâu răng, viêm lợi, viêm họng, viêm xoang hoặc trong các bệnh toàn thân như lao, giang mai, phong, viêm màng não mủ, nhiễm khuẩn huyết…

+ Virut: nhiễm các virut như herpes, zona, cúm, thủy đậu, sởi, quai bị…

+ Nấm: nhiễm nấm nội sinh hoặc nhiễm nấm ngoại sinh khi bị chấn thương hay phẫu thuật mắt. Các loại nấm gây bệnh có thể là candida, aspergillus…

+ Ký sinh trùng như toxoplasma, ấu trùng sán lợn (cysticercosis), giun…
Yếu tố miễn dịch, yếu tố kháng nguyên bạch cầu HLA (Human Leucocyte Antigen) liên quan đến hội chứng BehCet (tam chứng kinh điển là viêm màng bồ đào trước có mủ tiền phòng, viêm miệng áp tơ và loét bộ phận sinh dục), hội chứng Vogt-Coyanagi-Harada (viêm màng bồ đào – màng não), hội chứng Reiter viêm niệu đạo, viêm khớp, viêm kết mạc thường kèm viêm mống mắt)…

+ Dị ứng: viêm màng bồ đào dị ứng protein thể thủy tinh.
Nhiễm độc các độc tố hóa chất, độc tố từ tác nhân nhiễm trùng, độc tố của các u ác tính trong nhãn cầu.

Ðiều trị:

Ðiều trị nguyên nhân với các thuốc đặc hiệu. Thuốc giãn đồng tử và liệt thể mi cần được dùng ngay từ đầu trong mọi trường hợp viêm màng bồ đào trước để chống dính đồng tử và giảm đau. Thuốc thường dùng là dung dịch atropin 1-4% hoặc mỡ atropin 1% tra mắt.

- Thuốc chống viêm corticosteroit là thuốc chủ lực trong điều trị viêm màng bồ đào nhưng không nên dùng trong một số trường hợp cụ thể (viêm màng bồ đào do virut, lao, nấm).

Thuốc có nhiều dạng và nhiều đường dùng. Thuốc được dùng nhiều đường phối hợp như tra mắt, tiêm cạnh nhãn cầu, uống, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch. Dạng thuốc tra mắt chỉ có tác dụng trong viêm màng bồ đào trước. Liều lượng và thời gian dùng thuốc tùy theo tình trạng bệnh. Corticosteroit có nhiều tác dụng phụ, đặc biệt khi dùng kéo dài ở những người bệnh tăng huyết áp, loãng xương, giảm sức đề kháng, hội chứng Cushing, đục thể thủy tinh, tăng nhãn áp… cần được thầy thuốc theo dõi chặt chẽ.

Các thuốc chống viêm không steroit như indometaxin, diclofenac… được dùng trong các trường hợp chống chỉ định dùng corticosteroit.

- Thuốc ức chế miễn dịch:
Các thầy thuốc gây độc tế bào như cyclophosphamit, cloram-buxil, azathioprin, methotrexat có nhiều tác dụng phụ chỉ được dùng trong các viêm màng bồ đào liên quan đến yếu tố miễn dịch và không đáp ứng với corticosteroit. Cyclosporin là loại thuốc hay được dùng vì ít độc hơn các thuốc trên.

- Phẫu thuật chủ yếu để điều trị biến chứng viêm màng bồ đào như phẫu thuật lấy thể thủy tinh, có thể kết hợp đặt thể thủy tinh nhân tạo, phẫu thuật lỗ rò điều trị tăng nhãn áp, cắt dịch kính, bóc màng trước mạc, phẫu thuật bong võng mạc.

Phòng ngừa: Bệnh viêm màng bồ đào cần được phát hiện sớm, điều trị đúng và kịp thời, theo dõi chặt chẽ để ngăn ngừa các biến chứng nặng nề có thể dẫn đến mù lòa.

ThS. Hoàng Thị Hạnh (Viện mắt)

Bài 2. Viêm màng bồ đào



Màng bồ đào gồm có 3 thành phần từ trước ra sau gồm: Mống mắt, thể mi, và hắc mạc. Viêm màng bồ đào là bệnh mắt phổ biến, thường có những tổn thương nặng nề, nhiều biến chứng, hay tái phát, khó xác định nguyên nhân. Nhiều trường hợp dẵn đến mù loà.

I. Phân loại của viêm màng bồ đào

1. Phân loại theo giải phẫu:

- Viêm màng bồ đào trước:
+ Viêm mống mắt: Chủ yếu viêm phần mống mắt.
+ Viêm mống mắt – thể mi : Bao gồm mống mắt và phần trước của thể mi.

- Viêm màng bồ đào giữa: Chủ yếu ở phần sau của thể mi (vùng pars plana) và vùng võng mạc ngoại vi sát với pars planac.
- Viêm màng bồ đào sau: Viêm hắc mạc, phía sau nền dịch kính.
- Viêm màng bồ đào toàn bộ: viêm cả mống mắt, thể mi và hắc mạc.
Viêm màng bồ đào trước là hay gặp nhất, tiếp theo là: viêm màng bồ đào giữa, viêm màng bồ đào sau, và viêm toàn nhãn.

2. Phân loại theo lâm sàng:

Phân loại này dựa trên khởi phát và thời gian diễn biến viêm màng bồ đào.

a. Viêm màng bồ đào cấp: Thường triệu chứng khởi phát đột ngột và tồn tại dưới 6 tuần, sau đó bệnh ổn định.

b.Viêm màng bồ đào mạn: Tồn tại hàng tháng có khi hàng năm. Bệnh khởi phát thường âm ỉ và có thể không có triệu chứng, mặc dù có khi các triệu chứng cấp tính hoặc bán cấp.

3. Phân loại theo nguyên nhân:

a. Viêm màng bồ đào ngoại sinh: Do chấn thương, vi khuẩn hoặc tác nhân khác từ ngoài vào.

b.Viêm màng bồ đào nội sinh: Do vi khuẩn hoặc tác nhân khác trong cơ thể người bệnh. Gồm những dạng chính sau:
+ Phối hợp với các bệnh toàn thân: Như viêm cột sống cứng khớp.
+ Viêm nhiễm do: Vi khuẩn (bệnh lao). Nấm (Candidiasis). Virus (Herpes zoster). Ký sinh trùng (Toxoplasmosis) hoặc giun tròn (Toxocariasis).
+ Viêm màng bồ đào đặc hiệu tự phát: là nhóm bệnh không liên quan đến bệnh lý toàn thân, nhưng có tính chất đặc hiệu như: Viêm màng bồ đào Fuch.
+ Viêm màng bồ đào không đặc hiệu tự phát: Nhóm không nằm trong các loại trên, chiếm khoảng 25%

II. Nguyên nhân của viêm màng bồ đào

Tìm nguyên nhân gây viêm màng bồ đào là rất khó, nhiều trường hợp không rõ ràng. Các nguyên nhân gồm:

1. Vi khuẩn: có thể là tụ cầu, liên cầu, phế cầu, trực khuẩn, xoắn khuẩn...
- Nhiễm khuẩn ngoại sinh trong các trường hợp chấn thương, phẫu thuât.
- Nhiễm khuẩn nội sinh từ các ổ viêm lân cận như sâu răng, viêm lợi, viêm xoang, viêm họng hoặc bệnh toàn thân như: giang mai, phong, viêm màng não mủ, nhiễm khuẩn huyết ...

2. Virus: Herpes, Zona, cúm, thuỷ đậu, sởi, quai bị...

3. Nấm: nội sinh hoặc ngoại sinh, có thể là Candida, Aspergilus...

4. Ký sinh trùng: Toxoplasma, ấu trùng sán lợn, giun...

5. Yếu tố miễn dịch, yếu tố kháng nguyên bạch cầu HLA (Human Leucocyte Antigen). Hội chứng Behcet, hội chứng Vogt-Koyanagi-Harada, hội chứng Reiter...

6. Dị ứng gây viêm màng bồ đào, do protein của thuỷ tinh thể.

7. Nhiễm độc: hoá chất, độc tố tác nhân nhiễm khuẩn, u ác trong nhãn cầu...

III. Lâm sàng của viêm màng bồ đào

1. Viêm màng bồ đào trước

a. Triệu chứng chủ quan:
- Nhìn mờ: do đục các môi trường trong suốt, tủa giác mạc: protein, fibrin, tế bào viêm.
- Đau: do mống mắt thể mi có mạng lưới thần kinh chi phối từ dây V. Đau do co thắt thể mi và tận cùng thần kinh bị kích thích bởi nồng độ độc tố cao.
- Sợ ánh sáng và chảy nước mắt: do kích thích dây V.
- Đỏ mắt: do cương tụ rìa. Trong viêm màng bồ đào trước mãn tính, mắt có thể không đỏ và các triệu chứng khác biểu hiện ít, mặc dù có viêm nhiễm nặng.

b. Dấu hiệu khách quan:

- Cương tụ rìa: do ứ đọng và giãn mạch máu sâu quanh rìa, càng xa vùng rìa cương tụ càng giảm dần, có khi mầu tím sẫm.

- Tủa sau giác mạc: Tế bào lắng đọng ở nội mô giác mạc. Đặc điểm và phân bố có thể là dấu hiệu để xác định dạng viêm màng bồ đào. Tủa sau giác mạc thường phân bố ở giữa và trung tâm của giác mạc. Tuy nhiên, viêm màng bồ đào dạng Fuch thì tủa lại khắp trên bề mặt nội mô giác mạc. Nhiều tủa dạng chấm bụi trên nội mô xuất hiện trong viêm màng bồ đào cấp, cũng như là đợt bán cấp bùng phát của viêm mạn.
+ Tủa nhỏ: hay gặp trong viêm màng bồ đào do herpes, hoặc Fuch.
+ Tủa vừa: xảy ra ở hầu hết các dạng viêm màng bồ đào cấp và mạn.
+ Tủa lớn: dạng mỡ cừu, hay gặp trong viêm màng bồ đào dạng hạt.
+ Tủa mới: có mầu trắng và tròn. Nếu lâu ngày sẽ co nhỏ lại, nhạt mầu và có khi bám theo sắc tố. Tủa mỡ cừu theo thời gian thường chuyển sang mầu trắng dạng kính mờ.

- Hạt trên mống mắt là đặc hiệu của viêm màng bồ đào hạt.
+ Hạt Koeppe: nhỏ và nằm trên bờ đồng tử.
+ Hạt Busacca: lớn hơn ít gặp. Nằm trên bề mặt mống mắt.

- Tế bào trong tiền phòng: là dấu hiệu của viêm hoạt tính (Tyndall). Có thể dựa vào số lượng tế bào để chia độ bằng cách: Sinh hiển vi để cường độ sáng tối đa, đèn khe chiều dài 3 mm và 1 mm chiều rộng. Tế bào có thể đếm và chia từ độ 0 đến +4: + 0: không có tế bào,+ 1: dưới 10 tế bào,+ 2: 10 – 20 tế bào,+ 3: 20 – 50 tế bào,+ 4: trên 50 tế bào.

- Xuất tiết: do tổn thương mạch máu mống mắt, dò rỉ protein ra ngoài thuỷ dịch.

- Dính mống mắt vào mặt trước thuỷ tinh thể. Khi dính 360o, hình núm cà chua, hạn chế lưu thông thuỷ dịch từ hậu phòng ra tiền phòng, mống mắt vồng cao có thể dính góc tiền phòng, gây tăng nhãn áp.

- Tế bào ở dịch kính trước: cần so sánh mật độ với thuỷ dịch. Viêm mống mắt, tế bào ở thuỷ dịch nhiều hơn phần dịch kính, trong khi đó viêm mống mắt thể mi thì số lượng tương đương.

- Nhãn áp: giai đoạn đầu nhãn áp thường thấp thoáng qua do thể mi giảm tiết thuỷ dịch. Giai đoạn cuối nhãn áp thấp vĩnh viễn do thể mi bị huỷ hoại gây teo nhãn cầu. Trong đợt viêm cấp có thể tăng nhãn áp do nghẽn đồng tử hoặc góc tiền phòng.

