Hiển thị các bài đăng có nhãn Nữ giới mang bầu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nữ giới mang bầu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 18 tháng 5, 2011

“Đẻ không đau” - Nên hay không?

Nhiều thai phụ muốn con mình sinh ra theo lối sinh thường, nhưng bản thân lại vô cùng lo sợ những cơn đau đẻ (có thể do nghe từ người khác kể lại, hoặc cũng có thể có kinh nghiệm từ lần sinh trước). Chính vì vậy, hiện có rất nhiều bà mẹ quan tâm đến phương pháp “đẻ không đau”. Vậy thế nào là “đẻ không đau” và ai không nên áp dụng phương pháp này?

Thế nào là “đẻ không đau”?

Kỹ thuật “đẻ không đau” là phương pháp gây tê ngoài màng cứng, tức là tiêm thuốc gây tê vào cùng cột sống ở thắt lưng (vùng này chứa các dây thần kinh chi phối các cảm giác đau từ vùng bụng trở xuống). Nhờ tác dụng của thuốc tê, các cơn co tử cung vẫn xảy ra đều đặn và thúc đẩy cuộc chuyển dạ nhưng sản phụ sẽ không có cảm giác đau đớn.

Ở Việt Nam, kỹ thuật sinh này đã được ứng dụng thành công tại nhiều bệnh viện. Phương pháp này có ưu điểm là giúp sản phụ tiết kiệm sức để rặn đẻ tốt hơn vì không phải trải qua những cơn chuyển dạ đau đớn. Thuốc tê có thể kéo dài để giảm đau sau đó nhiều giờ, và không ảnh hưởng đến em bé vì nó không qua nhau thai.

Trong quá trình sinh nở, nếu sản phụ không thể tự sinh thường thì bác sĩ sẽ chỉ định sinh mổ để an toàn cho cả mẹ và con. Khi phải sinh mổ, chỉ cần thêm liều thuốc tê qua đường truyền để giảm đau trong lúc mổ.

Ai không thể dùng phương pháp “ đẻ không đau”?

Để thực hiện một ca đẻ không đau, bác sĩ sản khoa sẽ phải khám thật chi tiết cho sản phụ để biết về tiểu sử bệnh lý, tình trạng chuyển dạ, tình trạng cơn co và xem có phù hợp với phương pháp sinh này không.

Phương pháp sinh này phù hợp với các sản phụ có các bệnh như tăng huyết áp, bệnh tim…, nhưng lại không được áp dụng cho các sản phụ có bệnh lý liên quan đến cột sống, rối loạn đông máu hoặc đang có tình trạng nhiễm trùng…

Các tác dụng phụ có thể gặp

Khi áp dụng phương pháp sinh thường không đau, một số sản phụ có thể gặp trạng thái chóng mặt, ớn lạnh hay lạnh run, buồn nôn, nôn hay khó vận động chân ngay sau khi tiêm thuốc. Một số trường hợp có thể bị nhức đầu nhẹ, đau lưng trong thời kì hậu sản. Nhưng các triệu chứng này không nguy hiểm và sẽ tự hết sau vài giờ. Hiếm hơn, một số người có thể có cảm giác lạ vùng mông, đùi (như kiến bò, rát bỏng) trong thời gian ngắn hậu sản và sau đó sẽ tự khỏi.

Bác sĩ Lê Mai Phương
Theo http://suckhoedoisong.vn, 4/5/2011

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2011

CÁCH BỔ SUNG SẮT CHO CƠ THỂ


Sắt nằm trong nhóm khoáng chất cần thiết phải cung cấp đủ cho cơ thể, nhất là phụ nữ. Cũng như nhiều chất khoáng khác, sắt cũng đóng một vai trò quan trọng bổ sung nguyên liệu cho việc tạo máu.


Ngoài ra, sắt còn là những cơ chất giúp máu chuyên chở, phân phối dưỡng khí tới khắp các bộ phận của cơ thể thông qua huyết sắc tố có gắn nguyên tử sắt +2 gắn kết với ôxy.


Mỗi khi sắt bị thiếu trong cơ thể dễ dẫn đến suy nhược, mệt mỏi, xanh xao hay hồi hộp, tim có tiếng thổi, khó thở khi gắng sức, đề kháng kém, thai phụ dễ bị sinh non…thiếu máu với các biểu hiện như mệt mỏi, mất khả năng tập trung, đau đầu, rụng tóc…

Một người phụ nữ có khoảng 2,5gram sắt, với nam giới là 4gram. Dù chiếm một tỷ lệ rất nhỏ nhưng nguyên tố vi lượng này lại rất cần thiết cho hoạt động của cơ thể. Mỗi ngày, cơ thể mất một lượng sắt nhất định qua các tế bào chết, bong da, phân và nước tiểu, phụ nữ hành kinh... Vì thế, chúng ta cần bù đắp đủ một lượng nhỏ sắt bị mất đi mỗi ngày.

Cần thường xuyên bổ sung sắt một cách hợp lý thông qua khẩu phần ăn.

Nhu cầu sắt hàng ngày (khuyến cáo của RDI – Mỹ): Từ 3 – 6 tháng tuổi cần 6.6 mg/ngày, 6 – 12 tháng tuổi cần 8.8mg/ngày, 1 – 10 tuổi: 10mg/ngày. Nam 10 – 18 tuổi cần 12mg/ngày. Nam giới trưởng thành 10mg/ngày. Nữ giới trưởng thành 15mg/ngày. Nữ giới sau mãn kinh 10mg/ngày. Phụ nữ có thai 45mg/ngày.

