Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh ngoài da. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh ngoài da. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 25 tháng 5, 2011

Ghẻ và cách điều trị trong cộng đồng

(Dân trí) - Ghẻ là một bệnh do côn trùng gây nên. Bệnh thường được ghi nhận ở những nơi có quần thể dân cư sống đông đúc, chật chội, điều kiện vệ sinh thấp kém, ăn ở không sạch sẽ... Trẻ con là đối tượng có nhiều nguy cơ bị mắc bệnh ghẻ nhất.



Cái ghẻ và các biểu hiện đặc trưng của bệnh ghẻ (Ảnh:CIMSI)

Đặc điểm của loài ghẻ

Ghẻ có tên khoa học Sarcaptes scabiei gây triệu chứng ngứa trên da người và thường được gọi là bệnh ghẻ. Nhiễm bệnh ghẻ được phát hiện phổ biến và lưu hành khá rộng rãi ở khắp nơi trên toàn cầu.

Ghẻ có kích thước nhỏ khoảng 0,2 - 0,4mm và gần như không thể thấy bằng mắt thường. Trên thực tế, hầu như toàn bộ đời sống của ghẻ ký sinh ở trên da và trong da của con người. Để sinh trưởng, phát triển và đẻ trứng; ghẻ đào những đường ngầm quanh co trong mặt da. Những đường ngầm này mỗi ngày dài thêm khoảng từ 1 - 5mm và có thể nhìn thấy ở trên da những đường xoắn mỏng dài chừng một vài milimét (mm) đến một vài centimét (cm). Thời gian phát triển từ trứng đến ghẻ trưởng thành ít nhất có thể mất khoảng 2 tuần lễ.

Những ghẻ cái có thể sống ký sinh trên cơ thể người từ 1 đến 2 tháng. Nếu rời khỏi cơ thể vật chủ ký sinh, ghẻ chỉ có khả năng sống được vài ngày. Ghẻ có đặc điểm thường ký sinh ở những chỗ da mỏng và có nếp gấp như các kẽ ngón tay, cạnh bàn tay, bàn chân, khuỷu tay, nếp gấp đầu gối, dương vật, vú và bả vai. Ở trẻ con, ghẻ cũng có thể thấy ở mặt và các nơi khác.

Sự lây truyền bệnh và triệu chứng

Ghẻ thường lây truyền trực tiếp do việc tiếp xúc gần gũi giữa con người với con người như những người cùng ngủ chung một giường.

Hầu hết sự lây truyền bệnh ghẻ xảy ra mang tính chất gia đình vì nếu một thành viên trong nhà bị bệnh ghẻ thì khả năng những người khác trong gia đình sẽ bị mắc bệnh ghẻ theo.

Khi bị mắc bệnh ghẻ, triệu chứng ban đầu xuất hiện chỉ là một vết đỏ, hơi nhô lên và ngứa dữ dội. Tiếp theo là sự hình thành các nốt, bọng nước nhỏ, rồi các nốt và bọng nước nhỏ này bị vỡ ra ở trên bề mặt của da. Do ngứa nên người bị mắc bệnh ghẻ thường phải gãi ngứa dẫn đến chảy máu và dịch trong các bọng ghẻ, làm ghẻ có điều kiện phát tán.

Việc gãi ghẻ nhiều, thường xuyên và triền miên gây ra sự bội nhiễm hay nhiễm trùng thứ phát như nhọt đầu đinh, nhọt mủ, eczema. Một đợt ghẻ xâm nhập ào ạt điển hình gây nên dị ứng có thể phát triển ở trên những vùng của cơ thể mà thông thường không bị nhiễm ghẻ như vùng mông, xung quanh thắt lưng, bả vai.

Khi mới bị nhiễm ghẻ, triệu chứng ngứa và lan rộng chưa rõ ràng, sau khoảng từ 4 - 6 tuần thì triệu chứng lâm sàng mới xuất hiện rõ. Đối với những người mới bị nhiễm ghẻ lần đầu tiên thì sự phát triển lan rộng có thể chỉ vài ngày.

Phương pháp thông thường xác định sự nhiễm ghẻ là dùng mũi dao nhọn, nhỏ để cạy phá vài chỗ da bị nhiễm bệnh, lấy bệnh phẩm chuyển sang một phiến lam kính và soi trên kính hiển vi để phát hiện. Có thể dùng dầu mỏ để thu thập và kiểm tra sự nhiễm ghẻ. Một phương pháp khác là dùng mực viết bôi vào vùng da bị nhiễm bệnh và sau đó rửa sạch đi, kiểm tra sẽ phát hiện ra các hang ghẻ ký sinh.

Cách điều trị bệnh ghẻ

Gần đây, thuốc Ivermectin, một loại thuốc dùng để điều trị nang sán và giun chỉ bạch huyết được phát hiện cũng có tác dụng điều trị đối với bệnh ghẻ. Thuốc được điều trị bằng liều độc nhất 100 đến 200µg cho 1 kg trọng lượng cơ thể.

Phương pháp điều trị quy ước là sử dụng các loại hóa chất diệt côn trùng thông thường như Benzyl benzoat 10% dạng nước xức, Lindane 10% dạng nước xức, Crotamiton 10% dạng kem và Permethrin 5% dạng kem. Permethrin là loại hóa chất hiện tại được khuyến cáo sử dụng để điều trị bệnh ghẻ vì nó có tác dụng tốt và ít tác dụng phụ.

Sau khi điều trị thành công, đôi khi triệu chứng ngứa vẫn còn tiếp tục xảy ra nhưng rồi cuối cùng sẽ hết hoàn toàn. Các loại hóa chất có thể sử dụng để xức trên da ở tất cả các phần của cơ thể từ cổ trở xuống, không chỉ ở những chỗ bị ngứa.

Nguyên tắc sử dụng để có hiệu quả là sau khi xức hóa chất, ngày hôm sau mới được rửa đi. Người được điều trị có thể mặc áo quần khoảng sau 15 phút để hóa chất có thời gian khô đi. Hầu hết những phương pháp điều trị đều cho đáp ứng tốt, bệnh có thể khỏi hoàn toàn nhưng đôi khi cũng cần điều trị đợt hai cách một thời gian sau đó khoảng từ 2 - 7 ngày.

Một điều cần thận trọng là không nên điều trị bằng thuốc hóa chất diệt côn trùng quá nhiều vì sẽ bị ảnh hưởng bởi độ độc của một số hợp chất. Vì ghẻ là một bệnh lây lan có tính chất gia đình nên việc điều trị cho cả nhà là vấn đề cần thiết để ngăn ngừa sự tái nhiễm bệnh ghẻ.

BS. Nguyễn Võ Hinh
GĐ TT Phòng chống Sốt rét-KST-CT Thừa Thiên Huế

Bệnh ghẻ và thuốc chữa



Bệnh ghẻ do ký sinh trùng Sarcoptes Scabiei gây nên, hay gặp vào mùa xuân hè. Ở những nước kém phát triển, điều kiện dinh dưỡng và vệ sinh kém, bệnh có thể lây thành dịch địa phương. Ở nước ta, bệnh vẫn còn lưu hành khắp các vùng trong cả nước. Ngay cả những thành phố lớn, bệnh ghẻ vẫn tồn tại.

Con cái ghẻ có kích thước từ 0.3 - 0.5 mm. Cái ghẻ xâm nhập vào đường biểu bì da, đào hầm và đẻ trứng. Chúng đẻ từ 2 - 3 trứng/ngày và đẻ liên tục trong 4 - 6 tuần liền. Ghẻ đực chết ngay sau khi hoàn thành nghĩa vụ phối giống và ghẻ cái cũng chết sau khi đã đẻ hết số trứng của mình. Trứng nở thành ấu trùng và phát triển thành con trưởng thành chỉ trong vòng 3 - 4 ngày.

Bệnh ghẻ lây qua tiếp xúc trực tiếp với người bị ghẻ, nằm chung giường, mặc chung quần áo, dùng chung khăn tắm, tổn thương ghẻ thường ở vùng da mỏng có nhiều nếp nhăn. Chính vì vậy mà bệnh ghẻ được xếp vào nhóm bệnh lây truyền qua đường tình dục. Cái ghẻ có thể sống ngoài cơ thể được 2 - 3 ngày.

Khi bị ghẻ, người bệnh có các triệu chứng: ngứa nhiều về đêm, ngứa tăng khi trời nóng, lao động, thể thao. Mụn nước ở vị trí đặc hiệu, kẽ ngón tay, lằn chỉ cổ tay, nếp gấp bàn tay, vùng thắt lưng, cạp quần, bẹn đùi, sinh dục, nách, núm vú ở phụ nữ. Điều đặc biệt là ghẻ không thấy ở mặt, đầu và 1/3 trên lưng. Đối với trẻ em dưới 2 tuổi, ghẻ có thể bị toàn thân. Có thể dùng kính lúp soi bắt được cái ghẻ nằm ở cuối đường hầm trong da.

Thuốc chữa ghẻ có nhiều loại:

- Đông y thường dùng lá cây ba gạc, lá đào đun nước tắm, nhựa cây máu chó bôi tại chỗ, tắm nước muối, tắm biển...

- Tây y có thể dùng một trong những loại thuốc sau:

D.E.P. (dietyl phtalat) là thuốc chống muỗi vắt đốt nhưng có tác dụng diệt cái ghẻ nhanh và rẻ tiền, ít độc tính. Bôi ngày 2 - 3 lần. Thuốc không nên dùng cho trẻ nhũ nhi và không bôi vào bộ phận sinh dục.

Benzyl benzoat (Ascabiol, scabitox, zylate) là thuốc rất tốt, độ an toàn cao. Bôi, xịt ngày 2 lần cách nhau 15 phút. 24 giờ sau, tắm gội giặt quần áo.

Eurax (crotamintan) 10%, thuốc bôi có tác dụng chống ngứa và diệt cái ghẻ. Cứ 6 - 10 giờ bôi 1 lần thuốc an toàn có thể bôi vào sinh dục và trẻ nhũ nhi.

Permethrin cream 5% (Elimite) là thuốc chữa ghẻ ít độc tính nhất có thể dùng cho trẻ em và phụ nữ có thai.

Lindane (gamma – benzen hexachlorid, kwell) xịt thuốc vào toàn bộ da từ cổ xuống chân. Sau 8 - 12 giờ, tắm rửa thay quần áo, xịt thuốc 2 lần/1 tuần thuốc chứa ghẻ nhanh nhưng độc với thần kinh nên không dùng cho trẻ nhỏ và phụ nữ có thai.

Đối với ghẻ vảy, ngoài thuốc bôi tại chỗ còn phải dùng thêm thuốc uống như ivermactin (đây là thuốc được dùng để điều trị giun chỉ từ năm 1987 nhưng lại rất hiệu quả và an toàn trong điều trị ghẻ, đặc biệt là ghẻ vảy).

Lưu ý khi điều trị ghẻ, phải điều trị cho cả những người sống chung trong gia đình hoặc trong cùng đơn vị, ký túc xá sinh viên, tẩy uế quần áo, ga gối. Trong mùa hè phơi quần áo, ga, gối 3 - 4 nắng. Quần áo giặt để 1 tuần sau mặc lại.

ThS. Đỗ Xuân Khoát

Bệnh sởi (3 bài)

Bài 1. Phòng và điều trị bệnh sởi


Bệnh sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính đường hô hấp, rất dễ lây, thường gặp ở trẻ em. Bệnh biểu hiện bằng tình trạng viêm long ở kết mạc mắt, niêm mạc đường hô hấp, đường tiêu hóa và phát ban đặc hiệu ngoài da.

Tác nhân gây bệnh là virus thuộc nhóm RNA paramyxovirus. Virus sởi xâm nhập niêm mạc đường hô hấp trên, vào máu, sinh sản ở hệ lưới mô bào. Virus có mặt ở họng và máu bệnh nhân từ cuối thời kỳ ủ bệnh cho đến sau khi ban mọc một thời gian; và có thể tồn tại trong không khí ít nhất 34 giờ, nhưng không chịu được khô hanh.

Trẻ ốm làm lây bệnh mạnh nhất trong thời gian trước khi ban mọc. Mọi trẻ chưa có miễn dịch với sởi đều có thể nhiễm virus sởi, song lứa tuổi mắc nhiều nhất là 2-6 tuổi. Suy dinh dưỡng làm trẻ dễ mắc sởi, nhưng rồi bệnh sởi lại là thủ phạm gây suy dinh dưỡng hoặc làm cho tình trạng suy dinh dưỡng nặng thêm.

Bệnh sởi lây rất nhanh, 90% số trẻ tiếp xúc với trẻ mắc sởi sẽ bị lây bệnh. Virus sởi có thể theo nước bọt người bệnh bắn ra ngoài truyền trực tiếp cho người khác trong phạm vi bán kính 1,2 m mỗi khi ho, hắt hơi, nói chuyện; hoặc theo những giọt nhỏ li ti lơ lửng trong không khí, sau đó xâm nhập niêm mạc đường hô hấp trẻ khác.

Bệnh có thể gặp ở mọi nơi và quanh năm nhưng mùa mưa nhiều hơn mùa nắng, dễ bùng lên thành dịch theo chu kỳ 2-4 năm một lần.

Ở thể thường, bệnh lành tính. Thời kỳ ủ bệnh chừng 10-12 ngày, có khi ngắn hơn (7 ngày), có khi dài hơn (20 ngày), thường không có biểu hiện gì. Trong một số trường hợp sau khi tiếp xúc với trẻ ốm, trẻ sốt nhẹ trong 5-6 ngày rồi khỏi, và 3-4 ngày sau mới sốt cao và chảy nước mắt nước mũi, hoặc đi tướt, trớ. Trẻ sơ sinh có thể bị xuống cân mặc dù trẻ vẫn bú bình thường.

Tiếp đến là thời kỳ khởi phát, dài 4-5 ngày. Hai triệu chứng nổi bật là sốt và viêm long. Trẻ đột ngột sốt cao 39-39,5 độ C, vẻ mệt mỏi, kèm theo nhức đầu, đau cơ, khớp; chảy nước mũi, chảy nước mắt, mắt đỏ, ho nhiều, ho khan, có khi bị tiêu chảy.