- Trong các triệu chứng của viêm mống mắt thể mi, Tyndall và tủa sau giác mạc là triệu chứng quan trọng nhất để chẩn đoán xác định bệnh ở giai đoạn hoạt tính. Nếu Tyndall âm tính và tủa sau giác mạc tiêu hết hoặc tủa ngả mầu sắc tố nâu chứng tỏ viêm cũ.

2. Viêm màng bồ đào giữa (Viêm pars plana)

a. Triệu chứng chủ quan:
- Ruồi bay: do đục dịch kính.
- Thị lực giảm: thường nguyên nhân do phù hoàng điểm dạng nang

b. Dấu hiệu khách quan:
- Dịch kính có tế bào, hoặc dạng bông tuyết.
- Có thể có viêm thành mạch võng mạc chu biên, mạch máu có viền trắng.
- Phù hoàng điểm dạng nang gây giảm thị lực, chụp mạch huỳnh quang fluorescein ngấm vào các hốc phù hoàng điểm tạo nên hình ảnh “hoa đồng tiền”.
- Không thấy có ổ tổn thương ở võng mạc phía sau.

3. Viêm màng bồ sau

a. Triệu chứng chủ quan:
- Ruồi bay, mạng nhện do xuất tiết gây đục dịch kính.
- Thị lực giảm, nhưng nếu tổn thương vùng hoàng điểm thị lực giảm nhiều, bệnh nhân không thấy hiện tượng ruồi bay.
- Chớp sáng do kích thích tế bào que và nón.
- Nhìn vật biến dạng, hình nhỏ đi hoặc to lên.

b. Dấu hiệu khách quan:

- Thay đổi dịch kính: tế bào, xuất tiết, đục dịch kính, bong dịch kính phía sau. Có thể thấy màng hyaloid sau nhiều tủa viêm bám vào. Dịch kính đục nhiều do màng Buch bị tổn thương, xuất tiết từ hắc mạc qua võng mạc vào dịch kính.

- Viêm hắc mạc: ổ viêm có mầu trắng, hoặc vàng bờ tương đối rõ, võng mạc tương ứng phù trắng đục do xuất tiết đến từ hắc mạc qua màng Buch. Tổn thương không hoạt tính, có mầu trắng, bờ rõ do teo hắc võng mạc xung quang có viền sắc tố, ổ viêm hắc mạc thành sẹo.

- Viêm võng mạc: Võng mạc có mầu trắng đục, ranh giới vùng tổn thương võng mạc không rõ ràng, có thể có xuất tiết.

- Viêm thành mạch võng mạc chủ yếu tĩnh mạch, một số trường hợp viêm động mạch. Viêm thành tĩnh mạch hoạt tính có đặc tính xung quang thành mạch máu có màu trắng mờ đục, tổn thương nặng, có hình ảnh “ ngọn nến chảy nhỏ giọt”.

4.Viêm màng bồ đào toàn bộ

Gồm các triệu chứng của viêm màng bồ đào trước và viêm màng bồ đào sau. Viêm nội nhãn: là viêm trong nhãn cầu, chủ yếu ở tiền phòng và dịch kính. Viêm nội nhãn gồm các triệu chứng của viêm màng bồ đào trước thường có mủ tiền phòng với viêm dịch kính nặng. Dịch kính đục nhiều, có mủ vàng. Mắt đau nhức, thường có phù mi và kết mạc.

IV. Chẩn đoán phân biệt

1. Viêm màng bồ đào trước tăng nhãn áp và glôcôm góc đóng:

- Viêm màng bồ đào tăng nhãn áp:
+ Tủa giác mạc là tủa viêm mầu trắng xám
+ Đồng tử luôn co nếu không dùng thuốc giãn

- Glôcôm góc đóng:
+ Lắng đọng mặt sau giác mạc là sắc tố mống mắt
+ Đồng tử có thể dính, nhưng luôn tự giãn

2.Viêm hắc mạc trung tâm và bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch:

- Viêm hắc mạc trung tâm:
+ Có thể bong thanh dịch võng mạc trung tâm, nhưng xuất tiết thành đốm, mảng
+ Có thể xuất huyết võng mạc, tăng sinh sắc tố
+ Chụp mạch huỳnh quang, ổ xuất tiết hoạc xuất huyết “che lấp” fluorescein của hắc mạc, thì muộn tăng huỳnh quang do phù tổ chức

- Bệnh hắc võng mạc trung tâm thanh dịch:
+ Bong thanh dịch trung tâm chấm xuất tiết rải rác, không thành đốm mảng
+ Không có xuất huyết võng mạc, tăng sinh sắc tố
+ Chụp mạch huỳnh quang, rò fluorecein dạng “dấu mực” hoặc “khói thuốc”.

V. Biến chứng của viêm màng bồ đào

1. Glôcôm Tăng nhãn áp là biến chứng khá phổ biến của viêm màng bồ đào trước.

- Do nghẽn đồng tử, góc tiền phòng bởi xuất tiết. Điều trị: giãn đồng tử, chống viêm. hạ nhãn áp. Nếu nhãn áp không điều chỉnh bằng thuốc, cần phẫu thuật mở lỗ dò cắt mống mắt rộng, kết hợp chống viêm mạnh.

- Trong viêm màng bồ đào cũ, tăng nhãn áp do dính góc tiền phòng, bít đồng tử, mống mắt hình “núm cà chua”. Phẫu thuật mở lỗ dò, cắt mống mắt khu vực rộng.

- Nếu do hậu quả của điều trị dùng thuốc corticoid, giảm liều thuốc corticoid, dùng thuốc hạ nhãn áp uống và tra mắt. Nếu nhãn áp không giảm, cần phẫu thuật.

- Do glôcôm tân mạch. Điều trị bằng phẫu thuật, hoặc lạnh đông thể mi kếp hợp thuốc hạ nhãn áp.

2. Đục thể thuỷ tinh do viêm tái phát, mạn tính hoặc do dùng corticoid. Khi viêm màng bồ đào ổn định, có thể phẫu thuật lấy thể thuỷ tinh ngoài bao hoặc phaco đặt thuỷ tinh thể nhân tạo. Nếu dịch kính đục nhiều có thể kết hợp cắt dịch kính qua pars plana. Sau phẫu thuật cần điều trị chống viêm tích cực. Sau mổ lấy thể thuỷ tinh, bao sau thường đục nhanh và dày hoặc có màng xuất tiết trên thể thuỷ tinh nhân tạo, cần điều trị bằng laser YAG. Những truờng hơp viêm màng bồ đào nặng, thể thuỷ tinh đục trương phồng, cần lấy thể thuỷ tinh sớm ngay cả khi viêm màng bồ đào chưa ổn định.

3. Phù hoàng điểm dạng nang Viêm màng bồ đào gây phù hoàng điểm dạng nang, làm giảm thị lực. Điều trị corticoid, thuốc chống viêm không đặc hiệu.

4. Teo nhãn cầu Viêm nặng, thể mi giảm tiết thuỷ dịch vĩnh viễn, dẫn đến teo nhãn cầu.

5. Tổ chức hoá dịch kính: Dịch kính đục nhiều, tổ chức hoá gây giảm thị lực. Nếu chức năng võng mạc còn tốt, phẫu thuật cắt dịch kính cải thiện thị lực và tránh biến chứng bong võng mạc do co kéo dịch kính.

6. Bong võng mạcViêm màng bồ đào sau có thể biến chứng bong võng mạc do co kéo dịch kính, có khi rách võng mạc. Phẫu thuật cắt dịch kính, kết hợp mổ bong võng mạc là phẫu thuật phức tạp, nhiều khi khó có kết qủa. Trong viêm màng bồ đào sau có bong võng mạc nội khoa, điều trị tích cực, bong võng mạc có thể rút dần.

7. Các biến chứng khác
- Làng trước võng mạc: có thể phẫu thuật bóc màng
- Tân mạch dưới võng mạc, vùng gai thị

VI. Điều trị:

Khó khăn vì phải dựa vào chẩn đoán nguyên nhân, mà nhiều trường hợp không tìm được nguyên nhân.

1. Dùng các thuốc đặc hiệu theo nguyên nhân: Thí dụ: thuốc chống virus, chống lao, chống nấm, kháng sinh chống vi khuẩn. Penicillin điều trị giang mai...

2. Thuốc giãn đồng tử và liệt thể mi

Cần dùng ngay từ đầu với mục đích:

- Chống dính sau, nếu đồng tử giãn có thế tách được chỗ dính

- Giảm đau do thuốc làm liệt cơ thể mi
Dùng dung dịch Artropin 1% - 4% tra ngày 2 -3 lần, nếu đồng tử giãn được cần duy trì ngày 1 lần.

Nếu đồng tử không giãn với thuốc tra, cần tiêm dưới kết mạc quanh rìa dung dịch Adrenalin 1mg + Artropin 1/4 mg, vị trí tiêm 4 điểm: 3-9-6-12 giờ nếu đồng tử dính toàn bộ. Nếu khônh dính toàn bộ, tiêm dưới kết mạc tương ứng với chỗ dính đồng tử.

3. Thuốc chống viêm

Corticoid là thuốc chủ lực trong viêm màng bồ đào, nhưng có chỉ định trong những trường hợp cụ thể. Có thể dùng dưới dạng tra tại chỗ dung dịch, mỡ, hoặc tiêm cạnh nhãn cầu, uống, tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch. Liều lượng và thời gian dùng tuỳ theo tình trạng bệnh lý. Chú ý đến các tác dụng phụ khác, cần theo dõi sát khi sử dụng thuốc.
Các thuốc chống viêm không steroid, được sử dụng trong những trường hợp chống chỉ định corticoid như: Indomethacin, Diclofenac...

4. Thuốc ức chế miễn dịch

Thuốc gây độc tế bào: Cyclophosphamit, clorambuxil, azathioprin, methotrexat. Tác dụng diệt dòng lympho bào phân chia nhanh là yếu tố gây viêm. Có nhiều tác dụng phụ và biến chứng nặng. Khi dùng phải theo dõi rất chặt chẽ và xét nghiệm toàn thân, nếu có nhiễm độc cần ngừng thuốc. Chỉ dùng trong những trường hơp như: hội chứng Behcet, hội chứng Vogt-Koyanagi-Harada, nhãn viêm giao cảm, viêm màng bồ đào không đáp ứng với corticoid.

Cyclosporin: Thuốc ức chế hoạt hoá tế bào lympho T qua tác dụng ức chế chức năng interleukin-1 và interleukin-2. Có tác dụng đặc hiệu và ít gây độc hơn so với nhóm thuốc gây độc tế bào. Được dùng trong những trường hợp viêm màng bồ đào liên quan đến yếu tố miễn dịch, và không đáp ứng với corticoid. Liều bắt đầu 5 mg/kg/ngày.

5. Phẫu thuật

Có thể giúp cho việc chẩn đoán như chích mủ tiền phòng, chọc hút dịch kính để tìm nguyên nhân. Phẫu thuật chủ yếu là điều trị biến chứng của viêm màng bồ đào:

- Lấy thuỷ tinh thể, hoặc phaco và đặt thuỷ tinh thể nhân tạo
- Phẫu thuật lỗ dò với cắt mống mắt rộng điều trị tăng nhãn áp
- Cắt dịch kính, bóc màng xơ trước võng mạc
- Phẫu thuật bong võng mạc

Bs. Ths.Cung Hồng Sơn

Tài liệu tham khảo:

1.Jack Kanski. Clinical ophthalmology. Butterworth-Heinemann. 2002. Uveitis. 271 – 3162.R Douglas Cullom. Benjamin Chang. Will Eye Hospital Manual. J.B. Lippincott Company. 2000. Uveitis. 351 - 2763.Kenneth W. Wright. Texbook of Ophthalmology. Williams & Wikins 1997. Ocular inflammation. 447 – 555. 4.Phan Dẫn và cộng sự. Nhãn khoa giản yếu. Nhà xuất bản y học. 2004. Màng bồ đào. 337 - 429

Bài 3. Điều trị bệnh viêm màng bồ đào



Điều trị bất cứ bệnh nào đều phải tuân theo nguyên tắc là dựa trên cơ sở chẩn đoán nguyên nhân, tuy nhiên việc tìm ra nguyên nhân gây viêm màng bồ đào hiện tại là vấn đề nan giải. Vì vậy để điều trị viêm màng bồ đào là rất khó. Chỉ có một số ít tr­ờng hợp có thể tìm thấy nguyên nhân gây bệnh nhờ vào cận lâm sàng nh­ư chọc tiền phòng lấy bệnh phẩm nuôi cấy phân lập, xét nghiệm tế bào học, tìm kháng thể trong huyết thanh... đa số bệnh nhân còn lại dựa trên biểu hiện lâm sàng, đặc điểm riêng trên từng bệnh nhân để thầy thuốc có h­ướng điều trị cho thích hợp. Sau đây là nguyên tắc chung điều trị viêm màng bồ đào.

