Hiển thị các bài đăng có nhãn Người già ăn uống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Người già ăn uống. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 24 tháng 5, 2011

Dùng thuốc và bổ sung dinh dưỡng ở người cao tuổi

Trong điều trị bệnh cho người cao tuổi, để thành công, chúng ta không nên chỉ dừng lại ở việc sử dụng thuốc nào cho đúng mà còn phải quan tâm tới việc sử dụng những thực phẩm nào tốt cho tiến trình cải thiện bệnh lý.

Thuốc là vấn đề mấu chốt

Ở những người cao tuổi bị mắc bệnh, yếu tố thuốc là vấn đề mấu chốt. Đó là bởi vì ở người cao tuổi việc điều trị thường có ba đặc điểm chủ yếu: hay phải sử dụng thuốc trị bệnh, thường phải sử dụng nhiều thuốc và kéo dài thời gian sử dụng. Tất cả những yếu tố này đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới tiến trình hấp thu thuốc trong cơ thể.

Thuốc ảnh hưởng tới quá trình dinh dưỡng qua hai phương thức chủ yếu. Phương thức thứ nhất là thay đổi trực diện vào quá trình tiêu hoá. Điều này làm cản trở hay giảm các quá trình tiêu hoá thức ăn.

Về mặt này, chúng ta nên chú ý khi sử dụng thuốc ức chế tiết axit trong can thiệp các bệnh dạ dày tá tràng vì chúng làm giảm môi trường pH (là yếu tố thuận cho tiêu hoá). Các thuốc chống tiêu chảy dạng che phủ bề mặt làm phân cách ruột và thực phẩm. Các thuốc điều trị thiếu sắt, thiếu canxi như viên sắt, viên bổ sung canxi vì chúng làm gia tăng liên kết các thành phần thực phẩm với nhau.

Cơ chế thứ hai đó là tác động vào các yếu tố xung quanh tới tiêu hoá như vận chuyển, nhào trộn thức ăn. Một trong các ví dụ rõ nét đó là thuốc điều trị tiêu chảy nhóm ức chế hệ cholinergic làm giảm nhu động ruột, giảm vận chuyển cả khối thức ăn có kích thước lớn đi dọc theo chiều dài ruột.

Mặt khác, một số thuốc còn gây ra thay đổi sinh khả dụng tiêu hoá như kháng sinh neomycin. Sự thay đổi toàn diện trên hệ tiêu hoá chính là sự cản trở lớn nhất tới quá trình hấp thu. Việc điều trị thuốc cần chú ý tới các đặc điểm này để có chiến lược dinh dưỡng phù hợp với thực tế. Điều này có hai điểm lợi: giảm mức độ bệnh tật và tăng tốc thời gian hồi phục.

Và vai trò của dinh dưỡng

Việc điều trị bệnh, để thành công, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc sử dụng thuốc nào cho đúng mà còn nên quan tâm tới việc sử dụng những thực phẩm nào tốt cho tiến trình cải thiện bệnh lý. Trong việc dùng thuốc ở người cao tuổi, những thay đổi do thuốc dưới đây cần một số phương pháp bổ sung dinh dưỡng phù hợp:

- Sự thiếu hụt axit folic (dẫn đến thiếu máu) là vấn đề đầu tiên ở người cao tuổi khi bắt buộc phải sử dụng các loại thuốc chống động kinh loại phenytoin, phenobarbital, primidone và thuốc an thần loại phenothiazine trong điều trị.

- Thiếu hụt vitamin B12 cũng là vấn đề đáng lưu tâm. Giống như axit folic, vitamin B12 là một vitamin giúp cho quá trình tạo máu. Mọi yếu tố làm thiếu hụt vitamin này đều có thể gây thiếu máu. Không những thế, vitamin này còn giúp cho quá trình dẫn truyền thần kinh nên sự thiếu hụt nó có sự ảnh hưởng đáng kể tới dẫn truyền thần kinh, nhất là thần kinh vận động. Vấn đề vitamin B12 cần được chú ý ở người sử dụng thuốc trị bệnh gút colchicin, an thần loại trifluoperazine.

Với những người đang sử dụng những loại thuốc trên, nên sử dụng những thực phẩm giàu axit folic và vitamin B12 trong chế độ ăn như gan, lòng đỏ trứng, sữa, rau cải, súp lơ, củ cải, khoai tây, nho, cam, chuối, sữa. Bên cạnh đó nên sử dụng thêm những viên bổ sung vitamin B12 và axit folic bên ngoài.