Sang ngày thứ hai, các triệu chứng trên nặng thêm. Trẻ ho nhiều, ho khan, đôi khi ho từng cơn, khàn giọng. Có khi bệnh bắt đầu bằng những cơn thở rít (do viêm thanh quản): trẻ chỉ hơi sổ mũi, ban đêm bỗng nổi cơn ho, vùng dậy mê hoảng tưởng như nghẹt thở, nhưng rồi cơn lui dần và trẻ lại nằm ngủ; có khi gần sáng lại lên cơn nữa và khi hết hẳn thì bắt đầu mọc sởi. Lúc này, khám miệng thấy trên nền đỏ thẫm của niêm mạc má có những chấm trắng nhỏ độ 1mm hơi nổi gợn lên (dấu hiệu Koplik). Có khi chỉ có 2-3 nốt ở phần niêm mạc má đối diện với răng hàm số 1. Các nốt này chỉ tồn tại 24-48 giờ và thường lặn hết sau khi sởi mọc 1 ngày.

Thời kỳ mọc sởi (5-7 ngày)

Các triệu chứng nặng hẳn lên, thân nhiệt tăng vọt, trẻ có thể sốt tới 40 độ C, ho liên tục, co giật, mê sảng... rồi đến đêm thì mọc sởi. Phần nhiều ban mọc ở sau tai, chân tóc rồi lan dần theo trình tự: mặt, cổ, lưng, bụng và chân tay.

Đến ngày thứ ba, ban mọc khắp người, ban mọc dầy nhất ở những nơi hay cọ xát hoặc phơi nắng. Có khi các nốt ban hợp với nhau thành từng vầng. Các nốt sởi hình tròn hoặc bầu dục, có màu đỏ hồng nhạt, sờ vào mịn như nhung, ấn vào biến mất, da xung quanh vẫn bình thường. Khi sởi mọc hết thì trẻ hết sốt và sởi bắt đầu bay. Ban sởi bay cũng theo trình tự như khi mọc, để lại các vết thâm và bong da nhỏ như rắc phấn nom vằn như da hổ. Các vết thâm kéo dài khoảng 1 tuần lễ mới hết. Có thể trẻ vẫn còn đau mắt, sổ mũi, quấy khóc, không chịu ăn.

Thời kỳ hồi phục

Trẻ lại sức dần. Thường sau 1 tuần ban sởi bay hết và chỉ sau 2 tuần trẻ trở lại bình thường.

Trên đây là bệnh cảnh lâm sàng của các trường hợp sởi lành tính. Trong thực tế đôi khi gặp sởi ác tính: ban mọc ít, trẻ sốt cao, mê sảng, xuất huyết, đi tiểu ít... có thể dẫn đến tử vong; hoặc biến chứng do bội nhiễm vi khuẩn gây viêm tai giữa, viêm phế quản - phổi, viêm thanh quản (xảy ra sớm, trong những ngày đầu khi mới mọc sởi), viêm não, sơ nhiễm lao hoặc lao tiến triển, viêm cơ tim, viêm miệng hoại tử, khô loét giác mạc do thiếu vitamin A. Điều đáng quan tâm là sau sởi trẻ dễ bị suy dinh dưỡng nặng.

Về điều trị, hiện chưa có thuốc đặc trị. Chủ yếu là điều trị triệu chứng, chăm sóc, phòng ngừa và điều trị biến chứng. Với thể sởi lành tính, điều trị tại nhà. Cách ly trẻ tại phòng riêng ngay khi trẻ mới sốt và viêm long; bảo đảm thoáng, sáng, tránh gió lùa; không cho tiếp xúc với những trẻ khác. Hằng ngày vệ sinh da dẻ, răng - miệng, mắt để tránh nhiễm khuẩn, lở loét da: rửa mặt, lau mắt, lau người bằng nước ấm; thường xuyên lau miệng bằng khăn sạch, mềm (nhúng nước đã đun sôi để nguội). Với trẻ lớn, cho súc miệng nước muối (pha loãng có độ mặn như nước mắt). Nhỏ mắt, nhỏ mũi thuốc kháng sinh.

Cho ăn nhẹ, đủ chất; cho uống nhiều nước (dung dịch oresol, nước quả tươi) khi trẻ sốt cao, tiêu chảy. Với trẻ đang bú, tiếp tục cho bú mẹ. Trẻ đang ăn bổ sung, ngoài sữa mẹ cần ưu tiên trẻ khẩu phần đủ chất dinh dưỡng nhất là những thực phẩm giàu protid và caroten.

Cho uống thuốc giảm ho. Trẻ sốt cao lau khăn ấm, cho uống paracetamol, thuốc an thần.

Không dùng thuốc kháng sinh cho trẻ bị sởi với mục đích dự phòng biến chứng vì dễ gây loạn khuẩn và dị ứng. Chỉ khi trẻ bị viêm tai giữa, viêm thanh - khí - phế quản, viêm phổi do bội nhiễm vi khuẩn mới cho dùng thuốc kháng sinh; và chỉ dùng khi có chỉ định của thầy thuốc.

Để đề phòng khô mắt do thiếu vitamin A, có thể cho trẻ uống vitamin A 100.000 đơn vị trong hai ngày đầu. Sau khi sởi bay cho uống thêm một liều như thế.

Chú ý theo dõi thân nhiệt hằng ngày, nhất là khi sởi bay có thể xảy ra biến chứng. Khi sởi bay mà trẻ vẫn sốt cần phải nghĩ đến biến chứng và đưa trẻ đi bệnh viện ngay.

Cần tiêm phòng vacxin sởi cho trẻ theo lịch sau:

Mũi 1: Khi trẻ tròn 9 tháng tuổi.

Mũi 2: Tiêm nhắc lại trong chiến dịch tiêm nhắc vacxin sởi.

BS. NGUYỄN LONG CHÂU, Sức khỏe và Đời sống

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

Bài 2. Món ăn - thuốc cho trẻ bị bệnh sởi


Bệnh sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, phát sinh và lây lan thường vào mùa đông-xuân. Bệnh thường gặp ở trẻ em từ 1 – 5 tuổi. Nguyên nhân là do người bệnh bị nhiễm virut gây bệnh sởi. Đông y chia bệnh sởi làm 3 giai đoạn. Sau đây là một số món ăn cho trẻ tùy theo từng giai đoạn của bệnh.

Giai đoạn 1:

Bệnh nhân sốt, hắt hơi, sổ mũi nghẹt mũi, ho, mắt đỏ, chảy nước mắt, ở niêm mạc miệng và khoang miệng, hai gò má xuất hiện các nốt mẩn màu trắng, viền ngoài hơi hồng.

Bài 1: Nước rau mùi: rau mùi tươi 25g. Rau mùi tươi cả rễ rửa sạch cắt nhỏ cho vào nồi thêm 250ml nước, đun sôi kỹ 1 – 2 phút, chắt lấy nước chia 3 lần uống trong ngày, chỉ uống 1 – 2 ngày đầu khi mới mắc bệnh.

Bài 2: Canh đậu phụ

: đậu phụ 1 miếng khoảng 200g, rau mùi non 25g, dầu thực vật bột ngọt, bột gia vị vừa đủ. Đậu phụ cắt miếng nhỏ, rán bằng dầu thực vật cho vàng. Rau mùi rửa sạch cho vào nồi, thêm 250ml nước sôi, đun nhỏ lửa, canh sôi cho đậu phụ, bột ngọt, bột gia vị vào đảo đều, canh sôi lại là được. Cho bệnh nhân ăn ngày 1 lần lúc đói, có thể ăn với cơm, chỉ ăn 1 – 2 ngày đầu mới bị sởi.

Giai đoạn 2:

Bệnh nhân sốt cao kéo dài, ho tăng, nặng tiếng, miệng khát, người khó ở trằn trọc, xuất hiện các nốt mẩn nhỏ màu đỏ gồ cao hơn mặt da, sờ vào thấy gợn ở tay ở đầu, trán, cổ, mặt. Mụn phát triển dày dần lên và lan xuống ngực, bụng, chân tay, long bàn chân bàn tay, cuối giai đoạn này sốt có phần giảm.

Bài 1: Nước cỏ tranh: rễ cỏ tranh 50g, vỏ mía xanh 100g. Rễ cỏ tranh nhặt kỹ rửa sạch, cắt nhỏ. Vỏ mía xanh rửa sạch cắt khúc, cả hai cho vào nồi, thêm 250ml nước đun sôi kỹ chắt lấy nước chia 3 lần uống trong ngày. Chỉ uống 1 – 2 ngày trong giai đoạn sởi mọc có sốt cao và trằn trọc không ngủ được.

Bài 2: Nước củ cải: củ cải 150g, đường phèn 15g. Củ cải rửa sạch ép lấy nước, cho đường phèn vào, hấp cách thủy cho chín và tan hết đường, để nguội chia hai lần uống trong ngày. Cần uống 1 – 2 ngày liền trong thời kỳ sởi mọc, ho có nhiều đờm.

Bài 3: Nước lê tươi: lê tươi 1 quả khoảng 200g, đường phèn 10g. Lê tươi rửa sạch cắt ở phần gần núm tạo thành một cái nắp, khoét bỏ một phần ruột quả, cho đường phèn vào đậy nắp lại, ghim chặt, đem hấp cách thủy. Khi lê chín đem ép lấy nước chia 3 lần uống trong ngày. Uống liền 2 – 3 ngày trong thời kỳ sởi mọc có sốt cao và ho.

Giai đoạn 3

(còn gọi là thời kỳ sởi bay): Các mụn mẩn lặn theo thứ tự từ đầu, mặt, cổ xuống tới chân tay, sốt giảm dần, bệnh nhân ho khan ít đờm, trên mặt da bong rụng dạng như mạt cám, cơ thể thấy thoải mái, người bệnh khỏe dần trở lại.

Bài 1: Cháo kê: kê hạt 50g, hạt sen cả tâm 30g, đường phèn 10g. Hạt kê bỏ vỏ cho vào nồi thêm 250ml nước ninh nhừ thành cháo. Hạt sen bỏ vỏ xanh thành bột mịn, khi cháo kê chín nhừ cho bột hạt sen, đường phèn vào khuấy đều, cháo sôi lại là được. Cho bệnh nhân ăn ngày hai lần lúc đói, cần ăn liền 3 – 4 ngày để phục hồi sức khỏe sau khi sởi bay, giảm trằn trọc, khó ngủ.

Bài 2: Cháo cà rốt: cà rốt 50g, củ mài 25g, lá dâu non 10g, gạo tẻ 50g, đường phèn 15g. Cà rốt rửa sạch. Củ mài, gạo xay nhỏ cho vào nồi thêm 400ml nước đun trên lửa nhỏ. Lá dâu rửa sạch thái nhỏ, khi cháo chín cho lá dâu, đường phèn vào quấy đều, cháo sôi lại là được. Bệnh nhân ăn ngày hai lần lúc đói, cần ăn liền 4 – 5 ngày. Tác dụng: tiệt nọc sởi, loại trừ biến chứng ho kéo dài và đờm khò khè ở cổ.

Chú ý: Khi trẻ mắc bệnh sởi, cha mẹ cần chú ý cho trẻ ăn uống thanh đạm dễ tiêu hóa, giàu dinh dưỡng, ăn nhiều quả tươi, rau xanh. Đặc biệt cần cho bệnh nhân uống đủ nước để góp phần lưu thông tuần hoàn huyết dịch, sởi mọc hết và bay nhanh, xuất hết độc tố của sởi; không cho trẻ ra gió lạnh, tắm rửa bằng nước ấm ở nơi kín gió.

Lương y Đình Thuấn

Theo http://suckhoedoisong.vn, 26/2/2011

Bài 3. Nhận biết sớm và phòng ngừa bệnh sởi


Sởi là một bệnh truyền nhiễm do virut gây ra và dễ bùng phát thành dịch, thường gặp ở trẻ em. Bệnh xảy ra quanh năm và lây truyền theo đường hô hấp. Những trẻ chưa có hoặc không có đủ đáp ứng miễn dịch với sởi thường rất dễ mắc bệnh khi tiếp xúc với nguồn lây. Trẻ em dưới 6 tháng tuổi ít khi mắc sởi vì đang có kháng thể của mẹ truyền qua nhau thai. Sau đó kháng thể của mẹ ở trẻ sẽ giảm dần khi trẻ lớn. Đây là lý do tiêm chủng phòng sởi thường được thực hiện trước 12 tháng.

Các biểu hiện đặc trưng của sởi bao gồm viêm long ở kết mạc mắt, niêm mạc đường hô hấp và tiêu hóa, sau đó phát ban đặc hiệu ngoài da, thường để lại nhiều biến chứng nặng cho trẻ em nếu không được điều trị kịp thời.

Làm thế nào để nhận biết và phát hiện sớm bệnh sởi?

Nếu trong gia đình có một người bị bệnh thì có đến 90% những người chưa có miễn dịch sẽ bị nhiễm bệnh. Sau khi tiếp xúc với mầm bệnh, người bệnh thường trải qua giai đoạn ủ bệnh kéo dài từ 10 - 12 ngày mà không hề có triệu chứng.

Tiếp theo đó là giai đoạn viêm long đặc trưng bởi sốt mức độ nhẹ đến vừa, ho khan, chảy nước mũi, viêm kết mạc mắt. Những triệu chứng này hầu như luôn luôn xảy ra trước khi nội ban xuất hiện. Nội ban thường xuất hiện ở vòm miệng, là những hạt nhỏ bằng hạt cát, màu trắng ngà, xung quanh có viền đỏ. Hạt thường xuất hiện và biến mất nhanh trong vòng 12 - 24 giờ. Nội ban hay hạt Koplik là dấu hiệu đặc trưng của bệnh, nếu nhìn thấy được hạt Koplik gần như chắc chắn kết luận được bệnh nhân có mắc sởi. Đôi khi giai đoạn này biểu hiện bằng những triệu chứng nặng nề như sốt cao, co giật hoặc thậm chí viêm phổi.