1. Điều trị theo nguyên nhân:

Khi tìm đ­ược nguyên nhân hoặc dựa vào biểu hiện lâm sàng thì dùng các thuốc đặc hiệu để điều trị. Ví dụ: Dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ, thuốc chống virus, chống lao, chống nấm... nên phối hợp đư­ờng toàn thân và tại chỗ.

2. Thuốc giãn đồng tử, liệt thể mi:

Đa số bệnh nhân viêm màng bồ đào đồng tử th­ờng co nhỏ, trong khi mống mắt đang bị viêm, xuất tiết. Vì vậy nguy cơ dính mống mắt với mặt trư­ớc thể thuỷ tinh là rất cao. Do đó việc dùng thuốc giãn đồng tử để chống dính là hết sức cần thiết. Hiện tại thuốc th­ường được dùng là dd Atropin 1-4%. Atropin có tác dụng ức chế thần kinh phó giao cảm, cụ thể là nhánh phó giao cảm của dây TK III do vậy cơ vòng mống mắt giãn ra giúp đồng tử giãn. Th­ờng lần đầu dùng dd Atropin 4% nhỏ mắt cho bệnh nhân, khi đồng tử giãn tối đa thì dùng dd Atropin 1% nhỏ ngày 1 lần để duy trì.

Cơ vòng thể mi cũng chịu tác dụng t­ương tự như­ cơ vòng mống mắt khi nhỏ dd Atropin. Vì vậy ngoài tác dụng chống dính, Atropin còn làm liệt điều tiết giúp giảm đau và mắt đư­ợc nghỉ ngơi.

Khi dùng dd Atropin nhỏ mắt, cần bịt lỗ lệ để tránh thuốc xuống miệng gây ngộ độc như­ khô miệng, đỏ mặt, mạch nhanh...
3. Thuốc tách dính:

Một số tr­ường hợp mống mắt đã dính vào thể thuỷ tinh, do đó không đáp ứng khi nhỏ dd dịch Atropin, khi đó phải dùng hỗn hợp Adrenalin 1mg + Atropin sulphat 1/4mg tiêm dư­ới kết mạc vùng rìa t­ương ứng để tách dính. Nếu dính toàn bộ có thể tiêm 4 điểm 12h, 3h, 6h, 9h.

Chú ý: Thận trọng khi dùng cho bệnh nhân có bệnh tim mạch, tăng huyết áp.

4. Thuốc chống viêm:

Hầu hết các thành phần trong mắt khi bị viêm đều dễ bị tổn th­ương và khó hồi phục. Vì vậy vai trò của thuốc chống viêm đ­ược đặt lên hàng đầu, đặc biệt là corticoid, trong viêm màng bồ đào corticoid đ­ược dùng tích cực bằng nhiều đ­ường cùng 1 lúc: toàn thân có thể dùng Dexamethason 4mg 1-2 ống/ngày tiêm bắp hoặc tĩnh mạch, Depecsolon 30mg 1-2 ống/ngày tiêm tĩnh mạch chậm; tại chỗ th­ường dùng Dexamethason 4mg x 1ml tiêm cạnh nhãn cầu; tra nhỏ các thuốc có chứa corticoid nh­ư dd Maxitrol, dd Dextobrin, dd Oclex... Liều l­ượng và thời gian dùng corticoid có thể cao hơn hoặc thấp hơn tuỳ theo tình trạng bệnh.

Corticoid có nhiều tác dụng phụ như­ đau dạ dày, cao huyết áp, giảm sức đề kháng, loãng x­ương, đục TTT, glocom... nên cần theo dõi chặt chẽ khi dùng thuốc. Không dùng corticoid cho bệnh nhân viêm màng bồ đào do nấm hoặc có loét giác mạc.

Một số tr­ường hợp chống chỉ định với corticoid có thể thay thế bằng các thuốc chống viêm nonsteroid như­ Indomethacin, Diclofenac...đư­ờng toàn thân, tra nhỏ như­ng hiệu quả kém hơn nhiều so với corticoid.

Các thuốc có tác dụng chống viêm, tiêu viêm, giảm phù nề dạng enzym như­ Hyase, Serratiopeptidase, Alphachymotrypsin... đ­ường uống hoặc tiêm cũng có tác dụng đáng kể trong điều trị viêm màng bồ đào. Cơ chế tác dụng của các thuốc này là:

- Chống viêm và phù nề: làm cho tuần hoàn máu ở ổ viêm đ­ược tốt hơn do phá huỷ các chất xuất tiết và protein bất th­ường và thúc đẩy các chất phân giải trên qua thành mạch máu và bạch huyết.
- Tăng nhanh quá trình thải trừ sản phẩm viêm và lọc máu do làm lỏng các dịch tiết nhày, các nút fibrin và phân giải các chất đó.
Các thuốc này còn có tác dụng tăng c­ường nồng độ kháng sinh ở ổ viêm.

5. Thuốc ức chế miễn dịch:

Các thuốc ức chế miễn dịch chủ yếu tiêu diệt hoặc ức chế các tế bào lympho là yếu tố gây viêm, các thuốc này thư­ờng gây độc cho tế bào và gây quá nhiều tác dụng phụ nên chỉ đư­ợc dùng trong một số trư­ờng hợp đặc biệt liên quan tới yếu tố miễn dịch như­: hội chứng Behcet, hội chứng Vogt-Koyanagi-Harada, nhãn viêm đồng cảm hay các viêm màng bồ đào không đáp ứng với corticoid.


6. Thuốc giảm đau, an thần:
Đây là các thuốc điều trị triệu chứng, các thuốc liệt thể mi như­ dd Atropin, dd Homatropin có tác dụng giảm đau tốt. Thuốc giảm đau tác dụng toàn thân có nhiều loại như­ng chỉ nên dùng thuốc có ít tác dụng phụ nhất như­ Paracetamol với liều l­ượng 20-30mg/kg thể trọng/24h chia 3-4 lần.

Nếu cần thiết, có thể cho thêm các thuốc an thần như Diazepam liều thông th­ường cho ngư­ời lớn là 5-10mg vào buổi tối.

7. Thuốc điều trị hỗ trợ:

- Các thuốc đa sinh tố có chứa Vitamin A, B, C, E, PP... có tác dụng tốt cho mắt và nâng cao thể trạng, vì vậy cũng cần thiết khi điều trị bệnh mắt nói chung và viêm màng bồ đào nói riêng.
- Các thuốc hỗ trợ gan như­: Fotex, Boganic, saganin...
- Trong viêm màng bồ đào, một số tr­ường hợp nặng thuỷ dịch quá nhiều mủ vì vậy chất l­ượng nuôi d­ưỡng đối với giác mạc không đảm bảo. Khi đó cần cho bệnh nhân dùng các dd dinh dư­ỡng giác mạc tại chỗ như­: dd Vitamin A, dd CB2, Sanlein, Oculotex...

8. Điều trị biến chứng:

Biến chứng đầu tiên th­ường gặp cần xử trí kịp thời là tăng nhãn áp. Ngoài các thuốc giãn đồng tử, tách dính nh­ư đã nêu ở trên có thể dùng thêm Diuramid 250mg x 1-2 viên uống 1 lần trong ngày.

Các biến chứng khác như­: đục TTT, cốt hoá dịch kính, thoái hoá giác mạc hình dải băng, bong võng mạc... cân nhắc ph­ương pháp điều trị thích hợp sau khi bệnh đã yên.
9. Phẫu thuật, thủ thuật điều trị:

Trong các hình thái nặng, nếu tìm đ­ược nguyên nhân gây bệnh, có thể cân nhắc việc tiêm nội nhãn hoặc dùng kim 2 lòng rửa mủ tiền phòng bằng thuốc đặc hiệu pha loãng trong nư­ớc cất, dd RL, dd Nacl 9‰...

Trong viêm màng bồ đào có thể tiến hành một số phẫu thuật, thủ thuật nhằm mục đích chẩn đoán hay phòng bong võng mạc như­: chích tiền phòng, sinh thiết dịch kính để tìm căn nguyên hoặc cắt dịch kính, laser phòng bong võng mạc.

Đa số các phẫu thuật còn lại là để điều trị biến chứng như­: đục TTT, glocom, bong võng mạc...

10. Một số điểm l­ưu ý:

Viêm màng bồ đào là một bệnh nặng, thái độ xử trí tích cực vì vậy cùng một lúc bệnh nhân phải dùng nhiều loại thuốc. Trong khi đó đa số các thuốc đều có nhiều tác dụng phụ không mong muốn đặc biệt nh­ư: Corticoid, thuốc ức chế miễm dịch, thuốc chống lao, chống nấm, kháng sinh, chống virus... Vì vậy trong quá trình điều trị cần cân nhắc thận trọng, tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Không lạm dụng thuốc, chỉ cho bệnh nhân dùng những thuốc thực sự cần thiết.
- Luôn theo dõi chặt chẽ tình trạng bệnh nhân, làm các xét nghiệm đánh giá chức năng gan, thận, các thành phần tế bào... định kỳ.
- Điều chỉnh phác đồ điều trị kịp thời theo tình trạng bệnh nhân.

Theo http://www.benhhoc.com

Bệnh đău mắt hột

BỆNH MẮT HỘT



Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, đa số những tín hiệu của cuộc sống đều được con người cảm nhận nhờ đôi mắt. Tuy nhiên mắt lại là cơ quan rất dễ bị tổn thương hay bệnh tật, vì vậy mỗi chúng ta cần phải hiểu rõ những bệnh lý thường xuyên xảy ra đối với mắt để có ý thức bảo vệ và giữ gìn cửa sổ tâm hồn của mình.

Một trong những bệnh lý về mắt tương đối thường gặp, có tính chất xã hội, lây lan do tình hình vệ sinh phòg bệnh kém, đó là bệnh mắt hột.

Mắt hột rất dễ phát triển và lây lan đặc biệt ở các nước đang phát triển, và là một trong những bệnh gây mù lòa hiện nay trên thế giới, và hàng triệu người mù hẳn do mắt hột gây ra. Bệnh thường xảy ra nhiều ở vùng nông thôn do điều kiện vệ sinh kém. Và một trong những biểu hiện biến chứng của mắt hột ta thường thấy và gọi nôm na là bị "mắt toét".

Vậy mắt hột là gì ? tại sao lại bị mắt hột ? và làm thế nào để phòng ngừa bệnh mắt hột ? là vấn đề mà hôm nay chúng tôi sẽ nói cùng quí vị.

Mắt hột là gì ? Bệnh mắt hột là tình trạng viêm kết mạc - giác mạc mãn tính, tiến triển thành dịch, lây lan, đặc điểm là hình thành những hột, và những tổn thương sẹo điển hình ở mắt (hình 1 mắt bị mắt hột).

Nguyên nhân gây ra bệnh mắt hột

Mắt hột bị gây ra do vi sinh vật tên là CHLAMYDIA TRACHOMATIS (Từ TRACHOMA do gốc từ HYLẠP nghĩa là sù sì và sưng phồng)

Hình thức lây lan:

Như tôi đã nói ở phần trên, tình trạng vệ sinh kém là yếu tố cơ bản của sự sinh bệnh, lan truyền và mức độ nặng nhẹ của bệnh mắt hột. Mắt hột có ở khắp mọi nơi trên thế giới đặc biệt ở những nước nghèo, kém phát triển. Bệnh lây truyền chủ yếu do:
- Tay bẩn, nước bẩn
- Dùng chung khăn mặt, thau rửa mặt
- Tắm ao hồ, sử dụng nước ao hồ trong sinh hoạt
- Hoặc do ruồi nhặng đậu từ mắt người này qua mắt người kia.