Để phòng ngừa tình trạng thiếu sắt trong cơ thể cần chọn lựa các thực phẩm giàu sắt mà bổ sung hợp lý vào khẩu phần ăn thường ngày. Đó là các loại gồm thịt đỏ, cá, tiết bò, gan gia súc gia cầm các loại, lòng đỏ trứng gà, rau muống, mộc nhĩ, nấm hương, nghệ, đậu tương…Trong thịt, các nhà khoa học đã phát hiện ra có hai loại sắt mà cơ thể có thể hấp thu là heme và non-heme. Sắt heme có trong các sản phẩm động vật như thịt bò, thịt gà, cá… Sắt non-heme có trong các loại thực vật như đậu Hà Lan, đậu lăng và các loại gia vị…

Vitamic C có nhiều trong cam kích thích khả năng hấp thụ sắt của cơ thể. Bên cạnh đó, ăn nhiều rau xanh và hoa quả cũng tăng sự đồng hoá sắt từ các thức ăn khác.

Song khi thừa sắt cũng rất nguy hiểm, có thể gây các bệnh về tim và rối loạn hoạt động não.  Do vậy, việc sử dụng viên sắt để uống cần có sự hướng dẫn của bác sĩ, không nên tùy tiện dùng. Để an toàn cần có những thực đơn hợp lý trong các bữa ăn, khẩu phần ăn của từng đối tượng vì như đã nêu trên thì nhu cầu ở mọi lứa tuổi không giống nhau. 

Theo SKDS

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2011

5 sai lầm nhỏ ở phụ nữ mang thai

(SGTT.VN, 8/5/2011) - Những sai lầm này đôi khi nghe có lý đến mức, ngay cả những phụ nữ thông minh và có kiến thức tốt cũng bị nhầm lẫn.

1. Bạn bỏ uống thuốc bổ dành cho phụ nữ có thai vì loại thuốc đó khiến bạn bị rối loạn tiêu hoá


Bạn cho rằng nó không quan trọng, vì bạn có thể ăn rất nhiều để bù lại. Thêm nữa, bạn cũng cho rằng nếu mang thai mà rối loạn tiêu hoá thì sẽ rất không tốt cho thai nhi, đúng không? Nhưng thực tế, việc uống thuốc bổ dành cho phụ nữ mang thai cực kỳ quan trọng, vì nó cung cấp đủ những dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển của thai nhi, mà nhiều khi việc ăn uống đơn thuần không thể cung cấp được. Điển hình là hai dưỡng chất axít folic và canxi, chế độ ăn uống bình thường không thể cung cấp đủ hai dưỡng chất này cho thai nhi. Hầu hết các bác sĩ sản khoa đều khuyến khích cung cấp hai dưỡng chất này ngay từ trước khi mang thai khoảng 2 – 3 tháng. Nếu như bạn bị rối loạn tiêu hoá với thuốc bổ, hãy thay đổi thời gian uống thuốc, tốt nhất là uống sau bữa ăn khoảng 30 phút, hoặc nếu không, có thể yêu cầu bác sĩ thay đổi loại thuốc khác có thành phần tương tự.

2. Khi mang thai, bạn luôn ăn theo quan niệm “ăn cho hai người”

Cơ thể của phụ nữ mang thai không hề cần thêm calo trong khoảng thời điểm ba tháng đầu của thai kỳ. Bắt đầu từ tháng thứ tư trở đi, bạn cũng chỉ cần bổ sung thêm khoảng 300 calo mỗi ngày. Nếu cứ ăn với quan niệm “ăn cho hai người”, bạn sẽ có thể tăng cân rất nhanh và bị thừa cân ngay từ khi chưa sinh nở. Việc thừa cân sẽ dẫn đến nguy cơ tiền sản giật và tiểu đường. Với những em bé sơ sinh có cân nặng khoảng từ 3,6kg trở lên sẽ phải thử máu ngay từ khi mới sinh để kiểm tra mức đường trong máu.

3. Bạn không dám đụng vào sôcôla vì rõ ràng sôcôla có chứa caffeine

Bạn biết không, sôcôla được xếp vào top những đồ ăn bổ dưỡng nhất có trên trái đất cơ đấy! Nhưng tất nhiên, phải được ăn ở mức độ hợp lý. Hơn nữa, lượng caffeine có trong sôcôla khá nhỏ, chỉ có tác dụng làm cân bằng tâm trạng, giảm bớt các cảm giác bực bội căng thẳng, chứ chưa đến mức gây tác động xấu. Các nhà khoa học tin rằng, những phụ nữ khi mang thai ăn sôcôla thường xuyên ở mức độ cho phép, sẽ sinh ra những em bé vui vẻ và điềm tĩnh hơn. Vì thế, nếu thích bạn cứ ăn sôcôla đi nhé, vì một ngày, bạn có thể nạp vào cơ thể tối đa là 200mg caffeine, và trong một thanh sôcôla không bao giờ có đủ nhiều caffeine đến mức này.

4. Do khá bận bịu, nên thời gian ngủ của bạn chỉ vào khoảng 5 – 6 tiếng một ngày, và khi mang thai, bạn cũng không có ý định thay đổi

Với nhịp độ cuộc sống nhanh và ngày một phát triển như hiện nay, chỉ ngủ 5 – 6 tiếng một ngày trở nên khá phổ biến. Nhưng đây hoàn toàn không thể là thời gian ngủ có thể áp dụng cho những phụ nữ mang thai. Nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ cho thấy, những phụ nữ ngủ ít hơn sáu tiếng một ngày sẽ có thời gian lâm bồn lâu hơn bình thường tới bốn lần. Điều đó có nghĩa là họ sẽ phải chịu đau đớn lâu hơn, mất sức nhiều hơn và do đó việc sinh nở sẽ gặp nhiều nguy cơ và biến chứng hơn. Lời khuyên dành cho bạn là: hãy cố gắng hạn chế tối đa việc “mắc nợ” giấc ngủ, nếu không bạn sẽ phải trả giá, không chỉ trong việc mang thai sinh nở, mà còn trong cuộc sống sau này, khi về già.