- Thiếu hụt sắt ở những bệnh nhân sử dụng thuốc ức chế tiết axit và thiếu hụt canxi ở những bệnh nhân sử dụng quá nhiều chất xơ. Chúng ta cần biết là sự hấp thu sắt không thể thiếu vắng thành phần axit trong dạ dày vì nó dễ hấp thu ở môi trường có pH thấp. Axit dạ dày làm được điều này. Nhưng các thuốc ức chế tiết axit được sử dụng trong điều trị loét dạ dày, tá trạng, viêm tụy... lại đối kháng với điều kiện tiên quyết pH nên làm giảm hấp thu sắt. Tương tự, sự hấp thu canxi bị giảm đi nếu chúng ta sử dụng quá nhiều chất xơ trong thực phẩm như ăn quá nhiều rau muống, rau cải, bắp cải... Sự thiếu hụt sắt tất nhiên là dễ gây thiếu máu do thiếu sắt, sự giảm hấp thu canxi tất nhiên là không tốt cho xương do thiếu canxi cho xương. Do đó, trong điều trị bệnh nếu có sử dụng những thuốc tác động vào hai vi chất dinh dưỡng này thì cần sử dụng những thực phẩm giàu sắt và canxi như thịt bò, xương sườn, gan, thịt gà, đậu nành, lạc, súp lơ. Cũng có thể xem xét bổ sung sắt bằng viên sắt trong chiến lượng điều trị bệnh tật.

BS. Nguyễn Phúc Anh
Theo http://suckhoedoisong.vn , 12/5/2011

Nhu cầu ăn uống và thức ăn của người cao tuổi

Theo các cụ ta ngày trước thì 60 tuổi đã là thọ và người ta tổ chức ăn mừng người đạt tuổi thọ đó. Ngày nay, do tình hình kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, điều kiện sinh hoạt ngày một cải thiện tốt hơn, sức khỏe con người được bảo đảm, phần lớn các cụ 60 đến 70 tuổi vẫn còn khỏe mạnh, nhiều cụ vẫn tham gia lao động, công tác. Do đó chúng ta tạm quy định NCT là người từ 70 tuổi trở lên. Vậy nhu cầu ăn uống và thức ăn của NCT nên như thế nào để bảo đảm sức khỏe và kéo dài tuổi thọ cho các cụ?

Đây là vấn đề bản thân NCT ít chú ý tới. Thông thường, khi còn trẻ ăn uống thế nào lúc về già các cụ vẫn tiếp tục giữ những thói quen cũ.

1. Năng lượng khẩu phần hằng ngày:

Trong thực tế có những cụ vẫn ăn khỏe, nhưng nói chung ở tuổi ngoài 70 các cụ không lao động thể lực nhiều nữa, chuyển hóa cơ bản giảm đi từ 10 đến 15% so với thời trẻ, các hoạt động sinh lí đều giảm, do đó năng lượng của khẩu phần ăn không cần nhiều như trước nữa. Theo điều tra khẩu phần của Viện vệ sinh dịch tễ học, hệ số ăn của NCT là từ 0,7 đến 0,8 so với người trẻ đang lao động, nghĩa là nếu khẩu phần của người trẻ lao động bình thường là 2.400 calo, NCT chỉ cần trung bình từ 1.700-1.900 calo.

Về chất lượng, tỉ lệ giữa các chất protid, lipid glucid trong khẩu phần của NCT cũng không nên khác biệt lắm so với khẩu phần chung.

Số lượng protid có thể giữ mức cũ hoặc giảm bớt một ít, nhưng tỉ lệ protid động vật so với protid nói chung tốt nhất là khoảng 50%.

Số lượng chất lipid có thể giảm bớt và nên dùng dầu thực vật (dầu lạc, dầu vừng, dầu cám, dầu đậu nành, dầu hướng dương...) thay mỡ động vật để chế biến thức ăn, đề phòng xơ vữa động mạch, một bệnh rất phổ biến ở NCT dễ dẫn đến những tai biến nghiêm trọng.

Theo các nhà nghiên cứu, nhu cầu bình thường hằng ngày của một NCT khỏe mạnh như sau:

- Glucid: 50 đến 55% số calo cần thiết.

- Lipid: 30 đến 35% số calo với sự phân đều cho thức ăn chứa axit béo no và không no.

- protid: 13 đến 15% số calo, trong đó có khoảng 50% Protein động vật.

2. Về vitamin:

Cần chú ý giữ sự cân bằng trong ăn uống và thực phẩm, tránh để bị thiếu vitamin, nhất là các vitamin nhóm B, vitamin C, A và D.