Các triệu chứng của bệnh mắt hột

Biểu hiện bệnh của mắt hột rất đa dạng, đa hình, có thể từ rất nhẹ, không có triệu chứng gì cả đến những trường hợp bệnh nặng nề, kéo dài dai dẳng, nhiều biến chứng nguy hiểm và có thể dẫn đến mù lòa.

Thông thường khi bị bệnh mắt hột bệnh nhân sẽ có những triệu chứng sau đây:
- Xốn mắt, vướng mắt như có hạt bụi trong mắt
- Ngứa mắt
- Hay mỏi mắt, thường về chiều.

Tiến triển của mắt hột

Bệnh mắt hột biểu hiện rất đa dạng, đa hình, có những trường hợp nhẹ nhàng không cần điều trị cũng tự khỏi, nhưng đôi khi rất nặng nề và nguy hiểm cho đôi mắt. Thông thường chúng ta sẽ gặp hai thể bệnh sau đây:

- Thể nhẹ: (còn gọi là mắt hột đơn thuần) tổn thương chỉ xuất hiện ở lớp biểu mô kết mạc và dừng lại ở đó. Bệnh nhân không có triệu chứng gì, hoặc chỉ ngứa mắt, xốn mắt, mỏi mắt, đôi khi hay chảy nước mắt. Thể này không để lại di chứng và không gây mù. Không điều trị có thể tự khỏi nếu không bị tái nhiễm.

- Thể nặng: xâm nhập xuống cả những lớp sâu bên dưới của mắt. Biểu hiện bệnh trầm trọng, nặng nề và kéo dài, không thể tự khỏi nếu không được điều trị tốt. Có thể gây nhiều biến chứng, và có thể dẫn đến mù lòa.

Biến chứng:

Bệnh mắt hột có rất nhiều biến chứng biểu hiện, và rất dễ dàng lây nhiễm, tỷ lệ mắc bệnh trong dân số cao. Vậy thì khi mắc bệnh mắt hột chúng ta sẽ có nguy cơ bị những biến chứng gì ? Thông thường mắt hột có thể gây ra các biến chứng sau đây:

- Viêm kết mạc mãn tính: làm cho mắt đỏ, lèm nhèm quanh năm. Người ta hay nói đùa viêm kết mạc là "người bạn đồng hành" của mắt hột.

- Sạn vôi kết mạc: Do các ổ loét trên kết mạc đọng vôi vào chất tiết bã hình thành, nhìn giống như hạt cát có màu trắng đục, lúc đầu nằm ở sâu về sau trồi dần lên. Khi chớp mắt các sạn vôi này cọ sát làm cộm mắt rất khó chịu.

- Lông quặm, lông siêu (hình lông quặm): là tình trạng lông mi bị xiêu vẹo, biến dạng, quặp vào như bàn chải chà vào giác mạc gây tổn thương, trầy sướt giác mạc gây sẹo lồi trên giác mạc, làm mờ đục giác mạc, loét giác mạc, nguy hiểm hơn nếu kết hợp với tình trạng nhiễm trùng sẽ gây viêm mủ nhãn cầu phải khoét bỏ mắt hoặc làm teo mắt và gây mù. Có ba mức độ quặm:

1. Độ 1: lông mi dọa chạm vào giác mạc
2. Độ 2: lông mi đã chạm vào giác mạc
3. Độ 3: lông mi chạm nhiều vào giác mạc, quét trên bề mặt giác mạc.

* Viêm sụn mi: là tình trạng dày lên, xơ hóa, làm biến dạng sụn mi
* Loét giác mạc: bệnh nhân có tình trạng đau mắt, nhức mắt, sợ ánh sáng. Nếu được chẩn đoán và điều trị sớm sẽ biến dạng giác mạc gây loạn thị, đục giác mạc và dẫn đến mù lòa.

* Bội nhiễm: thường là do bệnh mắt hột làm cho giác mạc bị tổn thương đề kháng kém với tình trạng nhiễm khuẩn, vì vậy khi bị bệnh mắt hột, mắt của bệnh nhân sẽ sưng, giảm khả năng chống chọi với những thâm nhập từ bên ngoài dễ bị nhiễm trùng, nhiễm siêu vi và cả nhiễm vi nấm, những tác nhân này sẽ dẫn đến viêm giác mạc loét giác mạc, những trường hợp nặng có thể gây mù lòa.

* U hột của bệnh mắt hột: u hột ở vùng rìa lan vào đồng tử và có khi có cả trên toàn bộ giác mạc.

* Loạn thị: do sạn vôi và các sẹo mắt hột cọ sát lâu ngày trên giác mạc làm giác mạc gồ ghề, lởm chởm, sai lệch đường đi của ánh sáng vào mắt gây loạn thị, giảm thị lực.

* Khô mắt, khô giác mạc: do các ống tuyến bị teo, giảm tiết dịch. Mắt trắng khô như mắt tượng, mờ hẳn. Khô mắt có thể dẫn tới tình trạng loét giác mạc, thủng giác mạc và gây mù mắt.

* Viêm tuyến lệ, tắc ống dẫn lệ: gây ra triệu chứng mờ mắt, chảy nước mắt sống. Bệnh nhân bị mắt hột có biến chứng sẽ có 3 triệu chứng mà chúng ta hay gọi là tình trạng mắt toét gồm :
+ Trụi lông mi
+ Mắt ướt
+ Bờ mi đỏ.

Điều trị:

Như chúng tôi vừa trình bày bệnh mắt hột chiếm tỉ lệ rất cao trong dân số, biểu hiện bệnh từ những trường hợp rất nhẹ nhàng, không có triệu chứng gì cả, có thể tự khỏi không cần điều trị đến những trường hợp nặng nề, nhiều biến chứng nếu không điều trị sẽ đưa đến mù lòa. Vì vậy khi mắc bệnh mắt hột hoặc có các triệu chứng nghi ngờ bị bệnh các bạn phải đến khám tại bác sĩ chuyên khoa để được hướng dẫn biện pháp điều trị hữu hiệu.

Cách điều trị mắt hột phổ biến hiện nay là nhỏ thuốc nhỏ mắt hoặc tra thuốc mỡ vào mắt theo sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Thuốc thường được sử dụng hiện nay là thuốc mữ Pomade TETRACYCLINE 1%, tra mắt vào ban đêm trong 5 đến 10 ngày liền mỗi tháng kéo dài từ 6 tháng đến 1 năm. Những trường hợp nặng, bác sĩ sẽ chỉ định thuốc uống phối hợp với thuốc tra mắt.

Việc điều trị phẫu thuật được đặt ra khi có biến chứng như lông quặm, trong thực tế thăm khám hàng ngày chúng tôi đã chứng kiến những trường hợp phải bỏ mắt vì nghe những người không chuyên khoa đắp lá lên mắt, hoặc ghê rợn hơn có người còn tìm đến thầy lang, thầy vườn để được rơ mắt bằng lưỡi, do đó các bạn phải đến khám tại thầy thuốc chuyên khoa khi thấy bất kỳ dấu hiệu nào gây khó chịu mà không tự ý điều trị.

Phòng ngừa

Mắt hột là bệnh dễ mắc và dễ lây nhiễm như đã nói, và khi bị bệnh mắt hột chúng ta sẽ có nguy cơ mù lòa vì những biến chứng của nó. Vì vậy phòng ngừa mắc bệnh cũng như hạn chế tỉ lệ mù lòa vì những biến chứng của mắt hột mà một trong những mục tiêu của chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu của chúng ta.

Để phòng ngừa chúng ta cần lưu ý các vấn đề sau đây:

1. Giữ gìn vệ sinh cá nhân cho mắt bằng các biện pháp:
- Rửa mặt bằng khăn mặt riêng sạch, nước rửa sạch.
- Giữ tay sạch, không dụi bẩn lên mắt, nhất là các em nhỏ
- Không tắm ao hồ, tránh để nước bẩn bắn vào mắt.
- Đi đường gió bụi nên đeo kính mát, về nhà nên rửa mặt sạch sẽ
- Tiêu diệt ruồi nhặng là trung gian truyền bệnh
2. Đến khám bác sĩ ngay khi có những triệu chứng khó chịu ở mắt.
3. Kiên trì điều trị theo sự hướng dẫn của bác sĩ.

Theo http://www.medinet.hochiminhcity.gov.vn

Thuốc gì chữa đau mắt hột?



Gần đây lúc nào tôi cũng có cảm giác mỏi mắt, nhất là về chiều. Trong mắt lúc nào cũng thấy cộm như có hạt bụi bay vào. Vạch mi mắt lên thấy những hạt nhỏ li ti. Đi khám ở y tế cơ sở tôi được biết mình bị đau mắt hột. Tôi có tra thuốc ở trạm y tế xã cho nhưng vẫn không thấy đỡ. Xin hỏi có thuốc nào để chữa bệnh này?

Hoàng Văn Giang (Nam Định)

Đau mắt hột là tình trạng viêm kết mạc - giác mạc mạn tính do Clamydia Trachomatis gây ra. Bệnh tiến triển có khi thành dịch lây lan, với đặc điểm là hình thành những hột và những tổn thương sẹo điển hình ở mắt, làm cho người bệnh cảm thấy cộm mắt như có hạt bụi trong mắt.

Đây là bệnh thường gặp, nhất là ở những vùng thiếu nước sạch, vệ sinh phòng bệnh kém...

Thuốc thường được sử dụng điều trị bệnh mắt hột hiện nay là thuốc mỡ tetracyclin 1%. Dùng thuốc tra mắt vào ban đêm trong 5-10 ngày liền mỗi tháng, kéo dài từ 6 tháng đến 1 năm. Kèm theo có thể uống một trong các thuốc sau: tetracyclin, erythromycin, doxycyclin... trong 3-4 tuần. Việc dùng thuốc nhỏ mắt (đối với thuốc nước), hay tra mắt (đối với thuốc mỡ) phải theo sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Trường hợp mắt hột có biến chứng: lông quặm, sẹo giác mạc toàn bộ... cần phải điều trị bằng phẫu thuật.

Mắt hột là bệnh dễ mắc và dễ lây nhiễm. Người bị bệnh mắt hột sẽ có nguy cơ mù lòa vì những biến chứng của nó. Vì vậy cần phải phòng ngừa bệnh mắt hột bằng cách giữ gìn vệ sinh mắt cho tốt: không dùng chung khăn mặt, rửa mặt bằng nước sạch và khăn sạch; không dụi tay bẩn lên mắt, luôn giữ cho tay sạch, rửa tay ngay sau khi đi cầu; không tắm ao hồ, tránh để nước bẩn bắn vào mắt; đi đường gió bụi nên đeo kính bảo vệ mắt, về nhà nên rửa mặt sạch sẽ và tiêu diệt ruồi nhặng.

Khi có những triệu chứng khó chịu ở mắt cần đến bác sĩ để được khám bệnh và chỉ định điều trị dùng thuốc cho đúng. Kiên trì điều trị theo sự hướng dẫn của bác sĩ. Để tránh những tai biến đáng tiếc xảy ra, khi bị bệnh ở mắt không nên đắp hoặc nhỏ bất kỳ thứ gì vào mắt nếu như chưa có chỉ định của bác sĩ.

BS. Lê Bách

Bệnh đau mắt đỏ

Đau mắt đỏ (ĐMĐ) còn gọi là viêm kết mạc. Nguyên nhân của ĐMĐ thường là nhiễm vi khuẩn, virut hoặc phản ứng dị ứng... Mặc dù ĐMĐ gây kích thích mắt nhưng hiếm khi ảnh hưởng đến thị lực.



Hình ảnh viêm kết mạc mắt (Internet)

ĐMĐ có nguy cơ lây nhiễm cao trong vòng 2 tuần từ khi bị bệnh nên việc chẩn đoán và điều trị sớm là rất quan trọng.