5. Bạn đọc đâu đó rằng, khi mang thai, thỉnh thoảng uống một chút rượu cũng không sao, vì thế bạn vẫn dùng loại đồ uống này một vài lần trong tuần

Đúng là có một vài lời khuyên cho rằng việc thỉnh thoảng uống một chút rượu vang sẽ không ảnh hưởng gì đến thai nhi. Nhưng thực tế cũng chẳng ai chứng minh được rằng nó không ảnh hưởng ở mức độ như thế nào. Vì thế, tốt nhất là bạn nên tránh đồ uống có cồn trong thời gian mang thai để đảm bảo tốt nhất cho sự phát triển của em bé.

Hải Anh

Thai phụ dưới 20 và trên 35 tuổi dễ bị tiền sản giật

Đây là kết quả công trình nghiên cứu từ tháng 9/2009 đến 5/2010 của các bác sĩ Bệnh viện Từ Dũ TP HCM, thực hiện trên 1.000 sản phụ.

Theo bác sĩ Huỳnh Thị Thu Thủy, Phó giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, những sản phụ được nghiên cứu là người mang thai từ 20 đến 24 tuần tuổi. Phương tiện chẩn đoán là siêu âm doppler màu động mạch tử cung.

Bác sĩ Thủy cho biết, bằng phương pháp này, kết quả cho thấy những thai phụ dưới 20 tuổi thường bị tiền sản giật gấp 6,35 lần so với nhóm 20-34 tuổi.


Ngoài ra, nhóm thai phụ trên 35 tuổi cũng bị tiền sản giật cao gấp 2 lần so với nhóm 20-34 tuổi. Riêng những trường hợp có người thân từng bị tiền sản giật thì nguy cơ mắc tai biến này cũng cao hơn gấp 2,4 lần.

Tiền sản giật còn gọi là chứng máu bị độc, cứ 100 người thì có 2-5 trường hợp mắc phải. Nguyên nhân chưa rõ, song theo các chuyên gia sản khoa, có thể đây là người mẹ phản ứng miễn dịch cho thai nhi.

Theo bác sĩ Huỳnh Thị Thanh Thảo, Bệnh viện Từ Dũ, ngoài nhóm tuổi dưới 24 và trên 35, những người thừa cân, bệnh thận mạn tính, tiểu đường và huyết áp cao cũng dễ có nguy cơ bị tiền sản giật. Tình trạng này cũng dễ gặp ở người mang thai lần đầu hoặc mang đa thai.

Biểu hiện của bệnh thường là đau đầu, mờ mắt, đau bụng trên, buồn nôn, phù tay chân, cao huyết áp; thường xảy ra ở những tháng cuối thai kỳ. Nếu ở thể nhẹ rất dễ điều trị. Tuy nhiên tiền sản giật nặng, nếu không được điều trị, có thể dẫn đến tử vong cho sản phụ lẫn thai nhi.

Việc cấp cứu tiền sản giật nặng không đơn giản bởi diễn tiến của bệnh là rất nhanh. Trường hợp thai nhi đủ tuổi, các bác sĩ có thể thúc sinh hoặc sinh mổ. Nếu biến chứng này nặng, diễn ra trước 24 tuần tuổi thì có thể phải chấm dứt thai kỳ để cứu mẹ.

Để tránh những khả năng xấu, các bác sĩ khuyên sản phụ nên khám thai đầy đủ, đồng thời đến bệnh viện chuyên khoa ngay nếu thấy có những biểu hiện tiền sản giật. Việc miêu tả tình trạng sức khỏe cũng cần rõ ràng để bác sĩ có thể tiến hành các xét nghiệm chẩn đoán.

Phương Nghi, http://vnexpress.net/gl/doi-song

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2011

Cảnh giác với tiểu đường thai kỳ

Thai to bất thường là yếu tố chính hay gặp ở tiểu đường thai kỳ.

Nhiều nguyên nhân gây bệnh

Tiểu đường thai kỳ được gọi theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới đó là tình trạng rối loạn dung nạp đường huyết dẫn đến tăng lượng đường huyết trong thời kỳ chị em phụ nữ mang thai. Tại hội nghị Sản phụ khoa Việt - Pháp - châu Á Thái Bình Dương hằng năm diễn ra cuối tháng 4 ở TP.HCM, tham luận của các nhà chuyên môn cho biết, có hai thể đó là: tiểu đường rõ, thường gặp nhất là thể 2, có trước khi mang thai, chỉ phát hiện trong thai kỳ và kéo dài sau sinh; thể hai là bất thường dung nạp đường huyết thật sự, xuất hiện trong lúc mang thai và biến mất tạm thời sau sinh.

Tiểu đường thai kỳ chiếm bình quân từ 2-6% thai phụ, một số nơi có thể cao hơn. Yếu tố chính gây nên bệnh đó là: thừa cân, tuổi tác, tiền căn gia đình trực hệ có người bị tiểu đường...