Nhiều nghiên cứu đã cho biết việc sử dụng một lượng thích hợp vitamin C, vitamin E và Beta caroten có thể làm giảm nguy cơ tai biến về tim. Vitamin D rất cần thiết để bảo đảm photpho - canxi và phòng bệnh loãng xương rất phổ biến ở NCT. Thiếu máu đại hồng cầu do thiếu vitamin B9, B12 cũng gặp phổ biến trong lão khoa. Bệnh đục thể thuỷ tinh ở NCT cũng thường gặp ở những người thiếu các vitamin C, E, D và các carotenoid (vitamin A và Beta caroten). Thiếu vitamin B1, B6, B9 là nguồn gốc gây rối loạn trí nhớ; thiếu vitamin B1, B3 và B12 có thể dẫn tới hội chứng sa sút trí tuệ... Vì vậy trong ăn uống của NCT càng cần chú ý đến những thức ăn có nhiều vitamin. Nên nhớ gan cá và trứng là nguồn cung cấp vitamin D, vitamin A và nhóm B. Rau quả cung cấp chủ yếu vitamin C và vitamin nhóm B, còn ngũ cốc cung cấp nhiều vitamin nhóm B, nhất là B1.

3. Về muối khoáng:

Nhu cầu của NCT cũng giống như người trẻ, nhưng khẩu phần nên có nhiều canxi. NCT có nhu cầu canxi lớn hơn, từ 1 đến 1,5g một ngày, có thể cung cấp 300mg canxi bằng 250ml hay hai cốc sữa chua.

4. Để đáp ứng nhu cầu ăn uống, NCT nên sử dụng hợp lí các thức ăn sau:

- Với ngũ cốc: Nên tránh ăn ngô chưa chế biến tốt, như ngô hạt, ngô mảnh có nhiều xơ cứng, khó tiêu hóa. Các loại cơm, bánh mì, mì sợi... dễ tiêu hóa hấp thu đều sử dụng tốt.

- Thịt, cá, trứng, sữa: Nên ăn cá nhiều hơn ăn thịt vì cá dễ tiêu hóa hơn. Trứng chỉ nên ăn có mức độ, còn sữa ở các nước châu Âu được coi là thức ăn lí tưởng của trẻ em và người già.

Các cụ bách niên ở nước ta phần lớn sống ở nông thôn, thức ăn chủ yếu gồm gạo mới giã, rau tươi, tôm, cua, cá... và bầu không khí trong lành.

- Rau tươi, quả chín: là những thức ăn cung cấp vitamin nhóm B, vitamin C và muối khoáng. Rau quả có nhiều chất xenluloza làm cho nhu động ruột tốt, tránh táo bón, nên khuyến khích NCT sử dụng.

- Rượu, cà phê, thuốc lá, chè đặc, gia vị... NCT nên tránh dùng. Nếu chót nghiện nên phấn đấu bỏ đi.

- Nước: Do các cơ kém đàn hồi nên NCT thường tiểu tiện luôn và có chiều hướng uống ít nước. Chúng ta nên biết, muốn cơ thể không bị nhiễm độc, các chất bã trong cơ thể phải được đào thải ra ngoài qua phân, nước tiểu, mồ hôi. Nước uống vào cũng có ý nghĩa "rửa sạch phần trong" của cơ thể, nên uống nước rất cần thiết để giữ gìn vệ sinh và sức khoẻ. Bình thường một người cần từ 1,5 lít đến 2 lít nước một ngày, kể cả nước trong thức ăn. Nếu chỉ tính nước uống thì khoảng 1,5 lít. NCT tuy cảm giác khát có giảm, nhưng nên chú ý dùng thường xuyên các nước uống (nước trái cây, nước chè loãng, sữa, nước khoáng...) để đạt 1,2 - 1,5 lít một ngày. Nếu để cơ thể bị thiếu nước có thể gây hậu quả nặng nề.

- Đặc điểm của NCT là thiếu răng, hoặc dùng răng giả, nhai thức ăn không được kĩ, dễ táo bón vì hoạt động của cơ bụng và ruột giảm, dễ bị rối loạn tiêu hóa. Vì vậy phải ăn uống điều độ, thức ăn thay đổi luôn, mềm, nát, nhiều rau tươi, quả chín và phải chú ý giữ vệ sinh ăn uống thật tốt.

BS. Hương Liên
Nguồn: http://nguoicaotuoi.org.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=6&ID=210

Một số món ăn bài thuốc từ đậu phụ

Theo y học cổ truyền, đậu phụ vị ngọt, tính mát, có tác dụng ích khí khoan trung, kiện tì, thanh nhiệt, giải độc. Nó được sử dụng trong các bài thuốc chữa cao huyết áp, rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch... Sau đây là một số món ăn bài thuốc từ đậu phụ.

Bài 1

Đậu phụ 300 g, nấm hương 30 g, măng tươi 30 g, rau cải 10 g, dầu thực vật, xì dầu, bột đao, nước dùng và gia vị vừa đủ. Măng, nấm thái phiến; đậu phụ xắt thành khối vuông nhỏ rồi chần qua nước sôi, để ráo nước. Đổ dầu thực vật vào chảo, phi hành cho thơm rồi cho nấm hương, măng, đậu phụ, nước dùng, xì dầu và gia vị vào. Đun to lửa cho sôi, rồi lại tiếp tục dùng lửa nhỏ đun sôi liu riu cho đến khi đậu phụ ngấm gia vị. Cho rau cải và một chút nước bột đao vào, đảo đều nhẹ tay rồi bắc ra, dùng làm canh ăn trong ngày.