Dấu hiệu nào nhận biết ĐMĐ?

Triệu chứng của ĐMĐ thường là: đỏ một hoặc cả hai mắt; ngứa một hoặc cả hai mắt; cảm giác có sạn ở trong mắt; rỉ dịch ở một hoặc hai mắt; chảy nước mắt. ĐMĐ làm cho bạn có cảm giác như có một vật gì ở trong mắt mà không thể lấy ra được. Khi thức dậy mắt bị dính chặt lại do màng dử mắt (ghèn, rheum).

Viêm kết mạc thường bị cả hai mắt mặc dù bệnh có thể xảy ra ở một mắt sau đó lây sang mắt kia sau một hoặc hai ngày. Bệnh có thể không cân xứng, một mắt nặng hơn mắt kia.

I. Xử trí khi bị ĐMĐ

Tùy nguyên nhân mà dùng các thuốc phù hợp.

1. Viêm kết mạc do vi khuẩn:

ĐMĐ do virut hoặc vi khuẩn có thể xảy ra ở một hoặc hai mắt. ĐMĐ do virut hay chảy nước mắt hoặc dịch nhầy. ĐMĐ do vi khuẩn thường tạo ra dử dày hơn, màu vàng xanh và có thể liên quan với nhiễm khuẩn hô hấp hoặc viêm họng. Cả ĐMĐ do virut và vi khuẩn có thể liên quan với cảm lạnh.

- Dấu hiệu chủ quan (bệnh nhân thấy): Buổi sáng mắt dính, khó mở, ghèn nhiều.

- Khám nghiệm: Có nhiều ghèn (thường ở một mắt), mắt có màu đỏ như thịt bò tươi.

- Ðiều trị: ĐMĐ do vi khuẩn được điều trị bằng kháng sinh do bác sĩ khám và kê đơn. Kháng sinh có thể được dùng dưới dạng nhỏ mắt, mỡ hoặc viên uống. Thuốc nhỏ hoặc mỡ cần được tra trong mắt 3-4 lần một ngày trong 5-7 ngày. Thuốc mỡ hay dùng để tra vào mắt trẻ. Nhiễm khuẩn sẽ cải thiện trong vòng 1 tuần. Bạn cần dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ thậm chí cả khi triệu chứng bệnh đã hết.

2. Viêm kết mạc do siêu vi:

ĐMĐ do virut sẽ thấy các triệu chứng trầm trọng hơn vào 3-5 ngày đầu. Sau đó các triệu chứng giảm dần và bệnh có thể tự khỏi. ĐMĐ do virut và vi khuẩn đều rất dễ lây. Người lớn cũng như trẻ em đều có thể bị hai loại nguyên nhân này nhưng ĐMĐ do vi khuẩn hay gặp ở trẻ em hơn.

- Dấu hiệu chủ quan: Chảy nước mắt nhiều, cảm giác có vật lạ ở trong mắt. Lây lan thường xuất hiện vào mùa có dịch.

- Khám nghiệm: Mắt đỏ nhiều, sưng. Thường bị cả hai mắt, có thể chảy máu ở tròng trắng, có hạch hai bên dái tai, đôi khi sốt.

- Ðiều trị: Nhỏ thuốc sát trùng, kháng sinh ngừa bội nhiễm. Giữ vệ sinh mắt để tránh lây lan.

3. Viêm kết mạc do dị ứng:

ĐMĐ do dị ứng thường bị ở cả hai mắt và là một phản ứng dị ứng với chất gây dị ứng. Trong phản ứng dị ứng, cơ thể tạo ra một kháng thể gọi là IgE. Kháng thể này khởi động các tế bào đặc biệt gọi là các tế bào mast trong lớp nhầy của mắt và đường thở để giải phóng các chất kháng viêm là histamin. Việc giải phóng histamin có thể gây ra nhiều triệu chứng dị ứng trong đó có đỏ mắt. Nếu bị ĐMĐ dị ứng bạn sẽ rất ngứa, chảy nước mắt và viêm mắt, hắt hơi, sổ mũi, có thể phù nề kết mạc trông như vết phỏng trong lòng trắng. Bác sĩ có thể kê cho bạn một trong các loại thuốc tra mắt dưới đây: kháng histamin, thuốc thông mũi, ổn định tế bào mast, chống viêm steroid và các thuốc chống viêm khác. Thuốc tra corticoid thường được dùng nhưng cần có sự giám sát của bác sĩ mắt. Quan trọng là phải phát hiện được nguyên nhân gây dị ứng để loại bỏ.

4. Viêm kết mạc do nhiễm hóa chất:

Triệu chứng kích thích do nhiễm hóa chất hoặc dị vật cũng có liên quan đến ĐMĐ. Đôi khi việc rửa để loại bỏ hóa chất hoặc dị vật có thể gây đỏ mắt. Triệu chứng thường bao gồm dử nhày mắt, không có mủ, thường tự khỏi trong vòng một ngày. Dùng nước ấm rửa mắt trong vòng 5 phút. Mắt bạn có thể dễ chịu hơn trong vòng 4 tiếng sau rửa chất kích thích, nếu không đỡ bạn cần gặp bác sĩ.

II. Những lưu ý khi bị ĐMĐ:

- Bạn có thể làm dịu khó chịu bằng cách đắp khăn ấm lên mắt bị đau. Ngâm một miếng vải sạch trong nước ấm và vắt nước trước khi đặt nó nhẹ nhàng lên mắt đau.

- Rửa mặt và mắt bằng xà phòng nhẹ hoặc dầu gội đầu trẻ em, rửa với nước để loại bỏ chất kích thích.

- Với ĐMĐ dị ứng, tránh dụi mắt vì làm thế bạn không giảm được ngứa. Thay vì việc đó bạn nên đắp một miếng gạc lạnh để làm dịu. Cũng có thể dùng thuốc tra mắt không kê đơn như Naphcon-A hoặc Opcon-A, chứa kháng histamin và tác nhân gây co mạch.

- Thuốc không cần kê đơn có thể giúp bạn giảm ngứa và bỏng rát mắt do chất kích thích. Cần chú ý là thuốc tra mắt cũng có thể gây kích thích mắt do đó cần dừng thuốc đó ngay.

III. Phòng bệnh:

Vệ sinh tốt là cách tốt nhất để kiểm soát lây lan ĐMĐ. Một khi đã được chẩn đoán là đau mắt đỏ bạn cần thực hiện các bước sau:

- Không dụi mắt bằng tay.

- Rửa tay kỹ và thường xuyên với nước ấm, điều này rất quan trọng.

- Lau rửa dịch dử mắt 2 lần một ngày bằng khăn giấy hoặc cotton ẩm, sau đó vứt ngay.

- Giặt ga giường, vỏ gối, khăn tắm trong nước tẩy và ấm.

- Tránh dùng chung các vật dụng như khăn mặt, chậu rửa.

- Rửa tay sau khi tra thuốc mắt.

- Không tra vào mắt lành thuốc nhỏ của mắt đang bị nhiễm khuẩn.

Bs Nguyễn Chí Phong tổng hợp.

Xử trí với bệnh đau mắt đỏ



Bất kỳ ai cũng có thể bị bệnh đau mắt đỏ. Bệnh lây truyền khi dùng chung khăn mặt, nước mắt, ghèn của người bệnh đau mắt đỏ tiếp xúc với người lành. Cho tới nay chưa có thuốc ngừa bệnh đau mắt đỏ.
Bệnh này lây lan rất nhanh, dễ phát thành dịch nếu có người mắc bệnh đang ở trong cộng đồng đông người như: trường học, bệnh viện, công xưởng... Vì thế nếu có một người mắc bệnh nên ngay lập tức nghỉ ở nhà để tránh lây lan cho cộng đồng xung quanh.

Người bệnh nên hạn chế tối đa tiếp xúc với người khác, nên đeo kính khi ra đường... Nếu cả nhà đều bị đau mắt đỏ thì mỗi người dùng riêng một chai thuốc nhỏ. Vì nhỏ mắt chung một chai thuốc là cách lây truyền bệnh nhanh nhất và trực tiếp nhất.

Khi có bệnh mắt đỏ cần vừa nhỏ thuốc vừa giữ vệ sinh hằng ngày bằng dung dịch nước muối. Đắp mắt bằng khăn lạnh sẽ làm mắt ít sưng hơn. Trước và sau rửa mắt phải rửa tay bằng dung dịch vệ sinh thật kỹ.

Nếu được điều trị đúng cách và giữ vệ sinh tốt người bệnh sẽ khỏi trong vòng 7 ngày.

Không nên tự ý dùng lá cây đắp mắt theo cách chữa trị dân gian vì ấu trùng giun trong lá có thể chui vào mắt và gây biến chứng nặng nề cho mắt.

Tuy cùng một biểu hiện nhưng bệnh đau mắt đỏ có nhiều dạng khác nhau: viêm kết mạc (lòng trắng), viêm giác mạc (lòng đen), có màng giả... Chỉ khi khám, bác sĩ mới biết người bệnh bị đau mắt loại nào và căn cứ vào từng lứa tuổi, tình trạng mà có chỉ định dùng loại thuốc nào cho phù hợp.

Do vậy không thể dùng một thuốc nhỏ duy nhất cho tất cả mọi trường hợp bệnh mắt.

Theo VnExpress

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2011

Kính sát tròng điều chỉnh tật cận thị

(TNO - 8/5/2011) Chỉ đeo chúng vào buổi tối và gỡ ra vào buổi sáng sẽ giúp mang lại thị giác bình thường vào ban ngày mà không cần dùng đến kính sát tròng.

Tật cận thị ở trẻ em có thể tiến triển chậm đi hoặc thậm chí ngừng lại bằng cách đeo cặp kính đặc biệt này.
Theo trang tin Top News, phát hiện này cho thấy kính mắt orthokeratology có thể giúp giảm thiểu tỷ lệ mắc tật cận thị ngày càng nhiều cũng như độ nặng của tật cận thị trên thế giới và đặc biệt ở châu Á.


“Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy kính mắt orthokeratology tỏ ra hiệu quả, ít nhất là về ngắn hạn, trong việc ngăn chặn những biến chuyển ở mắt làm gia tăng cận thị”, bà Helen Swarbrick, trưởng nhóm nghiên cứu thuộc Đại học New South Wales (Úc), cho biết.

Kính orthokeratology đã được sử dụng trong nhiều năm và chủ yếu dùng để điều chỉnh tật cận thị từ nhẹ đến trung bình.

“Sau khi đeo kính trong một giờ và tháo ra, nhiều người cận thị có thể đọc thêm 2 dòng ở bên dưới trên bảng chữ cái chuẩn dùng để đo thị lực tiêu chuẩn”, bà Helen nói.

“Hiệu quả thật ấn tượng. Sau một đêm đeo kính orthokeratology, thị lực của người sử dụng có thể cải thiện đến mức họ nhìn thấy thêm được từ 6 đến 7 dòng trên bảng chữ cái chuẩn”.

Nghiên cứu cho thấy hầu hết trẻ em đeo kính orthokeratology ức chế ly độ của mắt trong khi kính bình thường không thể làm được điều đó.

Quyên Quân

Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2011

Bệnh của mắt

Đừng coi thường khi mắt mờ hoặc đỏ, rất có thể bạn đang là nạn nhân của một trong năm căn thường gặp nhất của mắt.

1- Cận thị

Bắt bệnh: Đó đơn giản là khi bạn không thể hoặc khó có thể nhìn thấy vật ở xa. Nguyên nhân chưa được xác định, song rất có thể do mắt phải làm việc nhiều quá.


Đối tượng: Nguy cơ mắc bệnh của bạn sẽ cao hơn, nếu bố hoặc mẹ bạn bị cận thị.

Giải pháp: Đeo kính hoặc kính áp tròng. Cũng có thể chữa khỏi vĩnh viễn bằng cách phẫu thuật lasik. Tuy nhiên, chỉ cho kết quả với những đối tượng cụ thể. Ngoài ra, biện pháp NeuroVision - loạt các bài tập tương tác dựa trên máy tính cũng có thể hạ cấp độ cận thị.