Biến chứng

Theo bác sĩ Gilles Dauptain (Hội Sản - Phụ khoa Pháp), tiểu đường thai kỳ làm tăng nguy cơ chứng tiền động kinh và mổ lấy thai ở người mẹ; những thai phụ thừa cân hoặc béo phì cũng có nguy cơ tiền động kinh và mổ lấy thai. Do vậy, các thai phụ nếu kết hợp cả tiểu đường thai kỳ và béo phì sẽ làm tăng các nguy cơ nói trên. Còn biến chứng ở trẻ, thai to bất thường là hệ quả thường gặp nhất của bà mẹ mang thai bị tiểu đường.

Việc tầm soát tiểu đường thai kỳ, lý tưởng nhất theo các bác sĩ là phải xác định được những phụ nữ có nguy cơ cao mắc bệnh. Khuyến cáo tầm soát tiểu đường thai kỳ khi có ít nhất một trong những tiêu chuẩn sau: người mẹ mang thai ở tuổi từ 35 trở lên; chỉ số BMI từ 25 kg/m2 (dấu hiệu thừa cân); tiền căn gia đình thuộc hệ thứ nhất có người bị tiểu đường; tiền căn bản thân thai phụ đã bị tiểu đường thai kỳ; hoặc đẻ con với thai to.

Trong trường hợp tiểu đường thai kỳ ổn định, không có các bệnh lý khác, và không yếu tố nguy cơ kèm theo thì việc theo dõi lâm sàng không khác biệt ở các thai kỳ sau; nếu có các nguy cơ đi kèm (béo phì, đường huyết không ổn định, tăng huyết áp) thì cần kiểm soát huyết áp và nhịp tim thai phải đều đặn, và tăng cường theo dõi hơn nữa khi thai nhi ở tuần thứ 32 trở đi. Và, khi sinh, nên mổ lấy thai trong trường hợp bà mẹ mang thai có bệnh tiểu đường mà trọng lượng thai nhi trên 4.250g hoặc 4.500g. Tùy từng trường hợp, bác sĩ sẽ cân nhắc việc lợi, hại cụ thể khi mổ bắt thai.

Thanh Tùng
Theo Thanh Niên – Thứ năm, ngày 05 tháng năm năm 2011

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2011

Quan hệ vợ chồng trong thời kỳ mang thai (2 bài)

Bài 1. Tình dục trong thời kỳ mang thai



Thời kỳ người vợ mang thai là một thời điểm đặc biệt trong đời sống sinh hoạt tình dục của hai vợ chồng. Biết bao cặp vợ chồng tỏ ra lo lắng khi thực hiện chuyện ấy, thậm chí nhiều cặp còn thực hiện một chế độ “cấm vận” nghiêm ngặt. Sau đây là một số lời khuyên quý giá giúp bạn vượt qua giai đoạn khó khăn này một cách nhẹ nhàng mà vẫn thoả mãn được ham muốn tình dục!


Thời kỳ người vợ mang thai là một thời điểm đặc biệt trong đời sống sinh hoạt tình dục của hai vợ chồng. Biết bao cặp vợ chồng tỏ ra lo lắng khi thực hiện chuyện ấy, thậm chí nhiều cặp còn thực hiện một chế độ “cấm vận” nghiêm ngặt. Sau đây là một số lời khuyên quý giá giúp bạn vượt qua giai đoạn khó khăn này một cách nhẹ nhàng mà vẫn thoả mãn được ham muốn tình dục!

Nhẹ nhàng… trong hai quý đầu!

Trong 3 tháng mang thai đầu tiên, một số phụ nữ chỉ cảm thấy ít xáo trộn trong việc thực hiện chuyện ấy, nhưng với nhiều người, đây lại là một thời kỳ khó khăn: buồn nôn vào sáng sớm, quần áo bị sít chặt, ham muốn tình dục suy giảm… Khi bạn làm chuyện ấy với nàng, hãy thật chú ý tới bộ ngực của nàng. Nếu không, bạn có nguy cơ bị nàng cấm vận chuyện ấy! Bởi vì giai đoạn này, do ảnh hưởng của hoocmôn, ngực nàng trở nên đặc biệt nhạy cảm, một tiếp xúc nhỏ nhất cũng có thể trở thành một khổ hình thực sự với nàng.

Từ tháng thứ ba đến tháng thứ 6, người phụ nữ trở lại bùng nổ: bụng nàng tròn ra nhưng vẫn giữ số đo có thể chấp nhận được. Nhìn chung, đây là giai đoạn dễ chịu nhất trong thời kỳ mang thai. Người mẹ tương lai, do hoocmon tiết ra nhiều hơn, cảm thấy dễ chịu và như vậy có thể vui vẻ nhận nhiều mơn trớn của bạn hơn. Giai đoạn này, quan hệ tình dục giữa hai vợ chồng thậm chí còn có thể diễn ra đều đặn hơn, và có thể bạn sẽ khám phá ra nhiều điều thú vị mới mẻ trong đời sống tình dục của mình!

Tinh tế… trong 3 tháng cuối!

Đến giai đoạn này, bụng nàng đã phình to ra và hình hài một em bé đã xuất hiện thông qua những cú đạp nhẹ. Bạn không thể không để ý đến điều đó; và như vậy, việc tìm một tư thế giao hợp thích hợp trở nên vô cùng phức tạp.

- Bạn hãy quên đi tư thế giao hợp truyền thống, bởi trọng lượng của bạn đè nặng lên cơ thể nàng có thể ảnh hưởng đến thai nhi

- Tư thế người bạn tình nằm trên người bạn. Với tư thế này, bụng nàng sẽ hoàn toàn thoải mái. Nhưng vào cuối thời kì mang thai, thai nhi trở nên nặng hơn và do đó, cử động bị giảm đi rõ rệt. Bạn và nàng còn có thể sử dụng tư thế này, nhưng chú ý không nhấn quá mạnh.