Công dụng: Bổ khí, sinh tân, làm hạ mỡ máu và chống ung thư. Dùng cho người cơ thể suy nhược, tì vị hư yếu, cao huyết áp, rối loạn lipid máu, thiểu năng mạch vành và các bệnh ung thư.

Bài 2

Đậu phụ 100 g, mộc nhĩ 15 g, dầu thực vật, hành, gừng tươi và gia vị vừa đủ. Đậu phụ xắt thành khối vuông nhỏ, mộc nhĩ ngâm nước và làm sạch. Đặt chảo lên bếp, đổ dầu thực vật vào và phi hành, gừng cho thơm. Tiếp đó cho đậu phụ và một lượng nước vừa đủ, đun nhỏ lửa cho cạn bớt nước; cho mộc nhĩ, chế thêm gia vị rồi dùng làm canh ăn.

Công dụng: Ích khí hòa trung, sinh tân nhuận táo, thích hợp cho người bị cao huyết áp, vữa xơ động mạch, đau thắt ngực do thiểu năng mạch vành.

Bài 3

Đậu phụ 200 g, giá đậu tương 250 g, cải canh 100 g, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Giá đỗ và cải canh rửa sạch, cắt ngắn, đậu phụ xắt thỏi. Phi hành cho thơm rồi cho giá đỗ vào đảo nhanh, đổ thêm một lượng nước vừa đủ rồi đun to lửa cho sôi. Tiếp tục cho đậu phụ và cải canh vào, chế thêm gia vị, vặn nhỏ lửa nấu chín rồi dùng làm canh ăn.

Công dụng: Kiện tì ích khí, thanh nhiệt, giải độc, tư dưỡng thân thử. Thích hợp cho người béo phì, cao huyết áp, rối loạn lipid máu, vữa xơ động mạch, đau thắt ngực, suy nhược cơ thể, tì vị hư yếu.

Bài 4

Cua 500 g, đậu phụ 200 g, dầu thực vật, gừng tươi, xì dầu và gia vị vừa đủ. Cua rửa sạch, bỏ mai, giã lọc lấy nước cốt, đậu phụ xắt thành khối vuông nhỏ. Phi hành và gừng rồi đổ nước cua và đậu phụ vào, đun to lửa cho sôi, chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn.

Công dụng: Thanh nhiệt, hoạt huyết, thích hợp cho người béo bệu, cao huyết áp, thiểu năng mạch vành, viêm gan, thưa xương, còi xương.

Bài 5

Đậu phụ 200 g, nấm mỡ hoặc nấm rơm 100 g, tỏi 25 g, tôm nõn khô 25 g, nước dùng, dầu vừng và gia vị vừa đủ. Đậu phụ xắt thành miếng, nấm rửa sạch, thái phiến, tỏi giã nát. Cho đậu phụ, nấm, tôm và muối vào nồi nước dùng đun sôi, vớt bọt, vặn nhỏ lửa đun kĩ rồi cho tỏi và gia vị vào, dùng làm canh ăn.

Công dụng: Bổ khí sinh tân, kiện tì ích vị. Thích hợp cho người bị cao huyết áp, rối loạn lipid máu, các chứng ung thư.

Theo nguoicaotuoi.org.vn

Tài liệu ebook hay về chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi

Bạn sẽ làm gì khi nhiều tuổi, con cháu đầy nhà? Tài liệu sau sẽ giúp người cao tuổi có cách sống phù hợp với từng hòan cảnh của mình.
File dưới dạng .PRC
Tải tại đây (Link Mediafire)

Tải tại đây (Link Fileserve)

Để đọc được tài liệu file có đuôi PRC bạn download phần mềm Mobireader
Tải tại đây  (Link Mediafire)

Tải tại đây  (Link Fileserve)

Sưu tầm

Đọc hướng dẫn download tại đây

Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2011

Mười lời khuyên dành cho người cao tuổi trong việc ăn uống

1. Không nên ăn một món:

Nhiều người do ăn uống không ngon miệng nên có hướng chỉ ăn một vài món khoái khẩu. Điều này cần phải điều chỉnh lại, vì thức ăn có năm vị, nếu như chỉ thích ăn riêng một món nào đó, có nghĩa là chỉ ăn một hoặc hai vị, sẽ không có lợi cho sức khỏe. Tác hại của việc chỉ ăn một vài món đối với cơ thể như sau: Nếu ăn nhiều chất mặn thì động mạch sẽ ngừng trệ và biến sắc; nếu ăn đắng nhiều dạ dày dễ bị viêm, tóc sẽ khô và rụng nhiều; ăn cay nhiều da thường khô, hay bị co rút cơ bắp; ăn chua nhiều cơ không săn chắc, môi khô; ăn ngọt nhiều dễ bị đau xương.