2- Bệnh về võng mạch

Bắt bệnh: Có hai vấn đề về võng mạc đặc biệt nghiêm trọng là tách võng mạc và màng lưới do tiểu đường. Khi võng mạc bị tách ra khỏi các lớp bên ngoài của mắt, thị lực sẽ yếu dần hoặc mất hoàn toàn.

Nguyên nhân của chứng tách võng mạc là do dịch lỏng tràn vào các hố hoặc nước mắt trong võng mạc, chia tách nó khỏi các lớp phía dưới. Các đốm đen sưng phồng và các đốm sáng loé là triệu chứng của bệnh.

Khi mắt thấy có bóng đen, thị lực mờ hoặc mù hẳn thì bệnh đã đến hồi nguy cấp. Bệnh màng lưới do tiểu đường là hậu quả do bệnh tiểu đường huỷ hoại các mạch máu li ti bên trong võng mạc, dẫn đến mù loà.

Đối tượng: Phụ nữ từng phẫu thuật đục nhãn mắt hoặc gia đình có tiền sử về bệnh võng mạc và phụ nữ bị cận thị nặng rất dễ bị tách võng mạc. Bệnh màng lưới chỉ có thể xảy ra với những người bị tiểu đường.

Giải pháp: Phẫu thuật, dùng đá lạnh chữa bệnh hoặc laser photocoagulation được dùng để điều trị bệnh tách võng mạc. Laser photocoagulation và phẫu thuật vitrectomy thường dùng trong điều trị màng lưới do tiểu đường.

3-Tăng nhãn áp

Bắt bệnh: Thường xảy ra khi có sự gia tăng về áp lực dịch lỏng trong nhãn cầu, phá huỷ dây thần kinh thị giác, có thể dẫn đến mù loà. Nguyên nhân chính là do sự mất cân bằng giữa việc sản xuất và rút thoát chất dịch lỏng trong nhãn cầu.

Có loại tăng nhãn áp: Góc độ mở và góc độ đóng. Tăng nhãn áp góc độ mở không hề có triệu chứng gì cho đến khi bệnh đã đến giai đoạn cuối. Ngược lại, người bị tăng nhãn áp, góc độ đóng có thể thấy mắt đau, đỏ, đau đầu, buồn nôn và nôn, thị lực mở hoặc thấy hào quang khi nhìn.

Đối tượng: Người trung niên hoặc người già.

Giải pháp: Nhỏ thuốc mắt hoặc uống thuốc viên, phẫu thuật hoặc chiếu tia laser.

4- Đục nhân mắt

Bắt bệnh: Đó là khi thuỷ tinh thể của mắt bị vẩn đục, ngăn ánh sáng vừa đủ vào mắt và do đó ảnh hưởng đến thị lực. Đây là hậu quả của quá trình lão hoá, thường xuyên tiếp xúc với tia cực tím, dùng thuốc trong thời gian dài và do các bệnh khác.

Triệu chứng cơ bản nhất là do thị lực mờ và không thể cải thiện dù đã dùng đủ các loại kính hoặc độ cận tăng lên.

Đối tượng: Thường là phụ nữ trên 55 tuổi dễ mắc bệnh hơn, song những người trẻ cũng không nên chủ quan.

Giải pháp: Phẫu thuật Phacoemulsication có thể chữa khỏi vĩnh viễn.

5- Bệnh có liên quan đến tuyến giáp

Bắt bệnh: Thyroid Eye Disease (TED) là bệnh về mắt do tuyến giáp chịu trách nhiệm điều khiển trao đổi chất của cơ thể gây nên. Bệnh nhân (TED) thường thấy hoa mắt, nhãn cầu lồi ra, mí mắt sưng vù và thị lực mờ hoặc nhìn một hoá hai.

Đôi khi, mắt đỏ, chảy nước mắt và cảm giác có sạn trong mắt cũng sẽ xuất hiện.

Đối tượng: Phụ nữ dễ bị mắc bệnh hơn nam giới.

Giải pháp: Phẫu thuật giảm bớt sức ép để nhãn cầu bớt lồi. Phẫu thuật làm cho lác mắt để chữa chứng nhìn một hoá hai và phẫu thuật rút bớt mí để giảm sưng và chữa hoa mắt.

Khi nào nên đi khám mắt?

Nhãn áp: Phụ nữ ở độ tuổi 40 hoặc trên 40 nằm trong diện có nguy cơ cao, nên đi kiểm tra mắt thường xuyên, đặc biệt nếu gia đình có tiền sử tăng nhãn áp.

Đục nhân mắt: Khám mắt thì uống steroid trong thời gian dài và hiện tượng mờ mắt của bạn không thể dùng kính mà chữa khỏi được.

Cận thị: Khám mắt ít nhất mỗi năm 1 lần.

Bệnh mắt do tuyến giáp: Nên đi kiểm tra mắt nếu bạn có bệnh về tuyến giáp.

Bệnh về võng mạc: Thường xuyên khám mắt nếu bạn bị cận thị hoặc bị tiểu đường.

Mẹo chăm sóc mắt

Thường xuyên khám mắt. Phát hiện sớm có khả năng chữa khỏi các bệnh về mắt. Khi đi ra ngoài, đeo kính râm để bảo vệ mắt ra khỏi tia UV và tránh được bệnh đục nhãn mắt.

Luôn đọc sách báo dưới ánh sáng tốt để tránh căng thẳng cho mắt. Cứ sau nửa tiếng làm việc bằng mắt nhiều, nên cho mắt nghỉ bằng cách nhìn chỗ khác hoặc nhìn vật thể ở xa.

Theo Sành Điệu

Oxy hóa - lão hóa mắt

Lão hóa là qui trình tất yếu trong mọi cơ thể sống. Trên cơ thể con người, đặc biệt là đôi mắt, quá trình lão hóa để lại những tác hại nghiêm trọng lên đời sống sinh hoạt, tinh thần của mỗi người.

Do đâu có lão hóa

Cơ chế của sự lão hóa là phản ứng oxy hóa ở các tế bào, tương tự hiện tượng oxy hóa các vật bằng sắt gây rỉ sét, phản ứng oxy hóa phá hủy các màng tế bào tạo thành các bộ phận trong cơ thể. Quá trình chuyển hóa trong tế bào và tác động của các yếu tố độc hại từ môi trường bên ngoài như: hóa chất, khói bụi, môi trường ô nhiễm, tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời tạo ra các chất có gốc tự do trong tế bào. Các gốc tự do này có tính phản ứng rất mạnh nên nhanh chóng phá hủy các tổ chức của tế bào như màng tế bào, thành phần di truyền tế bào (DNA, RNA) và gây ra xáo trộn chức năng sinh lý của tế bào làm tế bào trở nên già cỗi, mất chức năng hoạt động.


Tiến trình lão hóa mắt

Mắt hoạt động theo nguyên tắc như một máy chụp hình, võng mạc ví như phim máy chụp hình, nhưng khác với phim ở chỗ đối với phim tất cả các điểm trên phim có độ phân giải như nhau nên nhìn thấy rõ ở mọi điểm, trong khi đó ở võng mạc, hoàng điểm là vùng có độ phân giải cao, nên nhìn thấy rõ nét từng chi tiết, phần võng mạc còn lại có độ phân giải thấp hơn nên cho cái nhìn bao quát, giúp nhận thức các vật xung quanh một cách tổng quát.

Hoàng điểm giúp nhìn rõ từng chi tiết. Trong điều kiện bình thường, máu cung cấp các chất dinh dưỡng và hấp thụ lại chất cặn bã do hoàng điểm thải ra. Các chất dinh dưỡng đặc biệt này không được cơ thể tự sản xuất ra, mà phải được đưa vào cơ thể từ bên ngoài. Khi có hiện tượng lão hóa, lưu lượng máu đến hoàng điểm kém hơn, sự hấp thu các chất dinh dưỡng của hoàng điểm bị cản trở, nồng độ các chất dinh dưỡng đến hoàng điểm sẽ càng kém hơn nếu chế độ ăn uống không đúng cách, và chất cặn bã tích lại nhiều hơn. Hoàng điểm không được nuôi dưỡng đầy đủ, dẫn đến mắt bị mờ và có thể không nhìn thấy ở vùng trung tâm, người ta gọi là thoái hóa hoàng điểm, thường xảy ra ở người cao tuổi. Bệnh biểu hiện bằng 3 triệu chứng:

- Mắt mờ, bệnh nhân nghĩ rằng kính đeo không còn phù hợp nữa.

- Có một vùng mờ ở trung tâm, hoặc nhìn không thấy hết các chữ của một từ.

- Hình ảnh bị biến dạng.

Thủy tinh thể giữ vai trò một thấu kính hội tụ để đưa ảnh về đúng võng mạcï. Thủy tinh thể (nhân mắt) của người lớn tuổi bị xơ cứng, không thể phồng lên để thực hiện chức năng điều tiết khi nhìn gần, nên gọi là hiện tượng lão thị. Theo thời gian, thủy tinh thể không còn trong suốt nữa, mà trở thành mờ đục gây nên hiện tượng đục thủy tinh thể (còn gọi là cườm). Hiện tượng này xảy ra ở 50% người lớn tuổi, khi mới bị thì nhìn xa thấy mờ, nhìn gần còn rõ, về sau nhìn gần cũng mờ, giơ bàn tay ra trước mắt cũng chỉ thấy bóng.

Vùng bè giác – củng mạc, ống Schlemm cũng có thể bị xơ hóa, do đó dễ làm áp lực nội nhãn tăng cao (bệnh tăng nhãn áp, còn gọi là bệnh thiên đầu thống, Glô-côm). Khi bị tăng nhãn áp cấp tính, bệnh nhân nhức mắt, nhức đầu dữ dội, mắt đỏ, nhìn mờ, nhìn thấy các vòng màu giống như cầu vồng, đôi khi có ói mửa. Nếu ở thể mãn tính, mắt không bị đau nhức mà thị lực giảm dần và thị trường bị thu hẹp, đi khám sẽ thấy nhãn áp trong mắt tăng cao. Bệnh này cần điều trị ngay khi mới bị, vì ở người lớn khi thị trường bị tổn thương do bệnh tăng nhãn áp thì không thể phục hồi được nữa.

Nguyên nhân lão hóa mắt:

Lão hóa mắt theo thời gian là điều tất yếu, tuy nhiên quá trình này càng tiến triển nhanh khi có các yếu tố nguy cơ như:

- Thiếu một số chất dinh dưỡng cần thiết do mạch máu đem tới như vitamin A, C, E; các nguyên tố vi lượng như đồng, kẽm

- Mắt phải làm việc nhiều: sử dụng máy vi tính, đọc sách báo, xem ti vi…

- Môi trường ô nhiễm do bụi, khói, hóa chất, tiếp xúc với ánh nắng nhiều.

- Chế độ ăn: ít rau xanh, trái cây, cá.

- Hút thuốc lá

Biện pháp ngăn ngừa:

Tiến trình lão hóa nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào sự quan tâm chăm sóc đúng mức của mỗi người ngay từ khi còn trẻ, bằng các cách sau:

- Bảo vệ mắt tránh ánh sáng mặt trời bằng cách đeo kính râm có quét lớp chống tia cực tím, tránh đi ra ngoài đường vào thời điểm nắng nhất trong ngày: từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều.

- Chăm sóc mắt đúng cách: không đọc sách quá gần (ở người lớn khoảng cách từ 30 - 35cm, trẻ em khoảng cách từ 25 - 30 cm), không đọc sách khi ngồi trên các phương tiện giao thông đang chuyển động. Làm việc trước màn hình vi tính hay chơi game, cứ mỗi 50 phút phải nghỉ độ 5 -10 phút.

- Không hút thuốc lá, vì hút thuốc lá làm suy yếu hệ tuần hoàn của cơ thể, làm giảm lượng máu đến mắt.

- Chế độ ăn uống hợp lý, tập thể dục đều đặn sẽ giúp cải thiện toàn bộ sức khỏe của cơ thể, giúp hệ thống tuần hoàn lưu thông tốt.