Sau giai đoạn viêm long là giai đoạn phát ban đặc trưng của sởi. Đây là giai đoạn điển hình nhất của bệnh với triệu chứng phát ban tuần tự trên da. Ban thường xuất hiện đầu tiên ở vùng chân tóc phía sau tai, sau đó xuất hiện ở mặt và lan dần xuống phía dưới trong vòng 24 - 48 giờ. Ban sởi là những ban dạng dát - sẩn hơi nổi lên trên bề mặt da, sờ mịn như nhung và không đau, không hoặc ít ngứa, không sinh mủ. Trường hợp nhẹ, ban thường đứng gần nhau nhưng riêng rẽ. Trường hợp nặng, ban có xu hướng hợp với nhau làm thành những ban lớn hơn, thậm chí từng mảng. Khi ban lan đến chân thì sốt cũng đột ngột giảm đi nếu không có biến chứng. Sau đó ban cũng nhạt dần và mất đi đúng theo tuần tự nó đã xuất hiện, nghĩa là cũng từ trên xuống dưới. Sau khi ban mất đi, trên da còn lại những dấu màu sậm lốm đốm thường được gọi là vết vằn da báo. Một số trường hợp bệnh sởi biểu hiện không giống như miêu tả ở trên như trong trường hợp bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, ban có thể không điển hình. Dạng bệnh này thường là bệnh nhân AIDS, hội chứng thận hư, điều trị thuốc ức chế miễn dịch...

Các biến chứng thường gặp do sởi

Các biến chứng thường gặp là viêm phổi, viêm tai giữa, viêm thanh quản, viêm não, cam tẩu mã, viêm ruột kéo dài dẫn đến tình trạng tiêu chảy liên tục, loét giác mạc, suy dinh dưỡng.

Phòng bệnh như thế nào?

Khi phát hiện có trẻ mắc sởi, cần cách ly trẻ bệnh với các trẻ lành. Người chăm sóc trẻ bệnh phải rửa tay trước và sau mỗi lần tiếp xúc, rồi mới được tiếp xúc với trẻ lành.

Hiện nay có vaccin tam liên sởi - quai bị - rubella tiêm phòng cho trẻ mũi đầu khi trẻ được 9 tháng tuổi, mũi thứ hai lúc trẻ lên 4 - 6 tuổi.

Trong trường hợp đã có tiếp xúc nguồn lây, việc sử dụng globulin miễn dịch có thể phòng ngừa bệnh hoặc làm giảm mức độ nặng của sởi. Tuy nhiên đây là phương thức phòng ngừa đắt tiền và ít phổ biến.

ThS. Nguyễn Thanh Lâm

Theo http://suckhoedoisong.vn, 26/9/2010

Xem thêm bài trên Bách khoa toàn thư:

http://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%9Fi

Bệnh chân tay miệng (3 bài)

Bài 1. Phát hiện sớm và đúng bệnh chân tay miệng



Tuy mùa dịch bệnh chân tay miệng mới bắt đầu, nhưng đã có nhiều trẻ em nhập viện với biến chứng nặng. Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và vaccin phòng bệnh, nên cần phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Virut đường ruột là nguyên nhân chính gây bệnh

Virut Entero 71 được xác định gây bệnh chân tay miệng là một loại virut đường ruột, gây bệnh chủ yếu lây nhiễm qua đường tiêu hóa, trực tiếp phân - miệng hoặc gián tiếp qua nước, thực phẩm, tay bẩn... bị ô nhiễm phân người bệnh. Một số ít trường hợp được ghi nhận lây lan qua đường hô hấp.









Sau khi xâm nhập, virut đến cư trú tại họng và đoạn dưới của ống tiêu hóa. Trong vòng 24 giờ, chúng sẽ xâm nhập vào các hạch bạch huyết tại chỗ và tăng sinh tại đây. Giai đoạn này, virut được tìm thấy trong dịch cổ họng và trong phân của bệnh nhân.

Bệnh thường xảy ra vào mùa hè thu và gần như quanh năm ở các nước nhiệt đới, có thể gặp ở mọi lứa tuổi, phổ biến ở trẻ dưới 4 tuổi. Hội chứng này mới được chú ý ở Việt Nam trong vài năm gần đây và thường bùng phát thành dịch mạnh ở các tỉnh phía Nam, ít gặp hơn ở các tỉnh phía Bắc.

Biến chứng viêm não có thể dẫn đến tử vong

Bệnh tay chân miệng do virut Entero 71 gây ra có những triệu chứng ban đầu như sốt nhẹ, sưng miệng, nổi bong bóng nước to khoảng đầu đũa, màu xám, đỏ hình ô van ở vùng mông, gối, lòng bàn tay, lòng bàn chân và thường ấn không đau. Bong bóng nước còn xuất hiện trong miệng, khi vỡ ra gây những vết loét trong miệng. Một số trẻ có kèm nôn ói, tiêu chảy ngay khi nổi bóng nước hay khi bóng nước đã xẹp. Những triệu chứng này khiến nhiều bác sĩ chẩn đoán nhầm là bệnh thủy đậu, nhiễm khuẩn da hay dị ứng...

Sau khi xâm nhập vào cơ thể, đến ngày thứ 3, virut từ các hạch theo máu đến gây tổn thương tại da, niêm mạc, tiếp tục sinh sản rồi gây những triệu chứng đầu tiên.

Các tế bào dưới da và niêm mạc phình to, chứa nhiều dịch tiết, gây hoại tử, phù trong tế bào và quanh tế bào. Tổn thương chủ yếu ở các vùng miệng, tay và chân. Sau khi gây tổn thương da, niêm mạc, virut không nhân lên nữa, cơ thể xuất hiện kháng thể và hiện tượng nhiễm virut chấm dứt.

Ở một số trường hợp, virut từ da, niêm mạc trở vào máu lần thứ 2 để đến hệ thần kinh trung ương gây viêm não, viêm màng não, liệt. Đồng thời, cơ thể sản xuất kháng thể và virut ở da, niêm mạc biến mất. Tuy nhiên, virut ở đường ruột có thể hiện diện kéo dài đến 17 tuần.

Trẻ nhỏ có thể có ban dạng sẩn vùng mông, nơi quấn tã lót. Trong giai đoạn diễn tiến, khi virut gây bệnh xâm nhập hệ thần kinh trung ương, trẻ sẽ xuất hiện triệu chứng rối loạn tri giác như lơ mơ, ly bì, mê sảng hay co giật, có nhiều trường hợp trẻ có mạch nhanh nhưng không sốt cao, yếu tay chân, méo miệng. Bệnh nhi có thể tử vong hoặc phục hồi sau một thời gian điều trị, nhưng vẫn còn những rối loạn tâm thần kinh kéo dài.

Phòng bệnh là biện pháp cơ bản

Nếu bệnh do các virut lành tính gây ra, bóng nước tự xẹp đi, bệnh có thể tự khỏi sau 5-7 ngày. Nhưng nếu bệnh do virut Entero 71 gây ra thì có thể bị biến chứng rất nguy hiểm là viêm não, viêm cơ tim, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết rất dễ dẫn tới tử vong.

Trẻ mắc hội chứng chân - tay - miệng thường khỏi trong vòng 1 tuần nếu được điều trị đúng cách, không có biến chứng. Nếu không được điều trị đúng cách hoặc diễn tiến nặng, bệnh sẽ gây những biến chứng rất nặng.

Có những trường hợp mắc bệnh tay chân miệng nhưng rất ít các triệu chứng hoặc không có các biểu hiện dễ nhận thấy như nổi bóng nước, nên nếu thấy trẻ có những triệu chứng bất thường kể trên cần nhanh chóng đưa trẻ đến bệnh viện. Gia đình phải theo dõi sát sao trẻ ít nhất trong 8 ngày sau triệu chứng đầu tiên để phát hiện ngay các dấu hiệu biến chứng và đưa trẻ đến bệnh viện để được điều trị kịp thời.

Do đa số bệnh tay - chân - miệng sẽ tự khỏi nên đối với trường hợp không có dấu hiệu của biến chứng có thể điều trị tại nhà bằng thuốc giảm đau, cho trẻ ăn thức ăn lỏng, dễ tiêu, cố gắng cho trẻ ăn thành nhiều bữa.

Hiện nay bệnh tay - chân - miệng chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vaccin phòng ngừa nên cách phòng bệnh tốt nhất là bảo đảm vệ sinh trong ăn uống, cá nhân cho trẻ thật tốt. Cho trẻ ăn uống đầy đủ dưỡng chất, uống nhiều nước. Không cần kiêng gió và ánh sáng. Nên cho trẻ mắc bệnh nghỉ học và không cho tiếp xúc với trẻ khác để tránh lây lan bệnh.

Theo Sức khỏe & Đời sống
Copy từ http://giadinh.net.vn, đăng 6/5/2008

Bài 2. Bệnh chân tay miệng và biến chứng



Bệnh chân tay miệng là căn bệnh thường gặp ở trẻ em và rất nguy hiểm nếu không biết cách phát hiện, phòng tránh và điều trị kịp thời. Nguy hiểm hơn là bệnh có thể để lại biến chứng gây nên viêm màng não, viêm cơ tim… có thể gây tử vong. Vì vậy các gia đình có trẻ nhỏ cần nắm chắc thông tin về căn bệnh này.

Dịch tễ học

Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi và rất ít thấy ở trẻ trên 5 tuổi. Một điểm cần lưu ý là trong một đợt dịch bệnh, trẻ có thể bị mắc bệnh tái đi tái lại nhiều lần cho đến khi được 5 tuổi mới có miễn dịch hoàn toàn với bệnh.

Nguyên nhân gây bệnh

Tác nhân gây bệnh chân tay miệng trước đây được biết là vi-rút Coxsackie. Khảo sát tại bệnh viện nhi đồng đã xác nhận sự hiện diện của Enterovirus 71 và vi-rút Coxsakie trong các đợt dịch bệnh tại TP.HCM.

Sự lây truyền bệnh

Vi-rút gây bệnh có khả năng lây lan rất nhanh qua đường miệng.Trong những đợt dịch, bệnh có thể lây rất nhanh từ trẻ này sang trẻ khác qua các chất tiết mũi miệng, phân hay bọt nước của trẻ bệnh:

Trẻ lành tiếp xúc trực tiếp với trẻ bệnh, bị nhiễm bệnh do nuốt phải nước bọt của trẻ bệnh được văng ra trong lúc ho, hắt hơi

Do trẻ lành cầm nắm đồ chơi, sờ chạm vào sàn nhà bị dây dính nước bọt, chất tiết mũi họng của trẻ bệnh.

Ngoài ra bệnh còn lây cho trẻ qua bàn tay chăm sóc của các cô bảo mẫu.

Vi-rút xâm nhập vào cơ thể qua niêm mạc miệng hay ruột vào hệ thống hạch bạch huyết và từ đó sẽ phát triễn rất nhanh và gây ra các tổn thương ở da và niêm mạc.

Biểu hiện của bệnh

Loét miệng: là các bóng nước có đường kính 2-3 mm Thường khó thấy các bóng nước trên niêm mạc miệng vì nó vở rất nhanh tạo thành những vết loét, trẻ rất đau khi ăn, tăng tiết nước bọt

Bóng nước: từ 2-10 mm, màu xám, hình bầu dục.

Bóng nước vùng mông và gối thường xuất hiện trên nền hồng ban.

Bóng nước lòng bàn tay và lòng bàn chân có thể lồi lên trên da sờ có cảm giác cộn hay ẩn dưới da, thường ấn không đau.

Bệnh có thể biểu hiện không điển hình như: bóng nước rất ít xen kẻ với những hồng ban, một số trường hợp chỉ biểu hiện hồng ban và không có biểu hiện bóng nước hay chỉ có biểu hiện loét miệng đơn thuần.

Diễn tiến và biến chứng của bệnh chân tay miệng

Giai đoạn 1: Các trường hợp ít bóng nước thường có biến chứng

Giai đoạn 2:
Viêm màng não: trẻ cĩ biểu hiện run chi, giật mình nhưng chưa thay đổi tri giác (vẫn tỉnh, không mê).

Viêm não: vật vã, kích thích, chới với, thay đổi tri giác, yếu chi, liệt mặt

Giai đoạn 3:
Giảm chức năng co bóp thất trái trên siêu âm
Phù phế nang, sùi bọt hồng, phù phổi

Giai đoạn 4:
Hồi phục, di chứng hay tử vong

Biến chứng:

Các biến chứng thường gặp là: viêm màng não, viêm não màng não, liệt mềm cấp, viêm cơ tim, phù phổi cấp do thần kinh

Các biến chứng có thể phối hợp với nhau như: viêm não màng não, phù phổi và viêm cơ tim trên cùng 1 bệnh nhân.

Các biến chứng này thường gây tử vong cao và diễn tiến rất nhanh có thể trong 24 giờ.

Theo các nghiên cứu tại Đài loan cho thấy biến chứng nặng thường do Enterovirus 71.

Biểu hiện biến chứng viêm não, viêm màng não

Không có biểu hiện mê sâu

Biểu hiện ban đầu bằng các triệu chứng quấy khóc, ngủ nhiều, hoảng hốt hay giật mình run chi, yếu chi, đứng không vững, đi loạng chọang.

Diễn tiến rất nhanh đến co giật, khó thở, suy hô hấp, rối loạn vận mạch, sốc thần kinh.

Lưu ý: biến chứng viêm não màng não vẫn có thể xuất hiện khi các nốt phỏng nước trên da trẻ đã khô và đóng vảy.

Cần chú ý phát hiện sớm biến chứng viêm vão màng não và đưa trẻ đến bênh viện trong vòng 6 giờ đầu sau khi xuất hiện các biểu hiện của biến chứng để được cấp cứu kịp thời.

Điều trị bệnh chân tay miệng:

Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, việc điều trị bệnh chủ yếu là điều trị triệu chứng. Đưa trẻ đến khám bệnh tại các cơ sở y tế. Nếu trẻ được chỉ định chăm sóc tại nhà, cần thực hiện những điều sau đây :

Vệ sinh răng miệng và thân thể, tránh làm nhiễm trùng các bóng nước

Giảm đau, hạ sốt bằng cách lau mình bằng nước ấm, dùng thuốc hạ sốt Paracetamol.

Nghỉ ngơi hợp lý, hạn chế vận động, tăng cường dinh dưỡng, cho ăn thức ăn lỏng, mềm, uống nhiều nước nhất là nước hoa quả.

Không cạy vỡ các bóng nước để tránh nhiễm trùng.

Theo dõi sát để phát hiện các dấu hiệu: dễ giật mình, hoảng hốt, run chi, gồng tự hết, đi loạng choạng, chới với, co giật, da nổi bông, nôn ói nhiều, sốt cao. Khi có các biểu hiện trên đây cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay.