2. Mắc các bệnh như:

Cao huyết áp, bệnh mạch vành và suy thận thì nên ăn ít hoặc kiêng những thực phẩm có hàm lượng muối cao. Muối sẽ làm bệnh nặng thêm.

3. Mắc các bệnh như:

Táo bón, mẩn ngứa do âm hư huyết táo, tì vị âm hư... nên kiêng các thực phẩm cay, nóng, khô như: thịt dê, ớt, hành, hạt tiêu... vì những thức ăn này có thể làm hại âm hao huyết.

4. Bệnh đái dầm:

Bệnh đái dầm ở tuổi già là do thận dương hư tổn gây ra. Bệnh giãn phế quản là do thận không nạp khí gây ra. Còn bệnh phù và viêm thận mạn tính là do thận suy kiệt gây nên. Những người mắc các căn bệnh trên nên ăn ít hoặc kiêng những loại thức ăn có tính ngọt, lạnh như: dưa hấu, quả hồng, cua, thịt thỏ, rau chân vịt... vì thức ăn tính hàn có thể làm cho dương khí bị hao tổn nặng hơn.

5. Bị tắc mạch máu não:

Bị tắc mạch máu não:nên ăn ít, hoặc kiêng những thực phẩm có vị chua như: Ô mai, mận, cam quýt vì những thức ăn này làm tăng độ co rút của động mạch khiến cho máu khó lưu thông.

6. Đầy bụng, khó tiêu:

Những người thấy đầy bụng, khó tiêu là do tì, vị và khí hư gây ra, cần kiêng ăn đậu tằm. Những người bị tiêu chảy do tì vị hư hàn gây nên, cần phải kiêng ăn thịt vịt, trứng vịt.

7. Bệnh trĩ:

Mắc bệnh trĩ nên kiêng nghệ và gừng sống.

8. Nôn ra đờm vàng:

Những người bị nôn ra đờm vàng là do phế hư táo nhiệt, vì thế phải kiêng các thực phẩm có tính cay nóng, đặc biệt là hạt tiêu.

9. Nhức đầu, hoa mắt:

Những người hay bị nhức đầu, hoa mắt là do âm hư huyết thiếu, vì vậy cần kiêng những thực phẩm có chất kích thích, thực phẩm có hại cho máu.

10. Không nên ăn quá nhiều và ăn các thực phẩm quá nhiều dưỡng chất:

Hầu hết những người trường thọ đều có cuộc sống giản dị, có quy tắc, ăn uống điều độ, lấy việc ăn chay là chính. Người cao tuổi không nên ăn quá nhiều là vì cơ thể lúc này đã suy yếu, chức năng của các bộ phận trong cơ thể bị suy thoái. Nếu như ăn uống quá nhiều sẽ tăng thêm gánh nặng cho các hệ thống trên, khiến chúng bị rơi vào tình trạng quá tải, dần dần làm cho cơ thể bị suy nhược. Hơn nữa, với những người mắc một số bệnh như cao huyết áp, tim mạch, xơ cứng mạch máu não... nếu ăn uống quá nhiều sẽ không có lợi.

Khuyến cáo mới về chế độ dinh dưỡng cho người có tuổi

Người có tuổi thường khó cảm thấy ngon miệng khi ăn.

Một người 60 tuổi, bị bệnh phổi, bỗng nhiên thở hổn hển sau bữa ăn. Thủ phạm chính là lượng calo quá lớn trong đồ ăn nhiều đường. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, việc hạn chế đường trong chế độ ăn của những bệnh nhân nói trên là rất cần thiết.

Điều này được giải thích như sau: Khi ta ăn đường, cơ thể sản xuất ra nhiều CO2 và người khỏe mạnh phải thở nhanh hơn để đào thải lượng khí thừa. Những lá phổi bị tổn thương bởi bệnh tắc nghẽn phổi mạn tính không thể trụ nổi sự quá tải này.

Kinh nhiệm nói trên chỉ là một trong rất nhiều mẹo nhỏ ít được biết đến về chế độ ăn làm nhẹ bớt một số bệnh mạn tính của người già.