- Dùng thuốc có chứa nhiều chất dinh dưỡng cho mắt như thành phần chiết xuất sụn vi cá mập thiên nhiên; các loại nguyên tố vi lượng (đồng, kẽm); các vitamin A, C, E, bêta-carotene. Các châùt chiết xuất từ sụn vi cá mập thiên nhiên là những chất có khả năng khử các gốc tự do trong tế bào, do đó ngăn chặn tận gốc các thương tổn do oxy hóa gây ra trên tế bào, ngăn ngừa tiến trình lão hóa của mắt, tránh được các bệnh do lão hóa như: đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, thoái hóa hoàng điểm, thoái hóa võng mạc… tránh được nguy cơ giảm thị lực hoặc mù vĩnh viễn. Cũng nên lưu ý rằng các dạng thuốc uống được hấp thu vào máu rồi theo máu lưu thông đến nuôi dưỡng phần nhãn cầu có tác dụng tốt hơn các thuốc nhỏ mắt chỉ tiếp xúc với phần kết mạc, giác mạc, bao phủ phía trước nhãn cầu.

PGS-BS Trần An - Phó giám đốc BV Mắt TW

Việt Báo, 15/3/2008 (Theo_Thanh_Nien)

Chứng vẩn đục dịch kính mắt

Dịch kính vốn trong suốt, giúp ánh sáng có thể đi qua và truyền tín hiệu hình ảnh. Nếu dịch này vẩn đục, hình ảnh sẽ mờ đi. Tình trạng này thường xảy ra ở những người bị viêm màng bồ đào, chấn thương mắt hoặc cận thị nặng.

Nhãn cầu mắt người nom như quả táo ta hoặc quả cà pháo đặt nằm ngang. Đường trục trước sau của nó chừng 22 mm. Nó có hệ quang học gồm 4 thứ kính: Trước hết là giác mạc, kế đó là nước thủy dịch của tiền phòng, rồi đến thủy tinh thể và cuối cùng là dịch kính, chiếm 2/3 dung tích nội nhãn phía sau. Dịch kính mắt bình thường giống như lòng trắng trứng sống, bao giờ cũng trong suốt. Nó không có mạch máu, được nuôi dưỡng bằng chất thẩm thấu qua các mạch của hắc mạc.

Thế nhưng dịch kính có thể vẩn đục do bệnh tật, hoặc do chấn thương, tuổi tác; chẳng hạn như viêm màng bồ đào sau, xuất huyết dịch kính (vì chấn thương hoặc bệnh mạch võng mạc), bong võng mạc. Ở người cao tuổi, dịch kính lỏng ra, hay có các bóng khí và vẩn đục. Dịch kính cũng rất dễ đục ở những người tiếp xúc với tia lửa lò cao nhiều năm, không chịu đeo kính bảo hộ. Họ bị chấn thương mắt liên tục với tia hồng ngoại có ở lửa lò nhiệt độ cao.

Ở người cận thị nặng, dịch kính mắt hơi loãng ra cho phù hợp với kích thước lớn của vỏ nhãn cầu, vì thế dễ bị đục hơn. Nó gây cảm giác vẩn mờ trước mắt, hơi khó chịu và cũng khó điều trị. Bệnh nhân nên dùng canxi, dầu cá (có cả vitamin A và D) và cố đừng để ý đến cảm giác “ruồi bay” trong khi bệnh chưa lui. Triệu chứng ruồi bay với mắt cận không có gì đáng lo ngại. Điều đáng lo là biến chứng bong võng mạc khi có va đập mạnh vào mắt.

Để phòng vẩn đục dịch kính, cần chữa tích cực chứng viêm màng bồ đào và chứng xuất huyết dịch kính; đeo kính bảo hộ khi tiếp xúc với tia lửa lò. Nếu đã bị đục, cần điều trị bằng canxi, vitamin C, AD, i ốt. Không nên quá lo lắng về chứng vẩn đục dịch kính vì nó thường không gây mù. Hãn hữu lắm mới có trường hợp vẩn đục dịch kính tạo dải xơ, gây co kéo làm bong võng mạc.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống, 2/4/2005)

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2011

Xoa bóp mắt nâng cao thị lực

Người cao tuổi đi đâu cũng kè kè mang theo cặp kính lão, đôi khi cảm thấy bất tiện và vướng víu. Có cách gì khắc phục không? Tôi xin đóng góp phương pháp phục hồi chức năng mắt qua kinh nghiệm bản thân. Áp dụng phương pháp xoa bóp, tôi đã làm một cuộc “cách mạng” về đôi mắt từ chỗ thị lực chỉ còn 2/10 mà nay tăng lên 11/10 với đôi mắt tinh tường như thời trai trẻ.

Tôi xin kể lại cách làm thiện ý với các bậc cao tuổi giải phóng được “nạn” lúc nào cũng kè kè cặp kính lão và có hoài bão mách bảo với các bậc phụ huynh hãy tập cho các cháu, đẩy lùi chứng bệnh “cận thị học đường” đang lũng đoạn tuổi học trò.

Năm 50 tuổi, tôi phải mang kính 1,5 độ. Giữa năm 1992, tôi bị hiện tượng “ruồi bay” trước mắt phải đi điều trị ở Trung tâm nhiễm khoa TP, bác sĩ xác định bị bong võng mạc và thuỷ tinh thể... Điều trị nửa tháng, khi xuất viện thị lực chỉ 2/10 và bác sĩ dặn 3 điều: không được xem ti vi, xem sách báo hoặc viết lách liên tục vài giờ; không được uống rượu, bia dù cho mỗi ngày chỉ một ly nhỏ; không được ngồi xe ô tô đường dài trên 200km, để tránh bị sóc. Nếu để sóc vết thương cũ bị bong thì không chữa được. Hồi ấy tôi thấy hơi bi quan vì mình sống về nghề thiết kế mà bị cấm tiếp xúc sách báo, cấm viết lách, hay vẽ liên tục một hai giờ thì khó khăn quá.

Thời kì đầu, một phần vì hăng say chuyên môn, phần vì các cháu đi làm cả, ở nhà một mình đâm buồn nên tôi cũng vẽ vời và đọc sách báo. Đúng là có ảnh hưởng vì sau những lần như vậy, tôi thấy mắt mình lại bị mờ đi, tuy đã có kính vì bị cồm cộm nên rất khó chịu. Thế là tôi ép mình phải nghiêm chỉnh chấp hành chỉ dẫn của bác sĩ.

Nhưng rồi tai nạn ập đến, tháng 12 - 1995 tôi lại bị hiện tượng “ruồi bay” và phải đi điều trị ở Bệnh viện Quân đội 175 thành phố Hồ Chí Minh. Khi xuất viện thị lực còn 2/10 và đeo kính 3 độ.

Bất ngờ năm 1996, khi ra Hà Nội, tôi được môt đồng chí hướng dẫn xoa bóp và day hai bên thái dương để phục hồi thị lực. Nói thật lúc đầu tôi cũng không tin lắm nhưng vì ở vào thế đường cùng nên cứ thực hiện xem sao đã.

Từ đó các buổi sáng trước khi tập thể dục, tôi vuốt hai mắt và day hai bên thái dương mỗi bên 60 lần (đồng chí hướng dẫn nói phải 40 lần mới có kết quả)

Bất ngờ sau hơn một năm đôi mắt sáng ra, tôi bỏ kính 3 độ mà chỉ còn dùng loại 1,5 độ. Tiếp tục như vậy, sau hơn một năm thì không phải đeo kính nữa, còn chuyện tự xỏ kim để khâu mà không cần kính thì là chuyện nhỏ.

Sau đó khoảng năm 1998-1999, tôi ghé vào bệnh viện 175 để thử kiểm tra thị lực. Nữ bác sĩ Đức (người điều trị cũ cho tôi) kiểm tra lần 1, thị lực 11/10, bác sĩ không tin cho kiểm tra lại lần 2, vẫn thị lực 11/10. Bác sĩ Đức rất ngạc nhiên hỏi tôi: “khi xuất viện là 2/10 mà sao cách có mấy năm, thị lực giờ lại tốt thế?”. Tôi liền thuật lại quá trình tập luyện, nữ bác sĩ tán đồng: “Ồ đúng! Chân lí là ở chỗ đó”

Giữa năm 2001, quận tổ chức cho cán bộ hưu trí đi tham quan Tây Nguyên, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai bằng ô tô. Ngày đầu tiên xuất phát là đến chỗ xa nhất rồi cuốn chiếu quay về. Ngồi một ngày từ Sài Gòn đến Kon Tum với chừng trên 600km nhưng mắt vẫn bình thường. Đây là lần thứ nhất.

Đến giữa năm 2004, nhân kỉ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi cùng đoàn các chiến sĩ Điện Biên Phủ phía nam được công ty Mai Linh tổ chức cho đi tham quan. Đi xe hơi từ Hà Nội lên Điện Biên, quãng đường khoảng 500km.

Lần đi Tây Bắc này khá vất vả vì đường đèo, ổ gà nhiều nhưng mắt tôi vẫn bình thường.

Động tác tập

Dùng ba ngón tay vuốt mi mắt (mi trên) từ sống mũi ra đuôi mắt, vuốt nhẹ nhàng. Sau đó, dùng các ngón tay xoa tròn hai bên đuôi mắt theo chiều ngược kim đồng hồ.

Số lần tập, vuốt và xoa hai mắt ít nhất là 40 lần trở lên thì mới có tác dụng. Tập liên tục hàng ngày tránh khi tập khi nghỉ thì sẽ kém hiệu quả.

Trong quá trình tập, cần giữ gìn đôi mắt nên cần tránh đọc sách nơi thiếu ánh sáng, xem sách báo ngoài trời nắng, không để sách báo gần mắt quá khi đọc, cầm cách khoảng tối thiểu là 40 cm. Khi tập xong nên rửa mặt và mắt bằng nước ấm thì tác dụng phục hồi thị lực sẽ mau hơn.

Nguyễn Sơn Hà
(ĐT: 0169.5568372)
Theo nguoicaotuoi.org.vn

Thứ Ba, 19 tháng 4, 2011

Tự ý nhỏ thuốc corticoid sẽ gây mù vĩnh viễn

Nếu sử dụng tùy tiện trong một thời gian dài, sẽ dẫn đến kháng thuốc, đục thủy tinh thể, gây bệnh cườm nước… biến chứng mù vĩnh viễn.

Mỗi ngày Bệnh viện Mắt TP HCM tiếp nhận khoảng 1.000 trường hợp đến khám. Trong số này, hầu như ngày nào các bác sỹ cũng phải tiếp nhận bệnh nhân bị mù mắt do tự ý mua thuốc trên thị trường về nhỏ.


Chỉ cần mắt có vấn đề, người mua có thể ra hiệu thuốc và được giới thiệu hàng chục loại thuốc nhỏ mắt như: Dung dịch, huyền phù, mỡ hoặc cream... có giá từ 2.000 đồng đến 100.000 đồng.

Theo bác sỹ Phí Duy Tiến, Phó Giám đốc Bệnh viện Mắt TP HCM, thuốc nhỏ mắt có thành phần corticoid chỉ được sử dụng khi có chỉ định của bác sĩ. Thuốc này điều trị rất hiệu quả, nhưng nếu sử dụng tùy tiện trong một thời gian dài, sẽ dẫn đến kháng thuốc, đục thủy tinh thể, gây bệnh cườm nước, thậm chí teo dây thần kinh thị giác và biến chứng mù vĩnh viễn.

Bác sỹ Phí Duy Tiến cảnh báo: Trong số các loại thuốc nhỏ mắt, đáng chú ý nhất là 3 loại: Kháng sinh, các corticoid và các thuốc kháng histamin chống dị ứng. Các loại thuốc này khi sử dụng phải có chỉ định của bác sỹ. Người sử dụng không nên lạm dụng loại hóa chất này. Nếu có vấn đề bất thường về mắt như sưng, đỏ, mờ... thì nên đến bác sỹ chuyên khoa để khám ngay. Nếu mắt bình thường, không nên dùng bất cứ loại thuốc nhỏ mắt nào./.