Phòng bệnh chân tay miệng như thế nào?

Hiện nay vẫn chưa có vắc-xin phòng bệnh nên cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

Rửa tay: thường xuyên rửa tay bằng xà phòng dưới vòi nước chảy, nhất là trước và sau khi nấu ăn, trước khi ăn và sau khi đi tiêu. Nếu có chăm sóc trẻ thì cần lưu ý rửa tay sau mỗi lần thay tả, làm vệ sinh cho trẻ.

Rửa sạch các dụng cụ, vật dụng, đồ chơi, sàn nhà bằng nước và xà phòng, rồi khử trùng bằng cloramin B 5% (có thể mua tại nhà thuốc tây).

Đeo khẩu trang mũi miệng khi hắt hơi hoặc ho.

Cách ly người bệnh tại nhà cho đến khi khỏi bệnh (thường ít nhất là 7 ngày).

Theo http://meyeucon.org/1625/benh-chan-tay-mieng-va-bien-chung/, 11/2/2010

Bài 3. Bệnh tay chân miệng và nguy cơ viêm não do Enterovirus 71



Theo http://meyeucon.org , ngày 20-01-2011

Bệnh tay chân miệng là một loại bệnh nhiễm trùng rất dễ lây, thường gặp ở trẻ em và trẻ nhỏ. Bệnh được gọi tên như vậy vì các nốt ban (đốm đỏ) xuất hiện đồng thời ở cả tay, chân và miệng.

Nguyên nhân của bệnh tay chân miệng là gì? Bệnh có nguy hiểm không?

Nguyên nhân gây bệnh tay chân miệng là các vi rút thuộc các nhóm vi-rút đường ruột (vi-rút Cocsackie, Enterovirus,…), trong đó thường gặp nhất là vi-rút Cocsackie. Theo tài liệu nghiên cứu của BV. Nhi đồng I TP.HCM năm 2005, tỷ lệ gây bệnh của các loại vi-rút này là: 50% do Cocsackie; 44% do vi-rút Entero 71; 6% còn lại do các vi-rút khác.

Vi-rút Cocsackie là một vi-rút rất lành tính. Các bệnh nhân bị bệnh tay chân miệng do vi-rút Cocsackie thường sẽ tự khỏi trong vòng 7-10 ngày mà không cần điều trị và hầu như không có biến chứng gì.

Tuy nhiên nếu tác nhân gây bệnh là Enterovirus 71 thì rất nguy hiểm. Vi-rút này có thể gây biến chứng viêm màng não, hoặc hiếm gặp hơn là biến chứng viêm não, liệt mềm dạng bại liệt. Biến chứng viêm não do Enterovirus 71 rất nặng, có thể dẫn đến tử vong.

Bệnh tay chân miệng lây lan qua đường nào?

Bệnh tay chân miệng là một bệnh rất dễ lây. Bệnh lây lan trực tiếp từ người sang người, do tiếp xúc trực tiếp với phân, dịch tiết mũi họng, nước bọt, đồ chơi hoặc chất dịch trong các nốt bọng nước của người bệnh.

Thời gian “ủ bệnh” của bệnh tay chân miệng là bao lâu? Bệnh biểu hiện bằng các triệu chứng gì?

Thời gian ủ bệnh là thời gian từ lúc bị lây nhiễm đến khi khởi phát bệnh.

Thời gian ủ bệnh của bệnh tay chân miệng là 3-7 ngày. Bệnh tay chân miệng biểu hiện bằng các triệu chứng sau:

- Sốt nhẹ, chán ăn, đau họng, mệt mỏi, khó chịu, quấy khóc.

- Sau khi sốt 1-2 hôm, bệnh nhi xuất hiện các đốm đỏ trong miệng (ở lưỡi, lợi răng, niêm mạc má, niêm mạc họng). Các đốm đỏ này chuyển dần thành các nốt bọng nước, rồi vỡ ra thành các vết loét khiến trẻ đau miệng, bỏ ăn.

- Một hai hôm sau, bệnh nhi xuất hiện các nốt ban phẳng dẹt, màu đỏ ở da lòng bàn tay, lòng bàn chân, vùng mông, vùng gối. Một số các nốt ban này chuyển thành các nốt bọng nước, kích thước từ 2-10 mm, màu xám, hình bầu dục, ấn không đau.

Bệnh tiến triển như thế nào?

Nếu là bệnh tay chân miệng do vi-rút Cocsackie, bệnh sẽ tự khỏi trong vòng 7-10 ngày sau đó. Nhưng nếu nguyên nhân gây bệnh là Enterovirus 71 trẻ có thể có những biến chứng nguy hiểm như viêm màng não, viêm não… Điều nguy hiểm hơn là các biến chứng này rất khó phát hiện sớm nếu thầy thuốc không có kinh nghiệm, người nhà bệnh nhân không chú ý.

Do đó, khi trẻ bị bệnh tay chân miệng cần theo dõi và quan sát trẻ kỹ trong 8 ngày đầu để phát hiện các dấu hiệu nguy cấp như: nôn ói nhiều, cứng gáy hoặc có những biểu hiện hoảng hốt như nói lảm nhảm, chới với, run chi, co giật, để đưa trẻ đến bệnh viện ngay bởi khi trẻ có biến chứng mà không được điều trị đúng và kịp thời, trẻ có thể bị tử vong ngay trong vài giờ.

Điều trị như thế nào?

Hiện không có thuốc điều trị đặc hiệu đối với các vi-rút đường ruột gây nên bệnh tay chân miệng. Việc điều trị bệnh chủ yếu là điều trị triệu chứng: giảm đau, hạ sốt, tăng sức đề kháng cơ thể.

Làm thế nào để phòng ngừa bệnh? Có thể tiêm vắc-xin để phòng bệnh không?

Cho đến nay thế giới chưa có vắc-xin để phòng ngừa bệnh này. Do bệnh lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với phân, dịch tiết mũi họng, dịch của các nốt bọng nước của người bệnh nên cách phòng bệnh tay chân miệng tốt nhất là:

- Tăng cường vệ sinh cá nhân: Các bà mẹ, các cô giáo, cô bảo mẫu trong nhà trẻ và các trường mẫu giáo phải rửa tay thường xuyên cho bản thân mình và cho trẻ sau mỗi lần thay quần áo, tả lót, sau mỗi lần làm vệ sinh cho trẻ, trước và sau khi ăn.

- Thường xuyên rửa sạch các dụng cụ, vật dụng và đồ chơi của trẻ bằng nước xà phòng, rồi khử trùng bằng dung dịch Cloramin B.

- Thực hiện nghiêm chỉnh 100% việc ăn chín, uống sôi.

- Hạn chế tối đa việc tiếp xúc với người bệnh như hôn, dùng chung các vật dụng, đồ chơi…

- Cho trẻ nghỉ học và cách ly tại nhà một tuần khi mắc bệnh theo hướng dẫn của ngành y tế.

- Các khu vui chơi giải trí, các hồ bơi phải thực hiện nghiêm túc các qui định về vệ sinh môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm. Các hồ bơi phải thực hiện việc khử trùng nước theo đúng qui định hiện hành.

- Khi trẻ có dấu hiệu mắc bệnh phải đến báo ngay cho nhân viên y tế tại trường hoặc trạm y tế nơi cư trú để được chăm sóc chữa trị và được hướng dẫn các biện pháp cách ly phòng tránh lây nhiễm bệnh cho người khác.

Lưu ý

Bệnh tay chân miệng lây lan rất nhanh, có thể có các biến chứng nguy hiểm như viêm não, viêm màng não dễ dẫn đến tử vong. Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chưa có văc-xin dự phòng. Do đó cần phải:

- Thực hiện đúng và đầy đủ các biện pháp vệ sinh phòng bệnh để hạn chế lây lan bệnh.

- Khi trẻ bị bệnh tay chân miệng, cần theo dõi trẻ sát, phát hiệm sớm các dấu hiệu cấp cứu để kịp thời đưa trẻ đến bệnh viện.

Kinh nghiệm xoá tan mảng chai cứng nơi tay chân

Có nhiều tên gọi: chai chân, mắt cá, dày sừng, mảng cứng... Tây y gọi Durillon-Cor. Mảng cứng có thể nổi rõ trên mặt da.

Dưới lớp trung, hạ bì, di chuyển, to, dài ra. Người nhiều tuổi, lao động nặng, đơn điệu... dễ bị xơ cứng. Tây y thường cắt bỏ. Ta có thể phòng trị đơn giản, không tái phát, chữa trị tốn kém.

Nguyên nhân

Có nhiều. Ở chân: do đi chân không, đi giầy dép chật, ngồi thiền, giẫm phải gai, sạn lặn sâu trong da thành cục u, tăng sinh lớp sừng có nhân "mắt cá"... Ở tay: do tì, ép, cọ xát, cầm nắm, va đập nhiều... thành chai da. Song, cũng còn tại cơ địa ở người có phản ứng đặc biệt với lớp sừng thượng bì, hoặc cả lớp sâu trung bì, hạ bì.

Vậy là cần kiến thức về "chai" để tự xử lí.

Tác hại

Nhiều mức độ. Nhẹ nhất: trông "vướng mắt" mất thẩm mĩ. Các quý ông, quý bà ngồi thiền nhiều, ở mắt cá nhân, mu bàn chân... nổi cục. Thâm đen từng đám da, coi chừng lâu ngày da... chết, hoại tử... Thật khó chịu với các mảng chai ở lòng bàn tay, bàn chân, ở các đốt các ngón, cạnh móng... Người bệnh gan mật thì trong phần thịt ở đốt đầu ngón tay vô danh (đeo nhẫn) nổi cộm một cục cứng.

Ở chân, nặng thì đi lại khó khăn, không đi được xa, mang vác nặng... nhỡ dẫm phải sỏi, mô đất cục đá thì đau nhói tận óc. Bị biến chứng như mưng mủ thì đau phát sốt, nổi hạch trên bẹn... Có khi không biết bệnh gì.

Đi đứng chậm chạp, kém tự tin, mất phong độ và chất lượng cuộc sống giảm sút.

Cách chữa nguy hiểm

Đừng để "nước đến chân mới nhảy". Nhiều bà con đi rừng bàn chân rỗ như tổ ong. Có người ngồi... buồn lấy gai ở cây có gai, với con dao, cái nhíp-lể, khoét, cậy, bẩy như đánh gốc cây, lấy ra một mắt cá to tròn như hạt ngô, để lại dưới gót chân một lỗ sâu có chỗ rơm rớm máu. Cực kì nguy hiểm bởi dễ bị nhiễm trùng máu, phải cưa cắt chân.

Lại có người lớp chai... lộ thiên, trông "ngứa mắt", lấy dao sắc lạng gọt dần lớp sừng. Đâu là giới hạn chai sừng và thịt mềm khó biết. Chẳng may chạm vào mao mạch, mạng thần kinh bao quanh mảng cứng thì thật nguy hiểm. Nhẹ là nhiễm trùng mưng mủ... Rồi, có người lấy vôi tôi, xà phòng trộn thành một thứ kem hỗn hợp, dùng kim băng trích, trọc tí chút để bôi lên cho nhanh tác dụng thế cũng nguy hiểm lắm!

Kinh nghiệm phòng trừ

Từ kinh nghiệm bản thân, chúng tôi khẳng định trái với một số văn y rằng chai chân không thể giải quyết dứt điểm mà chỉ làm giảm độ dày sừng... Bằng cớ là chừng hơn năm nay tôi bị một mảng cứng cỡ đốt ngón tay, hình dẹt, nổi chính giữa rìa ngoài bàn chân phải, ban đầu ở 1/3 gần ngón chân út, sau chữa, lùi dần xuống gót chân rồi tan. Mảng thứ hai đáng ngại, phát hiện ra khi đi bộ trên máy, thấy gợn gợn, tức tức, sờ tay thấy nó dài gấp rưỡi đốt ngón tay, cộm lên dưới lớp hạ bì, ở giữa - cạnh phần thịt nhô cao dưới gót bàn chân. Nay cả hai đã biến mất sau nửa năm xử lí.

Trị nhiều cách có lẽ mỗi cách đều ít nhiều có tác dụng. Đi trên mặt máy độ ráp nhám cao, cố ý chà xát mạnh bàn chân. Dùng con lăn-dụng cụ mát-xa có gai nhọn lăn sát nhiều lần, ngày ngày, dăm mười phút, kết hợp dùng ngón tay cái, vật tù đầu, day ấn vào mảng cứng. Có sách nói ngâm chân có mảng cứng vào nước ấm pha xà phòng, bồ kết cho mềm chỗ chai, bỏ bớt lớp sừng. Tôi nghiệm: xát nước quả chanh tươi nhiều lần tốt hơn.

Thuốc dạng kem bôi "bạt sừng" nhiều loại, rẻ như Ben-zo-sa-ti của Công ty Dược Tra-pha-co chẳng hạn, tốt. Dân gian có ba bài vị: hạt gấc 10 hạt, xà phòng đóng bánh 100g, vôi bột 50g. Gấc bóc vỏ, sao vàng tán nhỏ. Vôi cho ít nước. Xà phòng giã nhuyễn. Ba thứ luyện đều, nhuyễn thành khối thuốc dẻo, đưa vào nhiệt độ chừng 60 độ C cho mềm. Rửa sạch cả vùng chai, bôi dung dịch thuốc lên mảng chai, tránh vùng da thịt chung quanh kẻo rát bỏng. Mảng cứng nhẹ chỉ 2-3 lần, thuốc ngấm, chai biến mất.

Nhiều dân tộc trên thế giới thường dùng lớp bẹ củ hành tươi lấy băng sạch rịt mảng chai một ngày đêm, phần cứng mềm ra, quanh gốc cứng trắng nhợt, chai tự rụng. Hoặc, trứng gà luộc, bỏ lòng trắng, lòng đỏ bỏ vào muối kim loại đun nóng chảy thành dầu lỏng, nhỏ giọt lên mảng chai vài ngày. Chai tự tiêu. Lại có cách đơn giản, hoà nước muối đặc 15-20%, ngâm chỗ chai 30 phút, 20 lần ngâm sẽ hết chai.