Mẹo nhỏ, giá trị lớn

Từ trước tới nay, dường như các bác sĩ quá bận rộn hoặc không được đào tạo kỹ càng nên hiện tượng chế độ ăn khiến bệnh của người có tuổi nặng hơn vẫn xảy ra. Các chuyên gia của Hội dinh dưỡng Mỹ đã kết hợp với Viện hàn lâm Bác sĩ Gia đình (tổ chức bác sĩ về chăm sóc sức khỏe ban đầu lớn nhất nước Mỹ), đề ra "Sáng kiến Sàng lọc Dinh dưỡng". Đây là những hướng dẫn thiết thực, còn ít được biết đến, về chế độ dinh dưỡng cho người có tuổi, liên quan tới 8 bệnh mạn tính như ung thư, sa sút trí tuệ, tiểu đường, huyết áp cao, loãng xương... Nội dung khuyến cáo này bao gồm:

1. Kiểm soát sự thiếu cân: Trọng lượng 55 kg có thể là vừa với một người cao 165 cm ở độ tuổi 30, nhưng lại là thiếu với người 65 tuổi. Sụt 4,5 kg ngoài ý muốn trong 6 tháng là một dấu hiệu nguy hiểm. Ví dụ, sự giảm cân đột ngột ở người già có thể là dấu hiệu sớm của sa sút trí tuệ.

2. Một số thuốc thông dụng, như digoxin để điều trị suy tim, có thể làm giảm trầm trọng sự thèm ăn của người già.

3. Người có tuổi thường không cảm thấy ngon miệng khi ăn thịt, nhưng protein tạo nên cơ bắp và giúp cơ thể phục hồi sau bệnh tật. Nên nhớ tới những thức ăn giàu đạm khác như đậu, bơ lạc và trứng.

4. Khi có tuổi người ta thường thích ăn ngọt. Thói quen này không phải là xấu. Bệnh nhân Alzheimer cần tăng cân có thể dùng món bánh rán nếu họ thích. Năng lượng giúp trì hoãn thời điểm phải nuôi bệnh nhân qua ống. Hãy dùng những thức ăn được cắt nhỏ bằng ngón tay vì người bệnh có thể đã quên cách dùng dĩa.

5. Đảm bảo là người bệnh huyết áp cao dùng đủ canxi. Đây là cách tự nhiên để làm giảm huyết áp. Tất cả bệnh nhân có nguy cơ suy tim phải giảm lượng muối ăn.

6. Dùng đủ nước. Trung bình mỗi ngày cần uống 6-8 cốc (225 ml) các loại: nước trắng, nước hoa quả, sữa, trà, cà phê.

7. Rất nhiều chuyên gia khuyến cáo dùng bổ sung vitamin B12 ở người già, vì cùng với tuổi tác, sự hấp thu chất này cũng giảm.

8. Thay đổi lời khuyên về chế độ ăn cho phù hợp với từng bệnh nhân. Đa số bệnh nhân thận cần chế độ ăn nghèo đạm, nhưng một số dạng bệnh thận lại cần nhiều đạm hơn một chút.

Giảm bớt đau đớn cho người bệnh

Khoảng 85% người có tuổi bị ít nhất một bệnh mạn tính và họ có thể cải thiện tình hình sức khỏe thông qua chế độ ăn. Giáo sư Albert Barrocas, chuyên gia về ngoại khoa và dinh dưỡng tại New Orleans, người đã đưa ra thí dụ về sự khó thở của người bị bệnh phổi khi ăn nhiều đường, nói: "Chế độ ăn tốt không phải phương thuốc trị bệnh, nhưng nó có thể giảm bớt những đau đớn của người bệnh, thậm chí còn giúp một số người không phải dùng thuốc".

Trong khi ở người trẻ tuổi, thừa cân là nguy cơ lớn gây tiểu đường và bệnh tim mạch, thì người già lại phải đối đầu với nguy cơ suy dinh dưỡng. Khi bạn đời khuất núi, người còn lại sẽ chẳng thiết nấu nướng hoặc không biết làm thế nào để có bữa ăn lành mạnh.

Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011

Dinh dưỡng hợp lý đối với người cao tuổi

Người cao tuổi ít hoạt động so với thời trẻ. Mắt nhìn kém, tai nghe kém, mũi ngửi kém, lưỡi không nhậy ảnh hưởng đến ǎn ngon miệng. Các cơ quan tiêu hoá hoạt động cũng kém trước. Hàm rǎng yếu, nhai cắn thức ǎn khó khǎn. Tuyến nước bọt bị teo, thiếu nước bọt nên nuốt khó. Dạ dầy và ruột cũng teo đi. Dịch vị giảm, lượng men tiêu hoá giảm. Hoạt động của gan, thận yếu đi. Khả nǎng lọc còn 60% gây ứ các chất thải ở máu. Ǎn khó tiêu. Nhu động của ruột giảm dễ gây táo bón. Tóm lại ở người cao tuổi tất cả đều ảnh hưởng tới sự tiêu hoá hấp thu thức ǎn, cho nên đối với người cao tuổi cần có một chế độ ǎn uống hợp lý.