Theo Lao động

Thứ Hai, 18 tháng 4, 2011

Để trẻ không bị cận thị

Đôi mắt giúp trẻ tiếp nhận đến 90% lượng thông tin từ môi trường bên ngoài. Chính vì thế, việc phải đeo cặp kính cận có ảnh hưởng lớn đến khả năng tiếp nhận thông tin và học hỏi của bé...

Một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ học sinh bị cận thị ngày càng cao là do tư thế ngồi học không đúng. Ngoài việc ảnh hưởng đến khả năng tập trung của trẻ, tư thế ngồi học không đúng cũng gây ra rất nhiều tác hại đến phổi, tim, xương sống... Vì vậy ngoài việc phải luyện cho trẻ tư thế ngồi học đúng, các bậc phụ huynh cần chú ý đến cách sắp xếp bàn ghế, bảng viết phù hợp với lứa tuổi con trẻ, đồng thời phải bảo đảm phòng học đủ ánh sáng để trẻ không phải nhìn quá gần hoặc quá xa...


Cùng với một góc học tập hoàn chỉnh cần kết hợp chế độ ăn uống khoa học với những loại thực phẩm tốt cho mắt như: gan gà, gan lợn; các loại trứng, các loại thịt, cá.... hay các loại củ, quả như gấc, cà chua, dưa hấu, hồng, bí đỏ; đu đủ, cà rốt; cùng các loại rau xanh như rau cải, rau ngót, mồng tơi, rau đay...

Lưu ý, khi trẻ không may bị dị vật rơi vào mắt, bạn cần tránh để trẻ dụi mắt vì có thể làm tổn thương biểu mô giác mạc. Thay vào đó, bạn nên sử dụng thuốc nhỏ mắt có chứa các dưỡng chất cùng các chất kháng viêm, kháng khuẩn để nuôi dưỡng đôi mắt bé luôn khỏe đẹp.

Tác giả : Thanh Tân
Theo VTV.vn

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2011

Chăm sóc mắt hàng ngày với Vitamin B

Vitamin nhóm B là loại vitamin rất cần thiết để duy trì hoạt động của thần kinh thị giác, giúp chống lại một số bệnh về mắt. Ngoài chế độ nghỉ ngơi, dinh dưỡng cần thiết cho đôi mắt, bạn nên dùng thuốc nhỏ mắt có chứa vitamin B để chăm sóc mắt hằng ngày

Sống và làm việc trong môi trường ô nhiễm như hiện nay, đôi mắt nhạy cảm của bạn rất dễ bị tổn thương. Các tác nhân gây hại cho mắt có thể kể đến là: tia tử ngoại UV, ánh sáng chói lòa, hóa chất, các tác nhân trực tiếp hay gián tiếp hoặc vật thể lạ... Chính vì thế, đôi mắt rất cần được chăm sóc và nuôi dưỡng đặc biệt hằng ngày để luôn khỏe mạnh với thời gian. Hãy cùng theo dõi phần tư vấn của bác sĩ nhãn khoa Nguyễn Hoàng Cẩn để trang bị cho mình những kiến thức chăm sóc mắt cần thiết.


Chăm sóc mắt từ bên ngoài

Theo bác sĩ Nguyễn Hoàng Cẩn, có nhiều cách chăm sóc mắt nhưng có thể phân loại ra thành hai dạng: chăm sóc từ bên ngoài và chăm sóc từ bên trong. Cách chăm sóc từ bên ngoài có thể kể đến như bảo vệ mắt bằng kính, giữ vệ sinh cho mắt.

Bảo vệ mắt bằng kính có thể loại trừ được các tác hại của các tia sáng, tia cực tím có hại cho mắt và giúp tránh tình trạng cát, bụi hay vật lạ rơi vào mắt.

Giữ vệ sinh cho mắt rất cần thiết để bảo vệ mắt khỏi sự viêm nhiễm có hại gây ra bởi sự ô nhiễm, hóa chất hoặc vi khuẩn có trong không khí. Khi đi làm hay đi chơi về, bạn nên rửa mắt bằng nước sạch ngay. Đối với các bạn nữ có sử dụng mỹ phẩm như mascara hay phấn mắt, cần phải rửa mi mắt thật sạch vì các hóa chất này có thể gây kích thích mắt gây viêm mi, dị ứng mắt hay nặng hơn có thể làm nhiễm trùng mắt. Đối với những bạn sử dụng kính sát tròng, cần phải tuân thủ đúng quy trình đeo và bảo quản, vệ sinh kính tiếp xúc cũng như giữ vệ sinh cho đôi mắt của bạn.

Ngoài ra, tất cả những triệu chứng bất thường do đeo kính tiếp xúc như mắt cộm, khô, khó chịu hay đỏ mắt... thì cần phải đi khám để tránh những hậu quả đáng tiếc như nhiễm trùng, loét giác mạc hay các biến chứng của việc sử dụng kính tiếp xúc không đúng cách.

Chăm sóc mắt với vitamin B

Chăm sóc mắt từ bên trong là việc làm rất cần thiết để có đôi mắt thực sự khỏe và đẹp. Ngoài chế độ nghỉ ngơi, dinh dưỡng cần thiết cho đôi mắt, bạn nên dùng thuốc nhỏ mắt có chứa vitamin B để chăm sóc mắt hàng ngày. Thuốc nhỏ mắt chứa vitamin B không chỉ có tác dụng vệ sinh mắt, tránh tình trạng gây kích thích mắt, đỏ mắt mà còn làm giảm mỏi mắt sau một ngày làm việc căng thẳng. Riêng vitamin nhóm B là loại vitamin rất cần thiết để duy trì hoạt động của thần kinh thị giác, giúp chống lại một số bệnh về mắt, cụ thể là:

- Vitamin B5 (panthenol): Là một trong các acid pantothenic thuộc vitamin nhóm B. Vitamin B5 rất cần thiết để giữ cho mắt được khỏe mạnh và gia tăng sự trao đổi chất ở mắt, gia tăng tác dụng làm lành mô, đặc biệt những bệnh thuộc về mắt như mềm củng mạc, loét củng mạc, mất biểu mô củng mạc lặp đi lặp lại nhiều lần, tác dụng chống lại những vi khuẩn gây bệnh, làm giảm và ngăn chứng mỏi mắt.

- Vitamin B6 (Pyridoxine Hydrochloride): Có liên quan mật thiết tới sự chuyển hóa các amino acid, đặc biệt là tryptophan. Pyridoxine hydrochloride làm giảm tình trạng mỏi mắt, có tác dụng kích hoạt hô hấp mô.

- Vitamin B12 (Cyanocobalamin): Gia tăng sự trao đổi chất ở trong mắt và giúp mắt hồi phục mệt mỏi.

- Vitamin B1, vitamin B2 và vitamin B3 đều có thể bảo vệ mắt khỏi bệnh cườm mắt.

Duy trì đôi mắt tinh anh, khỏe mạnh là ước muốn của mọi người. Để có thể làm được việc đó, bạn nên bắt đầu từ hôm nay và hãy tạo thành thói quen hằng ngày vì ai cũng biết đôi mắt là “công cụ” duy nhất giúp bạn chiêm ngưỡng được vẻ đẹp hiện thực của thế giới.

(24H.COM.VN)

Thứ Ba, 22 tháng 2, 2011

8 bí kíp giữ mắt luôn sáng

(Dân trí) - Đôi mắt là "tài sản" quý giá của con người, chính vì thế bạn cần quan tâm đến việc chăm sóc "cửa sổ tâm hồn".Cách chăm sóc không khó, bạn chỉ cần thực hiện theo những tiêu chí dưới đây là đã có thể luôn "sở hữu" một đôi mắt sáng, thị lực khỏe.

1. Kiểm tra định kỳ 1 lần/năm

Kiểm tra mắt định kỳ là cách tốt nhất giúp bạn bảo vệ và sớm phát hiện ra những tật về mắt. Để từ đó có những định hướng và điều trị kịp thời.

2. Dùng kính đạt "chất lượng"

Việc đeo những loại kính tốt, đảm bảo chất lượng rất quan trọng đối với đôi mắt. Bởi kính rởm chính là "sát thủ" của mắt.

Ngay cả việc sử dụng các loại kính thời trang và kính chống nắng cũng cần tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định.

Trong trường hợp, bạn không có kinh nghiệm hay những hiểu biết nhất định về việc chọn kính, cách tốt nhất là bạn nên tham khảo ý kiến các bác sĩ chuyên khoa mắt để lựa được cặp kính phù hợp nhất với mình.

3. Luôn đeo kính râm khi ra nắng

Bạn rất quan tâm đến việc "ngụy trang" ngày nắng để bảo vệ làn da, nhưng cũng đừng lãng quên việc bảo vệ đôi mắt.

Điều quan trọng nhất trong việc lựa chọn kính râm là bạn phải quan tâm đến chỉ số SPF để chống lại hai tia cực tím UVA và UVB. Loại kính đảm bảo phải có chỉ số SPF trên mức 30. Nên chọn cặp kính vừa với khuôn mặt và không nên tháo kính đột ngột khi ra nắng.

4. Bổ sung những loại thực phẩm tốt cho mắt

Các loại thực phẩm "chức năng" có lợi cho thị lực là các loại rau xanh và trái cây ( carot, đu đủ, nho....), đây đều là những thực phẩm giàu vitamin A, C, E, axit folic, Selen và kẽm.

5. Đảm bảo điều kiện ánh sáng tốt khi làm việc với máy tính

Vẫn biết rằng làm việc lâu bên máy tính thường khiến cho mắt bị mờ, khô, lâu dần có thể bạn sẽ mắc phải những tật về mắt.

Để hạn chế đến mức thấp nhất những tác hại của máy tính đối với mắt, bạn nên đặt máy tính ở những nơi có độ sáng thích hợp, không chói lóa nhưng cũng không quá tối. Thêm vào đó, sau mỗi giờ làm việc bên máy tính bạn nên thư giãn mắt, bằng cách không nhìn vào màn hình máy tính, nhắm mắt lại hoặc chớp mắt nhiều lần.

6. Nên thay mắt kính theo "lịch"

Bạn đừng nên tiết kiệm tiền và chỉ dùng duy nhất một bộ kính áp tròng trong một thời gian dài bởi mắt có thể bị nhiễm khuẩn.

Không nên đeo kính liên tục từ khi thức dậy cho đến lúc “lên giường” bởi hầu hết các mắt kính được thiết kế ra chỉ đảm bảo được an toàn nếu như đeo kính ít hơn 12 giờ liên tục.

7. Tập thể dục rất cần thiết

Tập thể dục cho mắt là một trong những phương pháp tốt nhất giúp bạn củng cố thị lực. Cách luyện tập rất đơn giản, ví dụ như bạn hãy nhìn ra một không gian rộng, hay tốt nhất là nhìn vào cây xanh.

Hãy chớp mắt nhanh trong vòng 1 - 2 phút để tăng cường sự tuần hoàn máu, xua bớt mệt mỏi, giảm tải cho mắt ở trong phạm vi gần.

Hoặc tay cầm một cây bút chì trước mặt và duỗi thẳng tay ra. Từ từ gập cánh tay về phía mũi và mắt luôn nhìn vào cây bút chì cho đến khi bạn không thể tập trung nhìn vào nó được nữa. Lặp lại động tác này 10 lần.

8. "Mặt nạ" cho mắt

Mất ngủ chính là nguyên nhân gây xuất hiện những quầng thâm xung quanh mắt, hoặc đôi khi do thời gian và tuổi tác sẽ làm xuất hiện nhiều vết chân chim quanh mắt. Muốn nhanh chóng cải thiện tình trạng, hãy dùng dưa chuột thái lát mỏng và đắp lên hai mắt, nằm thư giãn trong vòng 15 đến 20 phút. Bạn sẽ thấy hiệu quả thật bất ngờ.

Một lưu ý nữa bạn cần quan tâm là buổi tối, trước khi đi ngủ, nhất là sau 10h, bạn không nên uống quá nhiều nước để tránh bị sưng mắt khi ngủ dậy vào sáng hôm sau.

Thu Hà

Bài đăng phổ biến