Nhất cử lưỡng tiện

Con người-một "vũ trụ nhỏ", mọi cơ quan bộ phận đều quan hệ đến nhau. Day, bấm, lăn... mảng chai chỗ này lại chữa bệnh chỗ khác. Như nốt chai ở ngón tay vô danh (nói trên phần tác hại), mà da thịt mềm nhẵn trở lại thì gan, mật, trụy, lách cũng giảm hết các triệu chứng đau, có thể khỏi bệnh-như sách của Mỹ đã công bố.

Cái thứ u chai này-một thứ bệnh "chưa chết ai", nên xã hội còn ít quan tâm, vậy mà lại nhiều người bị, thật khó chịu, giảm đi chất lượng cuộc sống vốn có. Quý vị thử "tự làm bác sĩ". Chúng tôi quan niệm phòng trị một bệnh phải chữa toàn thân bằng tập luyện kết hợp với chế độ ăn uống, sinh hoạt, lao động, nghỉ ngơi hợp lí, lối sống lành mạnh, khoa học.

Trịnh Tố Long
Theo nguoicaotuoi.org.vn

Đoán bệnh qua biến đổi màu da

Màu sắc và độ láng bóng của da có thể phản ánh trạng thái sức khỏe của các phủ tạng nằm trong cơ thể, được coi như chiếc "phong vũ biểu" hay tờ "giấy thử màu" đo mức độ sức khỏe của cơ thể con người.
Vì vậy, trong một khoảng thời gian nào đó, màu sắc của da bỗng nhiên bị chuyển gam màu "xám đen", hoặc "trắng bệch" thì phải dè chừng, chú ý loại trừ những nhân tố mang tính toàn thân, thậm chí là bệnh tật...

Nguyên nhân dẫn tới làn da đen sạm có thể là:

1.Trạng thái ngủ và tinh thần: Thức đêm nhiều và kéo dài có thể làm cho cơ bắp nhão, da chùng, xuất hiện mắt thâm quầng, hoặc tình cảm không tốt như tinh thần căng thẳng thời gian dài, tâm tình bị dồn nén ức chế… có thể làm da xám đen, hình thành đốm bã chè…

2.Nhân tố nội tiết: Thời kì mang bầu, kinh nguyệt không đều… có thể làm tăng khả năng tổng hợp sắc tố màu đen trong biểu bì dẫn tới sự lắng đọng sắc tố.

3.Các bệnh mạn tính: Các loại bệnh mạn tính như lây nhiễm, khối u, chứng bệnh về gan, thận… đều có thể làm thay đổi sắc tố của da. Gan là khí quan chuyển hóa của toàn cơ thể, mà sản phẩm của quá trình chuyển hóa được bài thải thông qua thận. Một khi gan hoặc thận xảy ra trục trặc về chức năng thì sẽ ảnh hưởng tới chuyển hóa của toàn thân, độc tố không được bài thải kịp thời, da sẽ trở nên xám xịt, không còn láng bóng.

4.Nhân tố dược phẩm: Uống trường kì các loại thuốc kháng sinh, thuốc giảm đau, dược phẩm chứa asen (As) hoặc tiếp xúc với vật chất thuộc loại dầu cốc (tar) sẽ dẫn tới làm thay đổi sắc tố của da.

5.Ăn uống không hợp lí: Thói quen ăn uống không tốt có thể dẫn tới làm lắng đọng sắc tố (pigmentation) dưới da. Như có người không thích ăn rau xanh, nếu thời gian kéo dài, lượng vitamin trong cơ thể sẽ thiếu hụt nghiêm trọng thì da rất dễ xuất hiện hiện tượng lắng đọng sắc tố. Có người trong một ngày ăn tới 1kg quýt, màu da có thể biến thành màu vàng khè.

Với trường hợp da người bệnh chuyển sang "trắng bệch", nếu đồng thời kèm triệu chứng mệt mỏi rã rời, chán ăn biếng uống, nhất là ở nữ giới, thì trước hết phải nghĩ tới khả năng nghèo máu. Ngoài ra, có người sợ da phơi nắng thành "cô gái lọ lem" không còn như trứng gà bóc, suốt ngày cứ ru rú cấm cung, kết quả là làm cản trở sự hấp thu can-xi, phốt-pho từ đó dễ dẫn tới chứng loãng xương. Hơn nữa, nếu một thời gian dài không tắm nắng thì sự hình thành sắc tố đen (melanin) trong da sẽ giảm thiểu, khả năng chống lại tia tử ngoại của da cũng sẽ yếu đi, khi ra nắng da dễ bị bỏng phồng rộp, làm tăng tỉ lệ phát sinh khối u da.

ThS. Bùi Hữu Cường
(Theo "Sinh mệnh thời báo" -
Hồng Kông, tháng 10 - 2009)

Bí quyết khử mùi cho chân

Đôi chân xinh có thể trở thành môi trường sống lý tưởng cho vi khuẩn. Những sản phẩm do lũ vi khuẩn đáng ghét này thải ra chính là đôi chân “bốc mùi” của mình. Khi mang giày, chân đổ mồ hôi nhiều hơn, kết quả là vi khuẩn càng được “chiêu đãi” lượng thức ăn dồi dào.

Mùi hôi ở chân còn có thể xuất phát từ việc chân bị nhiễm nấm mà không được chữa trị đúng cách. Những người bị tiểu đường hay mắc bệnh tim và những người lớn tuổi thường có xu hướng bị nhiễm trùng ở chân và khiến cho đôi bàn chân “có mùi” vì khả năng lưu thông máu ở chân kém.

Làm gì khi chân “bốc mùi”?

Bạn nên thử áp dụng một số biện pháp sau:

- Rửa chân hàng ngày bằng nước ấm cùng với xà phòng khử mùi hoặc diệt khuẩn.

- Nếu bị bệnh nấm chân hay nấm móng, nên dùng máy sấy tóc để sấy khô đôi chân sau mỗi lần rửa hoặc khi chúng bị ẩm ướt. Điều này giúp phòng tránh được nguy cơ nhiễm trùng cũng như hạn chế độ ẩm ở chân.

- Rắc phấn bột lên chân trước khi mang vớ hoặc giày. Phấn bột sẽ hấp thu mồ hôi, vốn là nguyên nhân gây mùi hôi.

- Thay vớ hàng ngày và luôn sử dụng vớ sạch. Vớ sau khi thay ra phải được giặt sạch, phơi nắng và để nơi thoáng khí trước khi mang trở lại. Loại vớ làm bằng chất liệu cotton có khả năng thấm hút mồ hôi tốt hơn, giúp chân được thoáng, không bị bí hơi và “tỏa” mùi.

- Chọn những đôi giày có lưới, thoáng hoặc sandal để chân được “thở”.

- Giặt sạch những đôi giày thể thao (ít nhất mỗi tháng một lần).

- Để giày ở những nơi có ánh sáng và thông thoáng. Không đặt chúng trong tủ tối, kín bởi vì đây chính là những khu vực mà vi khuẩn rất yêu thích.

- Đặt những chiếc túi thơm có tác dụng khử mùi vào những chiếc giày sạch. Bạn có thể sử dụng loại túi thơm có chứa thảo dược như cây tuyết tùng hoặc chứa hỗn hợp khoáng chất zeolite. Đây là khoáng chất tự nhiên của núi lửa có khả năng hút mùi. Sau khi đặt vào giày, hãy mang những chiếc túi thơm ra phơi nắng trong khoảng 6 giờ để khử hết mùi hôi đã bám vào túi.

- Mua những miếng lót giày có công dụng khử mùi. Thay chúng thường xuyên sau khoảng 3 đến 6 tháng.

- Giặt sạch miếng lót có thể tháo rời ra được của giày sau mỗi lần mang. Điều này cũng giúp cho phần đế bên dưới được khô ráo hơn, không bị đọng mồ hôi.

Một số phương pháp đơn giản để giữ sạch đôi chân:

- Ngâm chân bằng nước trà đen. Cho một ít trà đen vào trong nước sôi, để khoảng 15 phút rồi pha thêm nước sạch vào. Dùng nước này để ngâm chân trong vòng 30 phút. Lượng a-xít tanic dồi dào trong trà đen sẽ giết chết vi khuẩn và làm se khít lỗ chân lông, giúp chân ít đổ mồ hôi hơn.

- Tạo khả năng khử mùi cho chân bằng cách ngâm đôi chân của bạn vào trong chậu nước ấm có pha thêm giấm. Để tăng thêm hiệu quả, bạn nên cho thêm vài giọt tinh dầu cỏ xạ hương vào chậu nước. Loại tinh dầu này có khả năng khử trùng mạnh mẽ nên sẽ tiêu diệt tận gốc những vi khuẩn gây mùi. Hãy dùng loại nước này ngâm chân từ 15 đến 20 phút, mỗi tuần một lần. Tuy nhiên, nếu chân có vết thương hở hoặc vùng da bị tổn thương thì bạn không được áp dụng phương pháp này.

- Tinh dầu hoa oải hương không chỉ mang lại mùi thơm dễ chịu mà còn có tác dụng diệt khuẩn. Trước khi đi ngủ, bạn chỉ cần xoa vài giọt lên chân và massage nhẹ nhàng để tinh dầu thấm vào da. Trước khi áp dụng phương pháp này, nên kiểm tra mức độ kích ứng của da bằng cách thử thoa tinh dầu lên một vùng da nhỏ.

- Hòa 2 tách muối sunfat magierium vào nửa chậu nước ấm. Mỗi ngày hai lần, bạn dùng nước muối này để ngâm chân. Muối sunfat magierium hoạt động như một chất làm se giúp hạn chế việc đổ mồ hôi chân và còn tiêu diệt được vi khuẩn.

- Bột soda cũng có tác dụng trung hòa mùi hôi. Trong khi đó, bột bắp sẽ giúp hấp thu lượng hơi ẩm ở chân.

Theo Bau (CNGĐ)

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2011

Vì sao da bị "già"?

Chăm sóc da nên được xem như sự chăm sóc một bộ lá của cây trồng. Một điều chắc chắn là không ai có thể chống lại quy luật tự nhiên về sự lão hóa, kểcả với da.

Da là một cơ quan quan trọng của cơ thể, được ví như toàn bộ tán lá của một cây xanh. Tán lá luôn có quan hệ mật thiết với rễ, thân và cành cây. Sự xanh tươi của tán lá sẽ gắn chặt với sự khỏe mạnh của các bộ phận nêu trên.

Trong toàn bộ tiến trình sống, da dần dần có biểu hiện của sự thoái hóa, bắt đầu với:

a. Nám da được ví như tán cây bắt đầu có “lá úa”.

b. Chảy xệ nên hiểu như lá cây héo vì thiếu nước và chất dinh dưỡng.

c. Nếp nhăn được ví như cành cây và các nhánh non không còn đủ cho lá cây xum xuê, toàn bộ tán cây không cho sự mượt mà như trước đây nữa.

d. Sự xuất hiện mụn ở giai đoạn dậy thì hay ở bất kỳ giai đoạn nào của tuổi tác được xem như “tán lá” đang mắc bệnh “sâu cuốn lá” vậy.

Như vậy, việc chăm sóc da nên được xem như sự chăm sóc một bộ lá của một giống cây trồng. Một điều chắc chắn là không ai có thể chống lại quy luật tự nhiên về sự lão hóa, nhưng chắc rằng mọi người có thể làm cho “tán lá” của riêng mình phát triển theo cách mình muốn bằng sự chăm sóc đúng cách.

Điều đơn giản mà chúng ta cần và nên làm là việc chăm sóc bộ “rễ cây” thật khỏe. Việc chăm sóc này đến từ chế độ ăn hợp lý, tức là trong từng khẩu phầu ăn phải có trái cây, rau tươi, thịt hoặc cá. Những thức ăn giàu chất mỡ, tinh bột hay thiên về một nhánh dinh dưỡng nào đó thì nên tránh. Nên tránh xa những chất kích thích: cà phê, thuốc lá, rượu… Đồng thời, một môi trường trong sạch cũng là điều cực kỳ cần thiết.
Tiến trình chăm sóc “tán cây” hay chăm sóc da theo hướng điều trị như sau:

Điều trị nám: Đơn giản là rung cây cho rụng những chiếc lá úa. Biện pháp này giống như bạn rửa mặt, làm sạch da bên ngoài, nên tránh những chất tẩy quá mức. Bước kế tiếp xử lý là những cành khô bằng biện pháp tia laser nhằm triệt tiêu những vết nám đó.

Xử lý bộ “rễ” là xử lý những bệnh lý đang ảnh hưởng đến da của chúng ta: bệnh gan, thiếu máu, sử dụng thuốc ngừa thai, bệnh lý phải sử dụng thuốc kéo dài.

Song song với từng bước này, chúng ta cũng nên có biện pháp dưỡng da, chống nắng.

Điều trị chảy xệ: Tình trạng da lúc này giống như lá cây bị thiếu nước và chất dinh dưỡng vì bộ rễ cây không còn hút đủ chất dinh dưỡng, thân cây không còn vận chuyển các chất này từ rễ cây lên tốt như trước nữa. Vì thế, trong tiến trình khắc phục lại làn da, cần phải chăm chút từ chế độ ăn, giảm các công việc mang tính căng thẳng.

Việc này còn cần được hỗ trợ của các công nghệ làm thẳng các sợi collagen và tăng cường các sợi collagen mới. Các yếu tố làm mới sợi collaggen có sẵn trong da chỉ cần các yếu tố kích thích là chúng phát huy tác dụng: laser, IPL, RF, những chấn thương nội mô...

Nếp nhăn: Có thể xuất hiện sau một đêm làm việc mệt nhọc, sau những ngày lo toan vất vả, nhưng thường khi chúng xuất hiện tăng theo số tuổi.

Những nếp nhăn do công việc sẽ khắc phục dễ dàng khi không còn chịu áp lực nữa. Những nếp nhăn do tuổi tác thì cần sự hỗ trợ của các chất làm đầy (acid hyaluronic) và các công nghệ tiên tiến hơn, như là fractional laser. Hiểu đơn giản là cần kích thích cây mọc thêm nhánh, chặt bỏ những cành khô.

Mụn: Có những loại cây không hề bị sâu lá tấn công, làn da con người cũng thế. Tuy nhiên, có những làn da rất dễ bị mụn vì: môi trường nhiều bụi; chế độ ăn nhiều chất dầu, mỡ và tinh bột mà thiếu rau tươi và trái cây. Yếu tố quan trọng nhất trong cơ chế sinh mụn là hormone, được tiết ra trong giai đoạn dậy thì, thêm vào đó áp lực trong học tập và thi cử làm cho lượng hormone này gia tăng.