1. Trước hết cần giảm mức ǎn so với thời trẻ: ǎn giảm cơm

Nhu cầu nǎng lượng của người 60 tuổi giảm đi 20%, ở người trên 70 tuổi nhu cầu giảm đi 30% so với người 25 tuổi nên thường tự nhiên người già đều ǎn giảm đi nhưng có một số người tuổi tuy đã cao nhưng ǎn vẫn ngon miệng, nên ǎn thừa, người quá mập. Người quá mập mỡ dắt và mỡ bọc các cơ quan nội tạng dẫn đến suy tim, suy gan, suy thận. Cho nên người nhiều tuổi cần chú ý giảm mức ǎn so với thời trẻ. Trước đây mỗi bữa ǎn ba, bốn bát cơm, nay chỉ nên ǎn hai bát, thậm chí một bát. Chú ý theo dõi cân nặng của mình. Cân nặng của người cao tuổi không nên vượt quá số xǎng ti mét của chiều cao trừ đi 105. Ví dụ người có tuổi cao 165cm, cân nặng không nên vượt quá 60kg.

2. Ǎn giảm thịt, giảm đường, giảm muối

Ngoài giảm cơm, đối với các gia đình khá giả có mức ǎn cao các cụ cần chú ý tự giảm mức ǎn thịt, giảm món ǎn mỡ, giảm đường theo khuyến cáo của tháp dinh dưỡng cân đối. Thịt tính bình quân không vượt quá 1,5 kg đầu người trong một tháng, mỡ dưới 600 gam, đường dưới 500 gam. Đối với tất cả mọi người cần vận động ǎn giảm muối. Bắt đầu dưới 300 gam/người/tháng. Rồi rút dần xuống dưới 200 gam vì ǎn muối nhiều có liên quan đến bệnh tǎng huyết áp.

Tóm lại người nhiều tuổi cần ǎn giảm cơm, giảm thịt, mỡ giảm đường bánh kẹo, nước ngọt và chú ý ǎn nhạt hơn.

3. Ǎn thêm đậu, lạc, vừng và cá

ở người có tuổi, tiêu hoá hấp thụ chất đạm đều kém nên dễ xảy ra tình trạng thiếu đạm. ở đậu, lạc, vừng và cá đều có nhiều chất đạm lại có nhiều chất dầu giúp đề phòng các bệnh về tim mạch. Cho nên người nhiều tuổi nên ǎn nhiều mòn ǎn từ đậu tương như đậu phụ, sữa đậu nành, tào phở. ở mỗi gia đình nên có một lọ vừng lạc để có một món ǎn chế biến sẵn bổ sung cho bữa ǎn hàng ngày, mỗi tuần ǎn 2 - 3 bữa cá. Nên ǎn cá nhỏ, kho rừ hai lửa để ǎn được cả xương có thêm can xi đề phòng bệnh xốp xương ở người cao tuổi.

Đậu, lạc, vừng, cá vừa có tác dụng phòng chống các bệnh tim mạch và nhất là đậu phụ có tác dụng phòng chống ung thư. Tim mạch và ung thư là hai bệnh chính gây tử vọng ở người cao tuổi.

4. Ǎn nhiều rau tươi, quả chín.

ở người nhiều tuổi sức co bóp của dạ dày giảm, nhu động ruột giảm, dẫn đến táo bón. Khi táo bón kéo dài vi sinh vật gây thối rữa phát triển tạo ra nhiều hơi trong ruột gây đầy bụng. Cơ hoành bị đẩy lên gây khó thở và trở ngại cho hoạt động của tim. Cho nên người có tuổi cần chú ý ǎn nhiều rau để có chất xơ kích thích nhu động ruột, tránh táo bón. Các chất xơ trong rau quả còn có tác dụng như cái chổi quét hết côletstêron thừa đẩy ra theo phân giúp cơ thể dễ phòng xơ vữa động mạch. Ǎn rau tươi, quả chín cũng góp phần tǎng cảm giác no khi ta ǎn bớt cơm và điều quan trọng hơn là rau quả cung cấp cho cơ thể các chất dinh dưỡng hết sức quan trọng đối với người cao tuổi là các vitamin và chất khoáng.

5. Sử dụng hợp lý thực phẩm dùng cho người cao tuổi.

- Gạo: chọn gạo dẻo, không sát quá trắng.

- Khoai, củ: người cao tuổi nên ǎn rút bớt cơm và thay bằng khoai, chú ý khoai sọ không gây béo mà lại có nhiều chất xơ giúp chống táo bón, gúp thải cholesterol thừa và đề phòng ung thư đại tràng.

- Đậu phụ, sữa đậu nành, sữa chua từ đậu nành vừa bổ, vừa giúp đề phòng các bệnh tim mạch và ung thư.

- Lạc, vừng: giầu chất đạm, chất béo, nhiều acid béo không no. ở gia đình, nên có lọ muối vừng lạc nhạt để ǎn dần bổ sung vào bữa ǎn hàng ngày.