- Tư thế giao hợp lý tưởng là tư thế bạn ở phía sau nàng, dựa người vào lưng nàng. Với tư thế này, nàng sẽ được hưởng nhiều âu yếm hơn, cảm thấy thích thú hơn, và bạn cũng có thể nhẹ nhàng mơn trớn ngực nàng, đùi nàng.

Một vài lời khuyên:

- Thưa các quý ông, đừng sợ sẽ chạm “cái ấy” vào thai nhi, cho dù kích cỡ của nó như thế nào. Cổ tử cung đã bịt chặt lối vào rồi.

- Nên nhớ rằng hầu như tất cả phụ nữ đều không nghiện sex trong thời kỳ mang thai.

- Làm chuyện ấy trong thời kỳ mang thai giúp bạn giải toả rất nhiều, nhưng nó cũng tốt cho bạn tình của bạn: nếu người mẹ cảm thấy dễ chịu thì đứa bé trong bụng cũng cảm thấy như vậy.

- Và cuối cùng, bạn nên biết rằng tình dục không có nghĩa là làm chuyện ấy từ A đến Z. Trong một số trường hợp, khi mà việc giao hợp bị cấm chỉ định, hãy nghĩ tới những mơn trớn, những nụ hôn và những cử chỉ mát xa nhẹ nhàng khác.

Nguồn: timnhanh, http://www.thaisan.com/Tinh-duc-trong-thoi-ky-mang-thai.41.html

Bài 2. “Chuyện ấy” trong thời kỳ mang thai



Không có lý do gì khiến bạn phải thay đổi các hoạt động trong quan hệ vợ chồng trong khi mang thai trừ khi bác sĩ khuyên bạn nên thay đổi. Quan hệ hoặc việc đạt cực khoái trong quá trình mang thai sẽ không ảnh hưởng đến em bé của bạn trừ khi bạn mắc một bệnh gì đó. Hãy nhớ rằng con bạn được bảo vệ an toàn trong tử cung bằng nước ối bao quanh em bé

Bác sĩ có thể khuyên bạn không nên quan hệ trong giai đoạn mới mang thai nếu bạn có tiền sử bị sảy thai. Chuyện ấy cũng nên hạn chế nếu bạn có các vấn đề bất thường trong quá trình mang thai như đẻ non hay bị ra máu. Bạn nên đi khám bác sĩ để xác định có phải những dấu hiệu đó cảnh báo bạn không nên quan hệ, không nên đạt cực khoái hay không nên kích thích chuyện ấy vì các biểu hiện bất thường ấy có thể cần các điều cấm kỵ nghiêm ngặt.

Làm thế nào để quan hệ thoải mái trong quá trình mang thai?

Cũng như quá trình mang thai, thay đổi tư thế là điều cần thiết để mang lại sự thoải mái. Điều này cũng hoàn toàn đúng sau khi sinh.

Chất bôi trơn dạng lỏng cũng có thể nên sử dụng trong quá trình quan hệ nếu cần thiết.

Trong quá trình quan hệ, bạn nên dừng lại nếu cảm thấy đau. Trong quá trình quan hệ, dạ con của bạn sẽ co lại. Nếu bạn có bất cứ sự co thắt dạ con nào gây đau hoặc bất thường, hãy gọi ngay cho bác sĩ. Tuy vậy, dừng quan hệ và gọi cho bác sĩ ngay lập tức nếu bạn bị ra máu nhiều ở âm đạo hay rò nước ối (không nên cho bất cứ cái gì vào âm đạo nếu bạn bị rò nước ối).

Trao đổi với anh ấy về chuyện ấy

Nói chuyện với anh ấy. Nói cho anh ấy biết cảm giác của bạn, đặc biệt nếu bạn cảm thấy không hoà hợp về chuyện ấy trong quá trình mang thai. Khuyến khích anh ấy nói chuyện với bạn, đặc biệt nếu bạn nhận thấy những thay đổi trong phản ứng của anh ấy. Trao đổi với anh ấy có thể khiến hai bạn hiểu hơn về cảm giác và ham muốn của nhau.

Ham muốn về chuyện ấy có thay đổi trong quá trình mang thai không?

Sẽ là chuyện bình thường nếu ham muốn của bạn thay đổi khi bạn mang thai. Việc thay đổi hoócmôn có thể làm tăng ham muốn về chuyện ấy trong quá trình mang thai trong khi một số người khác có thể không mặn mà gì mấy với chuyện ấy so với thời gian trước khi mang thai.

Trong suốt 3 tháng đầu, thường thì một số phụ nữ bị mất khoái cảm trong chuyện ấy bởi vì họ mệt mỏi và thấy không thoải mái trong khi một số người khác ham muốn không có gì thay đổi cả.

Dành thời gian cho không gian riêng tư của hai vợ chồng trong thời kỳ mang thai

Nếu bác sĩ khuyên bạn nên hạn chế chuyện ấy hay nếu bạn không có ham muốn chuyện ấy thì hãy nhớ dành thời gian cho không gian riêng tư bên anh ấy. Để thân mật với nhau không cần thiết phải làm chuyện ấy – tình yêu và cảm xúc có thể được thể hiện qua nhiều cách.

Khơi gợi tình cảm trong bản thân sẽ tạo điều kiện cho em bé phát triển tốt hơn. Hưởng thụ thời gian ở bên nhau bằng cách có những buổi đi dạo dài cùng nhau đầy lãng mạn, hưởng thụ bữa ăn tối tràn ngập ánh nến hay kỳ lưng cho nhau.