Đây là nguyên nhân chính hình thành mụn. Việc chăm sóc làn da luôn sạch sẽ, sử dụng thuốc kháng sinh thích hợp sẽ ngăn cản sự phát triển của vi khuẩn là cách điều trị chính yếu trong giai đoạn này. Giữ độ pH da bình thường cũng là việc cần thiết.

Theo afamily.vn

Thứ Sáu, 25 tháng 2, 2011

Bánh mì - thủ phạm gây mụn trứng cá ở thiếu niên

Bánh mì từ bột tinh chế rất dễ hấp thu.

Ngũ cốc tinh luyện và bánh mì làm từ bột tinh chế còn nguy hiểm hơn cả chocolate và thực phẩm giàu chất béo trong việc làm cho mặt nổi mụn trứng cá. Hàm lượng lớn tinh bột tinh chế trong các thực phẩm này, vốn rất dễ được cơ thể hấp thu, chính là nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên.

Đó là kết luận của các nhà nghiên cứu tại Đại học bang Colorado (Mỹ). Theo họ, việc sử dụng các thực phẩm chứa tinh bột tinh chế sẽ kích thích cơ thể sản xuất nhiều insulin và IFG-1 (yếu tố tăng trưởng giống insulin). Khi đó, cơ thể bị thừa hoóc môn nam và kết quả là da sẽ sản xuất nhiều chất bã - những chiếc "ổ" bằng dầu mà vi khuẩn gây trứng cá đặc biệt yêu thích.

Các nhà khoa học Australia dự định thử nghiệm giả thuyết nói trên của các tác giả Mỹ bằng cách cho 60 thiếu niên bị mụn trứng cá tuân thủ chế độ ăn nghèo chất bột trong 3 tháng.

Mụn trứng cá không phải là hậu quả duy nhất của chế độ ăn giàu tinh bột dạng tinh chế. Các thực phẩm này cũng được coi là thủ phạm gây chứng cận thị, và góp phần gây ra tiểu đường loại 2 (khởi phát ở người trưởng thành).

Theo NauNgon.com

Dễ bị ung thư da vì quần áo

Theo các chuyên gia, thuốc nhuộm nhóm IZO có nguy cơ ung thư da rất cao. Người dân không thể phát hiện bằng mắt thường đối với các loại quần áo có nhuộm màu loại này, nhưng có thể loại bỏ nguy cơ bằng nhiều cách.

Mẩn ngứa, màu nhòe khắp người

Chị Trần Thị Hà (Hoàng Mai, Hà Nội) mua vải dạ đen ở chợ Ninh Hiệp (Bắc Ninh) về may đồ. Khi mặc chiếc áo mới này ra ngoài, màu nhuộm bị phai ra khiến chiếc áo trắng phía trong cũng bị đổi màu đen. 

Nghiêm trọng hơn là phần tay do chị tiếp xúc trực tiếp với vải có hiện tượng mẩn ngứa, khó chịu. Khi giặt, chiếc áo phai màu đen, chị Hà giặt nhiều lần vẫn không hết phai.

Còn chị Vũ Thu Hằng (Thụy Khuê, Hà Nội) lại khó chịu vì chiếc áo sau khi cũ đi nhuộm lại màu cho mới phai màu khủng khiếp. "Khi chiếc áo ướt, chỉ cần để bên cạnh chiếc áo khác màu sẽ bị dây ra ngay, không thể giặt sạch được", chị Hằng chia sẻ.

Theo KS Trương Phi Nam, Trưởng phòng nghiên cứu (Viện dệt may Việt Nam), có nhiều nguyên nhân khiến da mẩn ngứa như do hóa chất còn tồn dư trong quá trình chống nhàu, chống co, chất formandehyd và thuốc nhuộm.

"Nhiều người chỉ chú trọng đến chất formon mà chưa chú ý đến thuốc nhuộm. Nhiều loại thuốc nhuộm gây nên các nguy cơ cao cho sức khoẻ người mặc đồ, trong đó có ung thư da", KS Nam chỉ rõ.

Có thể bị ung thư da

Theo ông Nguyễn Sĩ Phương, Phó viện trưởng Viện dệt may Việt Nam, hiện có hàng trăm loại thuốc nhuộm khác nhau, tùy vào từng loại vải mà người nhuộm dùng thuốc hợp lý.

Ví dụ vải cotton nhuộm thuốc hoàn nguyên, vải len nhuộm thuốc axit... Hiện nay, thế giới và Việt Nam có quy định cấm các loại thuốc thuộc nhóm IZO, tuy nhiên việc kiểm soát vẫn chưa có kết quả.

Theo nghiên cứu, gốc của thuốc này tạo ra các amin có thể xâm nhập vào cơ thể và gây nguy cơ cao về ung thư da. Trước đây loại thuốc IZO thường được nhuộm nilon, len và vải bông.

KS Trương Phi Nam cho rằng, trên thực tế nhóm thuốc nhuộm IZO này đã bị cấm nhưng các nhà sản xuất không lành mạnh vẫn dùng vì giá rẻ.

"Các hàng vải được nhập không chính thức, cơ sở nhuộm không đảm bảo có thể dùng các chất nhuộm này nhằm hạ giá thành. Ngoài ra, họ còn bỏ một số công đoạn quan trọng sau khi nhuộm như giặt nóng, giặt lạnh, hấp là để làm sạch thuốc nhuộm. Điều này khiến vải còn bám dính các chất từ thuốc nhuộm tồn dư, chưa ăn sâu vào thớ vải. Người mặc sẽ bị ảnh hưởng đến sức khoẻ và phai màu", KS Nam nhấn mạnh.

Theo các chuyên gia, bằng mắt thường không thể xác định được chất vải có nhuộm thuốc độc hay không mà phải đưa đi xét nghiệm... Bởi chất độc phát ra từ gốc của thuốc. Chỉ loại trừ được chất độc khi vải không còn màu nhuộm nữa.

Tuy nhiên, người dùng có thể phát hiện ra độ bền màu bằng cách nhúng tí nước vào vải và vò để xem có phai màu hay không. Ngoài ra, nên giặt nhiều lần với xà phòng để giảm nồng độ của chất độc. Hiện các mặt hàng nhập chính thống được kiểm tra chặt chẽ, vì thế người dân nên mua vải có nguồn gốc xuất xứ, tên hãng và cửa hàng uy tín.

Không nên nhuộm lại quần áo ở hàng thủ công

Cách nhuộm thủ công không có tác dụng cao, các phân tử màu nhuộm chưa thấm vào sợi vải. Vì thế, màu nhuộm có thể bị phai ra gây ảnh hưởng đến sức khoẻ người mặc. Đấy là chưa nói đến bị dây màu ra đã là không đạt chuẩn trong dệt may. Vì nó sẽ làm ảnh hưởng đến các loại vải trong quần áo hoặc các quần áo khác.

Theo Bee

 

Thứ Tư, 23 tháng 2, 2011

Trị mụn theo cách tự nhiên vừa an toàn lại hiệu quả.

Đặc biệt những công thức chữa trị khẩn cấp hiện tượng mụn đầu trắng sẽ giúp bạn giảm viêm và tấy đỏ do các loại mụn cứng đầu gây ra. Hãy sử dụng các phương pháp trị liệu hữu cơ để khôi phục lại tình trạng hoàn hảo cho làn da.

Mụn đầu trắng là một trong những hậu quả chung của thói quen chăm sóc da không phù hợp cũng như do sự hoạt động quá mức của tuyến bã nhờn. Xét rằng ở yếu tố đầu tiên có thể được loại bỏ hoặc thay đổi, còn yếu tố thứ 2 có thể làm cho chúng ta phải đối mặt với một thách thức thật sự.

Mụn có thể dễ dàng xuất hiện nếu chúng ta bỏ bê các thói quen chăm sóc cơ bản hàng ngày và thực hiện các công thức tạo lá chắn bảo vệ chống lại kẻ thù của làn da.

Những đốm mụn trắng được xem là tình trạng nghiêm trọng nhất của mụn. Để loại bỏ chúng, các chuyên gia đã thử nghiệm với nhiều phương pháp điều trị khác nhau. Các biện pháp khẩn cấp trị mụn đầu trắng sẽ đưa ra cho bạn những công thức bí mật để làm thế nào làm sạch da khi da mụn hay các vấn đề liên quan khác.

Hãy thực hiện theo các chỉ dẫn cơ bản dưới đây và tìm hiểu xem làm thế nào để cung cấp cho lỗ chân lông và các tế bào da những loại vitamin, dưỡng chất cần thiết.

Lô hội

Rất nhiều người trồng lô hội trong vườn hoặc trong nhà và nó là một phương thuốc chữa trị mụn khẩn cấp rất hoàn hảo. Tất cả những gì bạn cần làm là dùng một chiếc dao sắc để cắt lá cây lô hội. Sau đó bạn loại bỏ các lớp vỏ dày bên ngoài và trích xuất gel ở trong đó để áp dụng nó vào những vùng da bị mụn nốt.

Hãy chắc chắn làn da phải được làm sạch trước khi bôi gel vào và chỉ bôi gel vì làn da có thể bị số viêm nhiễm. Sau 10 phút bạn có thể rửa sạch với nước ấm.

Bạc hà

Trong loại thảo dược này có chứa chất chống khuẩn và chống viêm mà bạn có thể dùng nó khi da bị mụn.

Hãy lấy 4 - 5 lá bạc hà và nghiền nhuyễn chúng ra. Sau đó bạn chà lên các nốt mụn và tận hưởng hiệu ứng mát lạnh của loại nước này. Sau 5 - 10 phút thì rửa sạch với nước lạnh.

Những tác động có lợi của lá bạc hà sẽ được hiển thị chỉ sau một vài lần thực hiện.



Nghiền nhuyễn một quả bơ và sau đó trộn với một vài giọt nước lạnh. Bước tiếp theo là chà hỗn hợp này lên vết mụn đầu trắng và để đó ít nhất 10 - 15 phút. Cuối cùng rửa sạch chúng với nước ấm.

Theo Phương Anh
Eva

Thứ Ba, 22 tháng 2, 2011

Đông y trị bệnh mày đay

Bệnh mày đay (urticaria) là một bệnh dị ứng ngoài da rất thường gặp trong mùa đông xuân. Bệnh thường phát ra ở những người có cơ địa dị ứng. Trẻ nhỏ và người lớn đều có thể bị mắc, dân gian thường gọi là “mẩn tịt”, “ma tịt”, “phong lạnh” hoặc “ma tịt đốt”...

Bệnh mày đay có thể phát ra dưới tác động của các nhân tố bên trong hoặc bên ngoài cơ thể. Nhân tố bên trong chủ yếu là tinh thần căng thẳng, cơ thể mệt mỏi do làm việc quá sức, sức miễn dịch giảm, rối loạn nội tiết, ... Nhân tố bên ngoài bao gồm những “dị ứng nguyên” khác nhau như bụi bặm, phấn hoa, côn trùng, thức ăn lạ, thuốc, hóa chất...

Triệu chứng điển hình của bệnh là trên da đột nhiên xuất hiện những nốt chẩn (nốt mẩn), gồ cao hơn mặt da, ranh giới rõ ràng, màu hồng nhạt, ở giữa màu nhạt hơn, thành vết, thành đám, hình tròn hoặc vằn vèo, kích thước và số lượng thay đổi tùy lúc, vị trí hạn chế ở từng vùng hoặc lan khắp người. Càng gãi càng mẩn đỏ và càng ngứa hơn.

Trường hợp những nốt mẩn tịt chỉ xuất hiện trong vài phút rồi lặn, không để lại dấu vết, đó là mày đay cấp tính nhẹ. Với trường hợp này, có thể chỉ cần nằm nghỉ ở chỗ thoáng, uống nhiều nước là được. Nhưng cần tránh gãi mạnh, vì càng làm ngứa tăng thêm, có thể gây xây xước, chảy máu, nhiễm khuẩn, thậm chí bội nhiễm. Trong thể mày đay cấp tính, khi có kèm theo những triệu chứng toàn thân như hắt hơi, chảy nước mũi, sốt, đau các khớp xương,... cần tiến hành điều trị kịp thời.

Có những trường hợp dị ứng nặng, gây sưng tấy ở lưỡi và môi, bụng đau quặn, nôn mửa, khó thở do niêm mạc họng bị phù thũng, ngạt thở do co thắt phế quản... cần đưa ngay tới bệnh viện cấp cứu. Khi mày đay kéo dài trên 3 tháng, không kể nhiều hay ít, có khi ngắt quãng nhiều ngày, là đã sang giai đoạn mạn tính. Trong thể mạn tính, bệnh có thể giảm nhẹ hoặc nặng lên tùy theo điều kiện thời tiết và môi trường.
Bệnh mày đay thuộc phạm vi các chứng “ẩn chẩn” và “phong chẩn khối” của đông y học. Theo đông y, nguyên nhân gây nên bệnh bao gồm nội nhân và ngoại nhân. Nội nhân chủ yếu do cơ thể suy yếu, âm dương khí huyết mất cân bằng, chức năng tạng phủ bị rối loạn, dẫn tới tình trạng “âm hư huyết táo” mà sinh ra bệnh. Ngoại nhân do “phong hàn” hoặc “phong nhiệt”, nhân lúc cơ thể bị suy yếu, xâm nhập vào cơ thể mà gây nên bệnh.

Để chữa trị bằng đông nam dược, cần căn cứ vào những biểu hiện cụ thể (triệu chứng), để phân biệt loại hình, và dùng các phép chữa, bài thuốc theo nguyên tắc Biện chứng luận trị của đông y học như sau:

Dạng phong nhiệt

Biểu hiện: Nốt chẩn đỏ tươi, nóng rát, ngứa kịch liệt, phiền táo, miệng khát; có thể kèm theo phát sốt, sợ lạnh, họng sưng đau, gặp nóng bệnh phát nặng thêm, rêu lưỡi trắng hoặc vàng nhạt, mạch tế sác (nhỏ nhanh).

Phép chữa: Trừ phong, thanh nhiệt, chống ngứa.