- Rau: bữa nào cũng cần có món rau, đặc biệt là các loại rau lá xanh có nhiều bêta - caroten kể cả trong các bữa tiệc cũng phải có món rau.

- Quả chín rất quí cần gây thành tập quán có quả tráng miệng sau bữa ǎn.

- Thịt, cá: người nhiều tuổi cần ǎn giảm thịt, chỉ cần trung bình 1,5kg thịt một tháng. Nên ǎn cá nhiều hơn, ba bữa một tuần. Cá nhỏ kho rừ, ǎn cả xương.

- Trứng bổ nhưng không nên lạm dụng. Trung bình 3 quả 1 tuần.

- Sữa bổ dễ tiêu. Đặc biệt sữa chua vừa bổ vừa có tác dụng điều hoà hoạt động của bộ máy tiêu hoá. Nếu có điều kiện mỗi ngày nên uống một cốc sữa chua.

- Mật ong: có tác dụng tốt trong các bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, đại tràng, các trạng thái suy yếu gan, thần kinh nhưng người có tuổi cần ǎn giảm chất ngọt không được ǎn quá 20g đường một ngày trong đó có tính cả mật ong.

- Mắm: là món ǎn ngon được nhiều người ưa thích nhưng đối với người cao tuổi không nên ǎn thường xuyên và mỗi lần ǎn cũng nên dùng ít thôi vì lượng muối trong mắm rất cao, không thích hợp với cơ thể người cao tuổi.

- Muối: Có liên quan đến bệnh huyết áp cao, tai biến mạch máu não cần vận động ǎn hạn chế, nấu ǎn giảm muối ở các gia đình, ở các hàng cơm, quán ǎn đường phố.

- Dưa: Muối sổi, dưa góp, dưa giá lên men lactic giúp ǎn ngon miệng. Canh dưa là món ǎn được ưa thích.

- Rượu: Người có tuổi có nhiều nguy cơ bị tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim cho nên rượu kể cả rượu thuốc là một đồ uống nên tránh sử dụng đều đặn hàng ngày. Đối với người có tuổi khoẻ mạnh, rượu nhẹ loại lên men như rượu vang, bia trong những ngày vui có thể cho phép dùng với liều nhỏ.


6. Cách ǎn của người cao tuổi:

- Ǎn uống điều độ: Tránh ǎn quá no đặc biệt buổi tối trước khi đi ngủ và khi có bệnh ở hệ tim mạch. Chú ý những ngày lễ tết thường ǎm quá mức bình thường và vui quá chén.

- Chế biến các món ǎn hỗn hợp có nhiều gia vị kích thích ǎn ngon miệng, làm thức ǎn mềm, nấu nhừ. Chú ý tới món canh. Cần quan tâm đến rǎng miệng và sức nhai, nuốt của người nhiều tuổi khi chế biến thức ǎn. (già được bát canh) vì tuyến nước bọt và hàm rǎng của người nhiều tuổi hoạt động kém, vấn đề nhai và nuốt thức ǎn có khó khǎn.

- Chú ý đảm bảo nước uống cho người cao tuổi: Cho người cao tuổi uống nước trắng hoặc nước chè. Hạn chế uống nước ngọt. Người cao tuổi hay quên, một số mất cảm giác khát. Cho nên cần xây dựng thành chế độ uống nước của người già và theo dõi việc thực hiện. Ví dụ sáng uống hai cốc, trưa hai cốc, chiều hai cốc. Tránh uống nhiều nước buổi tối.


- Chú ý các thức ǎn nguồn thực vật vì nếu biết cách chọn lựa chế biến khéo sẽ tạo ra các món ǎn ngon, bổ, dễ tiêu, giá rẻ.

- Trong mọi trường hợp cần đảm bảo vệ sinh trong chế biến nấu nướng món ǎn và giữ gìn vệ sinh ǎn uống. Thức ǎn, nước uống là nguồn gây bệnh.

Tóm lại, cần đảm bảo cho người cao tuổi được ǎn uống thoải mái, tuy tuổi cao vẫn tìm được nguồn vui trong bữa ǎn hàng ngày. Nguồn vui được tạo ra do sự chǎm sóc, tình cảm của người thân trong gia đình quan tâm tới ǎn uống của người cao tuổi, chế biến các món ǎn mà người già yêu thích. Nguồn vui còn do bản thân người già biết cách giữ gìn ǎn uống điều độ, biết kết hợp ǎn uống với hoạt động của đôi chân đi bộ đều đặn hàng ngày với hoạt động của cái đầu hàng ngày bắt bộ óc làm việc và với hoạt động của trái tim nhân hậu tấm lòng cởi mở, quan hệ tốt với mọi người, thương người như thể thương thân, tất cả đều giúp cho con người thanh thản, thoải mái, ǎn ngon, ngủ sâu, tiêu hoá hấp thu tốt

Gs. Từ Giấy

Bài đăng phổ biến