Nên bắt đầu quan hệ lại sau khi sinh bao lâu?

Nhìn chung, bạn có thể bắt đầu lại chuyện ấy ngay khi bạn hồi phục sức khoẻ, khi bạn hết ra máu và khi bạn và anh ấy cảm thấy thoải mái.

Bác sĩ của bạn có thể khuyên rằng bạn phải đợi sau khi khi sức khoẻ đã hoàn toàn hồi phục trước khi quan hệ trở lại. Sau khi sinh, một số phụ nữ thấy thiếu dịch bôi trơn ở âm đạo khi quan hệ. Chất bôi trơn dạng lỏng có thể được sử dụng trong thời gian quan hệ để giảm đi sự không thoải mái do khô âm đạo.

Có thể có thai tiếp khi đang nuôi con bằng sữa mẹ không?

Những người phụ nữ chỉ nuôi con bằng sữa mẹ sẽ bị dừng sự rụng trứng (khi trứng sinh ra từ buồng trứng) và có kinh nguyệt. Nhưng sự rụng trứng sẽ tiếp tục trước khi bạn có kinh trở lại nên hãy nhớ rằng bạn vẫn có thể có thai trong thời gian này. Hãy làm theo hướng dẫn của bác sĩ để áp dụng các biện pháp tránh thai thích hợp.

Bảo Lan (st)

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2011

Cuối xuân là thời điểm thụ thai lý tưởng

Sự thay đổi của 4 mùa trong năm có ảnh hưởng hết sức rõ rệt đối với chu kỳ: thụ thai, mang thai và sinh đẻ. Việc lựa chọn mang thai theo mùa nào lý tưởng nhất sẽ mang ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng của thai nhi, cũng như đối với sức khoẻ của các bà mẹ.


Theo các chuyên gia, thời điểm lý tưởng nhất để thụ thai là vào cuối xuân (từ tháng 3 – tháng 4) hoặc đầu thu (tháng 9 - 10). Các nhà khoa học của Mỹ tiến hành nghiên cứu, phân tích trên 45.000 tân sinh viên, đã phát hiện ra những đứa trẻ được người mẹ thụ thai vào mùa xuân (hoặc mùa thu) có tỉ lệ thông minh cao hơn 60% so với những đứa trẻ được mẹ thụ thai vào mùa hè. Do thời kỳ đầu mang thai
là giai đoạn hình thành vỏ não của thai nhi, mà nhiệt độ quá cao của mùa hè sẽ khiến cho tình trạng nghén của thai phụ trở nên nghiêm trọng. Từ đó, việc ăn uống của thai phụ không được tốt, lượng protein được hấp thu ít, lượng tiêu hao của cơ thể lại nhiều.

Còn nhiệt độ mùa đông lại quá thấp, làm các loại rau quả tươi khan hiếm và thai phụ thường xuyên ở trong nhà, ít hoạt động. Việc ăn thiếu rau xanh khiến thai phụ rất dễ bị cảm. Thời tiết khắc nghiệt như vậy đều có thể ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất, cũng như trí tuệ của thai nhi sau này.

Cuối xuân là lúc vạn vật sinh sôi nảy nở, tiết trời ôn hòa nên chính là thời điểm mang thai lý tưởng nhất. Hơn nữa, thời điểm này các loại virus gây bệnh truyền nhiễm đường hô hấp, cảm cúm ít hoành hành. Vì thế, thai phụ ăn uống dễ dàng, điều hoà hơn, do đó giúp cho thai nhi (ở giai đoạn đầu rất quan trọng) sống trong một môi trường bào thai ổn định, phát triển hoàn hảo, có những tác dụng nhất định trong việc phòng chống tình trạng quái thai xảy ra.

Ánh sáng của mùa xuân cũng là yếu tố hữu ích cho phụ nữ vào thời kỳ mang thai như: Ergosterol dưới làn da của thai phụ khi được ánh sáng mặt trời chiếu vào có thể chuyển hoá thành Vitamin D, tăng cường khả năng hấp thụ canxi và phospho của cơ thể, rất tốt cho sự sinh trưởng - phát triển xương của thai nhi. Ngoài ra, khi ánh sáng chiếu vào da cũng giúp tăng cường tuần hoàn máu, lại giúp khử được các vi khuẩn gây bệnh nên nó cũng có tác dụng rất tốt tới sức khoẻ của thai phụ.

Theo PNO

Chăm sóc bà bầu suốt thời kỳ mang thai (10 bài)

Bài này tổng hợp từ 10 bài đăng trong Mangthai.vn nhằm giới thiệu cách chăm sóc phụ nữ mang thai từ tháng đầu tiên cho tới 40 tuần.

Xem chi tiết >>

Theo mangthai.vn

Thứ Hai, 18 tháng 4, 2011

Chẩn đoán trước sinh từ mức độ di truyền tế bào

Khi có thai, không ai có thể chắc chắn thai nhi trong bụng mẹ sẽ hoàn toàn bình thường. Ngay cả với các cặp vợ chồng còn trẻ, khỏe mạnh, đã từng sinh con bình thường cũng vẫn có nguy cơ sinh con dị tật, có điều tỷ lệ này thấp (khoảng 1-2% số trẻ sơ sinh). Vì thế nếu có điều kiện thì nên thực hiện chẩn đoán trước sinh cho mọi trường hợp thai nghén.