Bài 1: Kim ngân hoa 12g, vỏ núc nác 12g, lá đơn đỏ (đơn mặt trời) 6g. Sắc với 800ml nước, đun lấy 400ml, chia thành 2 phần, uống vào sáng sớm và chiều tối, lúc đói bụng.

Bài 2: Kim ngân hoa 12g, phù bình (bèo cái) 6g. Sắc và uống như bài 1.

Bài 3: Phù bình 16g, vỏ núc nác 12g, thuyền y (xác ve sầu) 10g. Sắc và uống như bài 1.

Bài 4: Phù bình tía tươi 50g, lá muồng trâu tươi 20g. Sắc với 600ml nước đun còn 300ml, người lớn chia 2 lần, trẻ nhỏ chia 3-4 lần uống trong ngày.

Bài 5: Lá đơn răng cưa, lá đơn đỏ, đơn tướng quân (sao đen), củ khúc khắc, kim ngân hoa mỗi vị 20g, cam thảo đất 20g (hoặc cam thảo bắc 8g); quả ké đầu ngựa (sao) 15g. Sắc với 1000ml, đun còn 300ml, người lớn chia 2 lần, trẻ nhỏ chia 3-4 lần uống trong ngày.

Bài 6 (sơ phong thanh nhiệt thang): Tang diệp (lá dâu tằm), cúc hoa, kim ngân hoa, liên kiều, xích thược mỗi vị 10g; trúc diệp (lá tre hoặc lá trúc), cam thảo mỗi vị 5g; bạc hà 4g; thuyền y, đan bì mỗi vị 6g. Sắc với 800ml nước, đun còn 450ml, chia thành 3 phần uống sáng, trưa, chiều, lúc đói bụng.

Dạng phong hàn

Biểu hiện: Nốt chẩn sắc trắng, ngứa, gặp gió lạnh thì phát nặng, thời tiết ấm thì bệnh giảm nhẹ. Chất lưỡi đỏ nhạt, rêu lưỡi trắng; mạch phù (nổi trên mặt da).

Phép chữa: Trừ phong, tán hàn, chống ngứa. Trường hợp bệnh nhẹ có thể sử dụng bài thuốc 1 hoặc 2, bệnh nặng dùng bài thuốc 3 hoặc 4.

Bài 1: Quả ké đầu ngựa (sao vàng, nghiền thành bột mịn). Ngày uống 3 lần mỗi lần 1-2g, chiêu thuốc bằng nước sôi hoặc hòa vào rượu trắng uống.

Bài 2: Hương nhu 12g, phù bình 6g. Sắc với 800ml nước, đun lấy 400ml, chia thành 2 phần, uống vào sáng sớm và chiều tối, lúc đói bụng.

Bài 3: Quế chi 6g; kinh giới, tía tô, mỗi vị 10g; hành 15g (để cả củ); gừng tươi 8g. Sắc với 800ml nước, đun còn 400ml, chia ra 2 lần uống sáng, chiều, lúc đói bụng.

Bài 4: Kinh giới, phòng phong, khương hoạt, quế chi, bạch thược mỗi vị 6g; xuyên khung 10g; cam thảo, gừng tươi mỗi thứ 5g; đại táo 5 trái. Sắc với 800ml nước, đun còn 450ml, chia ra 3 lần uống sáng, trưa, chiều, lúc đói bụng. Dùng cho trường hợp bệnh phát nặng.

Dạng huyết hư phong táo (thể mạn tính)

Biểu hiện: Bệnh kéo dài lâu ngày, thỉnh thoảng lại phát tác, buổi chiều và buổi tối phát nặng hơn. Kèm theo tâm phiền, dễ cáu giận, miệng khô, lòng bàn chân bàn tay nóng. Chất lưỡi đỏ khô, rêu lưỡi ít. Mạch tế (nhỏ yếu).

Phép chữa: Dưỡng huyết, nhuận táo, trừ phong, chống ngứa.

Bài 1: Đương quy, bạch thược mỗi vị 10g, kinh giới 6g. Sắc nước uống thay trà trong ngày.

Bài 2: Thục địa 12g, hạ liên thảo (cỏ nhọ nồi), nhẫn đông đằng (dây kim ngân) mỗi vị 10g. Sắc nước uống thay trà trong ngày.

Bài 3: (Dưỡng huyết nhuận táo thang): Sinh địa hoàng 15g, bạch thược, đan sâm, huyền sâm, hà thủ ô chế, đan bì mỗi vị 10g; đương quy, xuyên khung, thuyền y, cam thảo mỗi vị 6g. Sắc với 1.000ml nước, đun còn 450ml, chia ra 3 lần uống sáng, trưa, chiều, lúc đói bụng. Dùng trong thể bệnh nặng, khí huyết suy nhược, bệnh tái phát nhiều lần.

Lương y: Huyên Thảo

Nổi mày đay (3 bài)

Bài 1. Mề đay



BS Mai Thu Ðường (Bệnh viện Da Liễu, TPHCM)

Mề đay (MÐ) là một phản ứng gây phù tại chỗ và ở ngoài da. MÐ có hình dạng không đều, kích thước cũng khác nhau: Từ sẩn đỏ bằng đầu đũa đến nổi to từng mảng đỏ, sưng phù, luôn luôn kèm theo triệu chứng ngứa. MÐ có thể nổi vào buổi sớm sau khi ngủ dậy, nổi lúc chiều tối hoặc có thể cả ngày.

Vị trí thường nổi MÐ là thân mình, mông, đùi hoặc chỗ da bị bó chặt như lưng quần, nịt vú. Có dạng đặc biệt là MÐ nổi dưới da, thường làm phù mí mắt, phù môi, phù trong cổ họng. Loại MÐ này có thể đi kèm mệt, đau bụng, đôi khi gây khó thở, chết người.


Ðặc điểm của MÐ là xuất hiện từng cơn trong vài giờ rồi biến mất. Nếu kéo dài trong vài tuần là MÐ cấp tính, nếu bệnh trên 6 tuần là MÐ mãn tính.

Nguyên nhân:

1. Thực phẩm, thức uống, gia vị: Thức ăn hay bị "đổ thừa" nhất là đồ biển như: sò, nghêu, cua, ghẹ, cá biển. Các loại sôcôla, sữa, bơ, phó mát. Nhóm thực vật là dưa gang, dưa tây, cà chua, trái dâu, kể cả hành, tỏi. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng thức ăn thông thường nhất, "lành nhất" cũng có thể gây bệnh.

2. Các chất phụ gia: Cũng là yếu tố quan trọng. Chúng có thể là chất tự nhiên như các loại men, con giấm hoặc chất hóa học dùng để bảo quản và nhuộm màu thực phẩm.

3. Thuốc men: Có rất nhiều thứ thuốc có thể gây dị ứng và nổi MÐ. Ðáng kể nhất là Penicilline rồi đến Aspirine, Sulfamides; các loại thuốc ngủ, thuốc an thần, thuốc trị đau nhức xương khớp, thuốc ngừa thai và còn nhiều loại khác.

4. Nhiễm trùng: Các ổ nhiễm trùng, nhiễm nấm tiềm tàng thường gây bệnh MÐ mãn tính như viêm xoang, sâu răng, nhiễm trùng đường tiểu, đường hô hấp trên như viêm mũi - họng.

5. Các loại bụi nhà, bụi phấn hoa, bụi lông thú và các loại ky sinh trùng cũng thường là nguyên nhân của MÐ mãn tính.

6. Các yếu tố xúc cảm, thay đổi nhiệt độ, áp lực cọ xát do quần áo chật bó cũng có thể làm nổi MÐ.

Phát hiện nguyên nhân:

Vì có quá nhiều nguyên nhân gây bệnh, người bệnh cần phải thật chú y mới hy vọng giúp thầy thuốc tìm ra nguyên nhân chính gây bệnh để trị tận gốc. Khi có triệu chứng phù môi, sưng mặt hoặc khó thở phải đến cơ quan y tế sớm để được cấp cứu nếu cần. Sau đây là cách phát hiện nguyên nhân trong thực phẩm ở người bị MÐ mãn tính lẫn cấp tính, bằng chế độ ăn loại trừ: Bắt đầu ăn trong 3 tuần chỉ gồm các loại không có chất dị ứng như gạo, khoai tây, cà rốt, các loại đậu, bí, bầu, thịt trừu, thịt bò, cữ rượu. Có thể uống trà, cà phê nhưng không có sữa. Nếu MÐ không xuất hiện thì ta bắt đầu ăn thêm từng món nghi ngờ. Ăn đến món nào thấy MÐ nổi lên thì đó là nguyên nhân gây bệnh phải tránh sau này và cứ như thế tiếp tục.

Bài 2. Đôi điều cần biết về chứng mày đay



Mày đay là một dạng dị ứng với những yếu tố kích thích từ nội giới hoặc ngoại giới mà cơ thể không quen, không chịu được. Đại đa số trường hợp có liên quan tới cơ địa mẫn cảm di truyền (bố mẹ, anh chị em hoặc bản thân bị hen, eczema).

Triệu chứng mày đay khá điển hình. Tổn thương biểu hiện thành từng vết sẩn có đường kính 1-2 cm hoặc thành đám sẩn to, hình dáng bất kỳ, tròn hoặc vằn vèo, ranh giới rõ, gồ lên mặt da, màu đỏ, nắn cộm. Bệnh nhân ngứa dữ dội, càng gãi càng ngứa, tổn thương mọng lên, nổi thêm nhiều đám khác. Vài giờ, vài ngày sau, các sẩn có thể lặn, không để lại di chứng gì trên da. Nhưng bệnh có xu hướng tái phát, rất thất thường, do nhiều yếu tố. Đợt nổi đầu tiên gọi là mày đay cấp; những đợt sau đó 4-8 tuần gọi là mày đay tái phát, mạn tính.

Các yếu tố gây mày đay rất đa dạng: thời tiết nóng, lạnh, ánh sáng, tỳ ép, chà xát, phấn hoa, bụi trong nhà, lông thú, dược phẩm, thức ăn (tôm, cua, mực, nhộng...), chứng táo bón, giun sán, sự suy giảm chức năng thải độc của gan thận.

Để chẩn đoán mày đay, ngoài việc dựa vào triệu chứng lâm sàng, bác sĩ còn cần hỏi tỉ mỉ về tiền sử gia đình, việc dùng thuốc, thức ăn, kể cả điều kiện và môi trường sinh hoạt lao động. Khi cần, phải xét nghiệm thêm về máu.

Đa số trường hợp mày đay là lành tính, chỉ gây ngứa ở mức độ khác nhau và ảnh hưởng ít nhiều đến trạng thái tâm thần kinh, làm bệnh nhân khó chịu, bực bội. Có trường hợp (rất hiếm gặp) mày đay cấp diễn biến theo kiểu sốc phản vệ, gây tím tái, khó thở, sốt cao, nôn mửa, đau quặn bụng, có khi dẫn tới tụt huyết áp, trụy tim mạch, đe dọa tính mạng, phải cấp cứu tích cực mới qua khỏi. Phù Quinck (một thể mày đay đặc biệt ở mặt, làm cả một vùng mặt sưng vù, cộm cứng, ngứa vừa phải) có thể gây phù nề thanh quản, khó thở. Nếu không kịp thời xử trí, chứng này có thể dẫn tới tử vong do suy hô hấp.

Khi bị mày đay, nên đi khám vì để lâu, mày đay sẽ thành mạn tính và khó chữa. Để điều trị các cơn mày đay sơ phát hoặc tái phát, có thể dùng các loại thuốc kháng histamin kèm theo thuốc an thần, hiện có rất nhiều biệt dược như: Phenergan, Peritol, Zyrtec, Claristin... Khi cần, phải dùng cả đến thuốc cocticoit (Prednisolon, Cortancyl), kết hợp kháng sinh. Có trường hợp phải kết hợp tẩy giun sán, giải quyết các ổ nhiễm khuẩn ở tai mũi họng, đại tràng nếu có. Trường hợp phù Quinck nặng hoặc mày đay kiểu sốc phản vệ phải được cấp cứu kịp thời ở bệnh viện. Bệnh nhân không nên tự động dùng thuốc.

Hằng ngày, nên hạn chế rượu, thuốc lá, cà phê, muối vì chúng làm tăng độ nhạy cảm của thần kinh trung ương và ngoại vi, tăng ngứa. Tư tưởng phải thoải mái, an tịnh, tránh quá lo lắng bi quan vì bệnh. Cố gắng chống gãi để không gây thêm tổn thương trên da. Người bị mày đay do lạnh, nên hết sức thận trọng khi đi tắm sông, tắm biển, đề phòng bị chuột rút rất nguy hiểm.

GS Nguyễn Xuân Hiền, Sức Khoẻ & Đời Sống

Bài 3. Nổi mày đay



Tác giả : BS. NGUYỄN THỊ NGỌC MỸ (Bộ môn Da liễu, ĐH. Y Dược - TPHCM)

Mày đay là một phản ứng viêm của da, có cơ chế phức tạp, trong đó có sự can thiệp của chất trung gian hóa học chính là histamin. tuy là một bệnh da phổ biến, rất dễ nhận biết nhưng lại khó phát hiện nguyên nhân dù đã làm đầy đủ các xét nghiệm.

Có nhiều yếu tố gây bệnh (bên trong, bên ngoài cơ thể, cơ địa) và trên một bệnh nhân, nhiều khi không chỉ có một mà gồm nhiều yếu tố cùng kết hợp.

DIỄN TIẾN BỆNH

Cấp tính: Xảy ra đột ngột và biến mất nhanh sau vài giờ hoặc vài ngày, hay gặp ở người trẻ và nguyên nhân thường gặp là do thức ăn hoặc thuốc.

Mạn tính: Kéo dài trên 6 tuần, đa số là tự phát (vô căn), trường hợp này phải dựa vào những nghiên cứu thật công phu, tỉ mỉ mới có thể tìm được nguyên nhân.

Thuốc chống dị ứng chỉ giải quyết được triệu chứng tạm thời. Muốn điều trị hiệu quả thì cái chính là phải tìm cho ra nguyên nhân, đôi khi không mấy dễ dàng.