Kỹ thuật chuẩn đoán trước sinh bằng kỹ thuật di truyền phân tử được ứng dụng cho những thai phụ có dấu hiệu không bình thường khi mang thai: siêu âm có hình ảnh bất thường hoặc xét nghiệm máu mẹ có nguy cơ cao sinh con bị dị tật do rối loạn về số lượng và cấu trúc nhiễm sắc thể. Các bác sĩ tiến hành lấy 15-18 ml dịch ối dưới hướng dẫn của màn hình siêu âm nhằm giảm thiểu các biến chứng. Yêu cầu khắt khe nhất là thủ thuật phải được đảm bảo vô trùng. Kỹ thuật này thường thực hiện ở tuần thai từ 16-25.

Mẫu dịch ối sau khi được lấy sẽ được chuyển đến khoa di truyền và sinh học phân tử, Bệnh viện Nhi Trung ương để tiến hành phân tích nhiễm sắc thể từ tế bào ối để xác định các bất thường về cấu trúc nhiễm sắc thể. Cho đến nay đã có gần 10 trường hợp thai nhi được xác định có dị tật bẩm sinh nặng: Down, đột biến gien, tăng sản thượng thận bẩm sinh... Các xét nghiệm di truyền phân tử sẽ giúp cho các bác sĩ có thể xác định đựoc một cách chắc chắn các thai nhi có bất thường ở mức độ nào để có thể tiếp tục giữ hay đình chỉ thai nghén. Thực tế cũng đã có rất nhiều sản phụ được chỉ định xét nghiệm chẩn đoán trước sinh do có hình ảnh siêu âm bất thường nhưng sau khi được chẩn đoán bằng kỹ thuật di truyền phân tử, thai nhi vẫn được duy trì, cháu bé sinh ra bình thường.

Ứng dụng các kỹ thuật di truyền tế bào và phân tử trong chẩn đoán trước sinh, đặc biệt kỹ thuật di truyền phân tử là kỹ thuật hiện đại lần đầu tiên được khoa phụ sản Bệnh viện Bạch Mai phối hợp với Khoa Di truyền phân tử Bệnh viện Nhi Trung ương áp dụng ở Việt Nam. Sự phối hợp này đã giúp cho việc chẩn đoán, phát hiện sớm các dị tật bệnh lý do di truyền ở thai nhi đạt được tiến bộ cao nhất: chẩn đoán được 4 bệnh lý trong khi ở những đơn vị chuyên khoa sản khác chỉ xác định được từ 1-2 bệnh lý.

Tác giả : Thanh Hương
Theo vtv.vn, chuyên mục "Đời sống", 8/1/2010

Những loại trà thảo dược nên tránh trong thai kì

Một điều quan trọng chị em cần ghi nhớ là, ngay cả với những loại trà được coi là an toàn cho thời gian thai kỳ thì cũng không nên uống quá nhiều.

Không cần nói ra thì chị em đều biết caffeine và rượu là hai thức uống cần tránh khi mang bầu để giảm thiểu nguy cơ khuyết tật bẩm sinh ở thai nhi. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết có một số loại trà thảo dược cũng nên tránh khi mang thai vì có thể gây hại cho cả mẹ và con, nhất là nếu được uống quá nhiều.


Các loại thảo dược vốn vẫn được coi là một dạng thuốc, có tác dụng như thuốc chữa bệnh. Nhưng các loại thảo dược này chưa được nghiên cứu đầy đủ về tác dụng của chúng đối với em bé chưa sinh.

Một số loại trà thảo dược được coi là tốt trong thời kỳ thai nghén

Khi mang thai, ai cũng rất lo lắng cho sức khỏe của mẹ và con. Những loại trà thảo dược dưới đây được cho là an toàn khi bạn mang thai:

- Trà gừng
- Trà chanh
- Trà húng
- Trà lúa mạch
- Trà bạc hà

Những loại trà không nên dùng khi mang thai

Một số loại thảo mộc nếu uống nhiều có thể kích thích tử cung và vô tình gây ra sẩy thai hoặc các cơn co dạ con. Tốt nhất chị em nên chú ý và hạn chế uống các loại trà từ các loại thảo dược sau:

- Hoa cúc
- Cây ma hoàng
- Rễ cây cam thảo
- Lá mâm xôi
- Hoa hồi
- Cây ngải đắng
- Cây hương thảo
- Cây dâm bụt
- Cây sả
- Cây de vàng
- Cây tầm ma
- Cây thìa là

Trà từ lá cây mâm xôi được cho là có tác dụng giúp kích thích tử cung để chuẩn bị cho cơn co dạ con và sinh nở. Mặc dù chưa được khoa học chứng minh, nhưng trà lá mâm xôi có thể uống được ở thời gian gần cuối của thai kỳ (sau 38 tuần).

Điều đáng lưu ý là hầu hết các loại thảo mộc ở trên vẫn có thể ăn kèm trong các thức ăn. Chỉ có khi được pha thành trà thì các loại thảo mộc này mới cô đặc và nguy hiểm hơn.

Dùng trà xanh khi mang thai

Rất nhiều chị e thắc mắc trà xanh có được uống nhiều khi mang thai. Thực tế thì trà xanh không phải là một loại thảo mộc, nhưng nó có chứa caffein.

Tuy nhiên, vẫn có tranh luận về tác dụng và tác hại của trà xanh khi mang thai. Một số bằng chứng cho thấy trà xanh thực sự có thể làm giảm sự hấp thụ axit folic, trong khi đó, axit folic rất cần thiết trong thai kỳ để giúp ngăn ngừa các khuyết tật ống thần kinh sinh ở em bé.