CÁC DẠNG MÀY ĐAY

1. Mày đay thông thường

Bệnh bắt đầu đột ngột, rầm rộ ở bất kỳ vùng da nào trên cơ thể với những sẩn phù có màu hồng, đặc biệt rất ngứa và có thể hợp lại thành mảng có giới hạn rõ lan rộng khắp người. Sau vài phút hay vài giờ thì lặn mất, không để lại dấu vết. Phát ban có thể lặn ở chỗ này và nổi ở chỗ khác.

2. Phù mạch (còn gọi là phù Quincke).

Nổi ban đột ngột làm sưng to cả một vùng (mí mắt, môi, bộ phận sinh dục ngoài, niêm mạc...), cho cảm giác căng nhiều hơn ngứa, có thể kèm theo nổi mày đay. Nếu phù ở lưỡi, thanh quản, hầu sẽ gây suy hô hấp, phải xử trí cấp cứu.

3. Da vẽ nổi

Còn gọi là mày đay giả. Nếu dùng một vật đầu tù xát nhẹ lên da, vài phút sau trên mặt da sẽ nổi gồ lên một vệt màu hồng. Có thể đi kèm nổi mày đay.

4. Ngoài ra mày đay còn có những dạng khác như sẩn nhỏ, sẩn - mụn nước hay xuất huyết.

Mày đay hay phù Quincke có thể đi kèm với những triệu chứng toàn thân như sốt, đau khớp, rối loạn tiêu hóa, nhức đầu và nặng nhất là trụy tim mạch (sốc phản vệ) cần phải xử trí cấp cứu.

CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY NỔI MÀY ĐAY

1. Mày đay thông thường

a. Thức ăn: Những loại có thể gây dị ứng như sữa, trứng, cá biển, tôm cua, sò, ốc, phô mai, đồ hộp, mắm, tương, chao, sô-cô-la, rượu, bia. Các chất tạo màu thực phẩm và các chất bảo quản thực phẩm.

b. Thuốc: Có thể xảy ra ngay sau khi dùng lần đầu hoặc từ 5-10 ngày sau. Nổi mày đay đơn thuần hay có kèm với sốt, đau khớp, nổi hạch... Các thuốc thường gây dị ứng nổi mày đay là Pennicillin (nguy hiểm nhất), Aspirin, thuốc hạ nhiệt, các chất cản quang có chứa iod (trong chụp X - quang), thuốc ức chế men chuyển (điều trị cao huyết áp, suy tim), thuốc gây mê, huyết thanh, vaccin v.v...

c. Nọc độc: Ong, kiến, sâu bọ...

d. Kháng nguyên hô hấp: Rơm rạ, phấn hoa, bụi nhà, lông vũ, men mốc...

e. Nhiễm:
- Virus (viêm gan siêu vi B, C).
- Vi khuẩn (ở tai, mũi, họng; bộ phận tiêu hóa, răng, miệng, niệu sinh dục).
- Ký sinh trùng đường ruột (giun, sán, giun kim).
- Nấm (candida ở da, nội tạng).

2. Mày đay do tiếp xúc (với chất hữu cơ hay hóa học).

3. Mày đay vật lý

a. Da vẽ nổi.
b. Mày đay do vận động xúc cảm.
c. Mày đay do chèn ép, chấn động.
d. Mày đay do lạnh, nóng, nước, ánh sáng mặt trời.

4. Mày đay hệ thống
a. Bệnh chất tạo keo (luput đỏ...).
b. Viêm mạch.
c. Bệnh nội tiết (tiểu đường, cường giáp).
d. Bệnh ung thư.

5. Mày đay do di truyền

6. Mày đay tự phát (vô căn).

ĐIỀU TRỊ MÀY ĐAY

- Tốt nhất là loại bỏ yếu tố gây bệnh nếu biết.
- Tránh một số thức ăn, một số thuốc có thể gây dị ứng; Tránh các chất kích thích như gia vị, rượu, trà, cà phê...

Trong cơn cấp:

* Ăn nhẹ, giảm muối.

* Trường hợp gây ngứa, khó chịu nhiều, có thể dùng giấm thanh pha trong nước ấm (một phần giấm hai phần nước) để thoa hay tắm.

* Tránh dùng thuốc mỡ kháng histamin (phenergan) thoa vì dễ gây viêm da dị ứng. Mỡ corticoides ít hiệu quả, có thể gây một số tác dụng phụ (nhất là khi thoa trên diện tích quá lớn).

Hiện nay có một số thuốc chống dị ứng (thuốc kháng histamin) thế hệ mới không gây buồn ngủ, có thể sử dụng như:

Tên thuốc Liều dùng / ngày
Loratadine (Clarityne) 10mg x 1 viên.
Cetirizine (zyrtec) 10mg x 1 viên.
Acrivastine (Semprex) 8mg x 3 viên.
Astemizole (Hismanal) 10mg x 1 viên.

Thuốc corticoides (uống hay tiêm) chỉ nên dùng trong điều trị mày đay cấp, nặng, kèm phù thanh quản; Một số trường hợp nổi mày đay do viêm mạch, mày đay do chèn ép không đáp ứng với các thuốc kháng histamin thông thường; Không nên dùng để điều trị mày đay mạn tính tự phát.

Đối với mày đay mãn tính: vì thường có liên quan tới các bệnh lý bên trong nên bệnh nhân cần đến bác sĩ chuyên khoa khám, làm thêm các xét nghiệm cần thiết để tìm đúng nguyên nhân và có cách điều trị thích hợp.

Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011

Bệnh lý ở da do tuyến bài tiết

Trên da của chúng ta có hai loại tuyến bài tiết: tuyến bài tiết mồ hôi và tuyến bài tiết chất bã. Nhiệm vụ của tuyến bài tiết là giúp điều hòa nhiệt độ cơ thể, bài tiết chất bã, bảo vệ da... Tuy nhiên bên cạnh lợi ích đem lại thì ở một số người, chính sự bài tiết này có khi lại gây ra một số bệnh lý ở da.

1. Bệnh da do tuyến mồ hôi

Cấu trúc của tuyến mồ hôi gồm có hai phần:

- Phần cuộn: nằm sâu ở lớp bì của da.

- Phần ống dẫn: đổ ra ngoài da.

Có hai loại tuyến mồ hôi là: tuyến mồ hôi nước và tuyến mồ hôi dầu.

Tuyến mồ hôi nước là loại tuyến có ở khắp nơi trên da, ngoại trừ niêm mạc. Sự hoạt động bài tiết tùy thuộc hệ thần kinh giao cảm và tùy theo nhân chủng, giới, cá thể, khí hậu, quần áo đang mặc... Vai trò của mồ hôi nước là giúp giảm nhiệt độ cơ thể, bài tiết chất độc và giữ pH của da từ 4,5 đến 5,5.

Một số bệnh da do tuyến mồ hôi nước:

- Tăng tiết mồ hôi, chia làm hai loại, tăng tiết toàn thân hoặc đối xứng. Bệnh do nhiều nguyên nhân, do rối loạn điều hòa nhiệt độ như sốt, nhiễm khuẩn (sốt rét, lao), nhiễm độc rượu; do tâm thần kinh, bị cảm xúc mạnh, căng thẳng, tuổi mãn kinh; do béo phì.

Tác hại của sự tăng tiết mồ hôi toàn thân là gây ngứa ngáy, trở ngại cho sinh hoạt lao động, gây nhiễm khuẩn da... Tăng tiết không đối xứng thường do tổn thương thần kinh giao cảm một bên.

Bạn nên tránh để thần kinh bị căng thẳng, không nên lo lắng nhiều. Có thể sử dụng thuốc an thần như Atropin hoặc dùng phương pháp phá hạch thần kinh giao cảm.

- Rôm sảy: Do ứ đọng mồ hôi trong ống bài tiết mồ hôi. Có hai loại rôm. Rôm trong là do tắc phần ngoài của ống dẫn mồ hôi. Triệu chứng thường thấy là nổi nhiều mụn nước dưới lớp sừng của da, thường gặp vùng thân mình, ít khó chịu. Rôm đỏ là do tắc và viêm đoạn ống dẫn bên trong. Biểu hiện là nổi sẩn đỏ cứng ở thân mình, nếp gấp, cổ, mông, nách, mặt, gây ngứa ngáy khó chịu nhất là khi ở trong môi trường nóng nực, ra nhiều mồ hôi.

Tiến triển của bệnh tùy thuộc vào yếu tố môi trường. Nhiều trường hợp có thể nhiễm khuẩn gây chốc nhọt. Sau một thời gian cơ thể có thể thích nghi, bệnh tự khỏi. Để phòng tránh, nên tránh môi trường nóng nực làm ra nhiều mồ hôi, mặc áo quần thoáng mát. Tắm rửa bằng thuốc tím pha loãng màu hồng, Lactacyd BB, nước nấu khổ qua. Tránh chà sát mạnh khi tắm. Nếu ngứa, khó chịu, hãy rắc bột Talc hút bớt mồ hôi, giúp da thoáng mát. Hạn chế chất ngọt.

Tuyến mồ hôi nhờn là loại tuyến tập trung ở vùng nách, hậu môn, vùng sinh dục, ống tai ngoài, quanh rốn. Miệng ống đổ vào phần trên của tuyến bã rồi ra ngoài. Hoạt động mạnh vào tuổi dậy thì, yếu dần ở tuổi già. Mồ hôi tiết ra đặc hơn. Vi khuẩn bên ngoài làm thay đổi tính chất của mồ hôi nhờn.

Một số bệnh da do tuyến mồ hôi nhờn:

- Mồ hôi nặng mùi: Bình thường mồ hôi không có mùi nhưng do một số chất từ bên ngoài đưa vào trong cơ thể sau đó thoát ra ở vùng mồ hôi nhờn, gây ra mùi, ví dụ như: tỏi, sầu riêng, thuốc Arsenic... Một số vi khuẩn cũng có tác động vào chỗ bài tiết mồ hôi nhờn để gây ra mùi cụ thể, nhất là mồ hôi nách, gây ra sự khó chịu cho chính người bị và người xung quanh.

Vì vậy, tốt nhất là sinh hoạt trong môi trường thoáng mát. Mặc quần áo có chất Coton. Vệ sinh da thường xuyên bằng loại xà bông khử khuẩn, Lactacyd BB. Tránh thức ăn tạo mùi như gia vị, tỏi, hành, sầu riêng. Ngoài ra, có thể giảm tiết mồ hôi bằng cách bôi mỹ phẩm vừa có tác dụng giảm tiết mồ hôi, vừa khử mùi hoặc rắc bột phèn chua.

- Bệnh mồ hôi màu gặp ở khoảng 10% người lớn, do vi khuẩn CORYNEBACTERIUM biến đổi mồ hôi nhờn thành màu vàng, xanh lơ, xanh lá cây, thấy rõ khi dính trên vải trắng.

Cách xử trí rất đơn giản, chỉ cần giữ cho da luôn được thoáng mát. Rửa Lactacyd BB giúp làm sạch da và kháng khuẩn.

- Bệnh Fox-Fordyce: Gặp chủ yếu ở phụ nữ sau tuổi dậy thì. Triệu chứng là nổi những sẩn màu ở nách, quanh đầu vú, vùng sinh môn do miệng ống bài tiết bị bít. Bệnh kéo dài rất lâu. Điều trị thường ít kết quả, uống thuốc ngừa thai có khi có hiệu quả.

2. Bệnh da do tuyến bã nhờn

Tuyến bã phân bố gần khắp cơ thể, tập trung nhiều ở mặt, ngực. Tuyến bã cùng các nang lông tạo thành hệ thống nang lông – tuyến bã.

Tuyến bã tiết ra chất nhờn như acid béo, Cholesterol, nước. Sự bài tiết chất bã chịu ảnh hưởng của tuyến nội tiết Androgen, kích thước tuyến bã, thức ăn, tuổi, di truyền.

Chất bã giúp da mềm mại, duy trì độ ẩm. Tuy nhiên khi tạo ra nhiều chất bã thì làn da lúc nào cũng bóng nhờn trông không được đẹp.

Một số bệnh da do tuyến bã nhờn

- Viêm da tuyến bã, là bệnh gây ra do sự gia tăng bài tiết chất bã ở vùng mặt, ngực, giữa lưng. Thường khi bị nhiễm thêm vi nấm có tên: Pityrosporum ovale thì có thể gây ra bệnh viêm da tiết bã. Triệu chứng là nổi mảng đỏ đối xứng ở hai bên má, trán, ngực, có khi gặp ở giữa lưng trên. Đôi khi có vảy, da thường hay bị nhờn, thỉnh thoảng ngứa nhẹ.

Để đối phó, cần giữ da sạch sẽ ở trong môi trường thoáng mát. Rửa bằng dung dịch có chất Ketoconazole, Lactacyd BB. Bôi Ketoconazole. Hạn chế chất béo, chất ngọt, rượu bia.

- Mụn hay còn gọi là trứng cá. Sự hình thành mụn là do hai yếu tố chính: Sự bít kín miệng ống bài tiết chất bã bởi chất sừng ở da được tạo ra một cách bất thường; Sự tăng tiết chất bã. Sự tăng tiết này thường gặp từ tuổi dậy thì do tác động của chất nội tiết tố sinh dục. Khi bị nhiễm trùng bên trong thì sẽ tạo thành mụn bị viêm đỏ. Khi không bị nhiễm trùng thì sẽ tạo thành mụn đầu trắng.

Việc điều trị mụn đòi hỏi sự kiên trì. Trước hết, cần giữ da sạch sẽ, rửa mặt mỗi ngày 4 – 5 lần với nước sạch, lau khô. Có thể dùng thêm sữa rửa mặt dùng cho da nhờn có mụn. Bôi thuốc trị mụn như Erythromycin, Clindamycin Tretinoin... Uống thuốc kháng sinh theo hướng dẫn của bác sĩ, nếu cần thiết.

Việt Nam là một nước nhiệt đới, môi trường hay bị ô nhiễm, việc ăn uống và vệ sinh da thường không được chú trọng nên bệnh da do tuyến bài tiết ở da là rất thường gặp. Nếu quan tâm và biết cách phòng ngừa thì sẽ hạn chế được một số bệnh da. Trong chế độ ăn uống cần chú ý tăng hoa quả và nước lọc. Tập thể dục thường xuyên cũng là cách khơi thông các tuyến bài tiết một cách hiệu quả.

BS. Huỳnh Huy Hoàng , Chuyên khoa da liễu TP.HCM

Bài đăng phổ biến