Trà dành cho phụ nữ mang thai

Trên thị trường ngày nay xuất hiện các loại trà dùng khi mang thai. Các nhà sản xuất của các loại trà này giới thiệu sản phẩm của họ như là một sự trợ giúp cho những người đang mang thai.

Điều quan trọng cần lưu ý ở đây là, mặc dù các loại trà này không nhất thiết phải được chứng minh lâm sàng là an toàn cho thai nhi khi được tiêu thụ với số lượng lớn, nhưng chị em khi mua trà cũng nên chú ý các thành phần được liệt kê trên vỏ hộp hoặc bao bì.

Theo afamily.vn

Về việc đi giày cao gót (5 bài)

Bài 1. Chị em có nên đi giày cao gót khi mang thai?



Giày cao gót là một tác nhân khiến tình trạng “đau đớn” trong khi mang thai trở nên trầm trọng hơn, thậm chí gây ảnh hưởng không tốt đến thai nhi.

Mang thai là một giai đoạn rất quan trọng của chị em phụ nữ. Ngoài niềm vui được làm mẹ, chị em phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, phổ biến nhất là đau người và đau lưng. Giày cao gót lại là một tác nhân khiến tình trạng “đau đớn” này trở nên trầm trọng hơn, thậm chí gây ảnh hưởng không tốt đến thai nhi.


Giày cao gót được coi là một biểu tượng thời trang, giữ vài trò quan trọng tạo phong cách của không ít chị em phụ nữ. Tuy nhiên, đáng tiếc là không có nhiều người nhận ra tác hại của việc thường xuyên đi giày cao gót, đặc biệt với những chị em đang trong giai đoạn bầu bí.

Giày cao gót ảnh hưởng tới tư thế bình thường của bàn chân. Gót chân và các ngón chân phải ở tư thế thẳng hàng hợp lý để có thể giữ và nâng đỡ trọng lượng của toàn bộ cơ thể.

Nếu đi giày cao gót, toàn bộ trọng lượng cơ thể sẽ tập trung vào gót chân, gây ra áp lực quá mức cho các cơ ở gót chân, bắp chân và các ngón chân. Lúc này, lực trọng tâm thay đổi từ bàn chân chuyển sang gót chân sẽ dẫn tới sự nguy hiểm, vì nó ảnh hưởng đển các dây thần kinh bên hông.

Các dây thần kinh hông là một trong những dây thần kinh dài nhất trong cơ thể. Nó kéo dài từ cột sống đi xuống đến gót chân. Giày cao gót sẽ trực tiếp gây áp lực lên các dây thần kinh này. Trong thời gian mang thai, phụ nữ đi giày đế bằng nhiều khi cũng cảm thấy bị đau mỏi lưng trầm trọng bởi các dây thần kinh hông từ cột sống bị đẩy và chèn ép do sự phát triển của thai nhi.

Thai nhi càng phát triển to, các dây thần kinh này càng phải chịu áp lực mạnh hơn, dẫn đến những cơn đau lưng khủng khiếp. Do đó, khi đang mang thai, chị em vẫn tiếp tục đi giày cao gót thì nguy cơ đau mỏi lưng còn tăng lên gấp bội phần.

Trong khi mang thai, trọng lượng cơ thể của chị em ngày càng tăng do trọng lượng của thai nhi tăng. Điều này làm tăng thêm áp lực vào chân trong khi di chuyển. Những đôi giày gót cao có thể khiến chị em bị mất thăng bằng, vấp ngã hay trẹo chân. Điều này rất dễ ảnh hưởng tới cơ thể chị em cũng như ảnh hưởng không tốt đến thai nhi. Vì vậy, để có một em bé khỏe mạnh bình thường, chị em nên cố gắng tạm xa rời phong cách thời trang giày cao gót trong khoảng thời gian đang mang thai.

Ngoài ra, theo các nhà nghiên cứu, trong quá trình mang thai, chị em có thể gặp nhiều những vấn đề phát sinh không mong muốn ở các bộ phận trên cơ thể. Ví dụ như các nốt viêm tấy ở các kẽ ngón chân. Nếu tiếp tục đi giày cao gót, những nốt viêm tấy này có thể ngày càng trầm trọng hơn. Do vậy, chị em nên cân nhắc trước khi muốn tiếp tục duy trì sở thích thời trang đi giày cao gót ngay cả trong thời gian bầu bí quan trọng của mình.

Theo afamily.vn

Bài 2. Giày cao gót - mối đe dọa mới cho SKSS và tình dục của chị em



Những đôi giày cao gót trên 5cm, nếu thường xuyên sử dụng, có thể trở thành mối đe dọa cho sinh hoạt tình dục và sinh sản, bộ máy “nội tạng” cũng bị ảnh hưởng tiêu cực.

Chúng ta đều biết, tỷ lệ nữ giới bị chấn thương chân đang ngày càng tăng cao mà thủ phạm không ai khác chính là đôi giày cao gót.

Về mặt mỹ học, giày cao gót giúp phụ nữ có dáng đi uyển chuyển mềm mại, làm cho họ trở nên quyến rũ hơn; chưa kể giày cao gót còn cải thiện đáng kể vóc dáng của những người có chiều cao khiêm tốn. Tuy nhiên, việc làm dáng này lại khiến đôi chân phải gồng gánh quá nhiều rủi ro về sức khỏe, không chỉ ở chân mà thậm chí ảnh hưởng đến cổ tử cung.

Theo y học, cấu trúc vòm của bàn chân giúp chúng ta chịu đựng được trọng lực cơ thể một cách dễ dàng khi đứng thẳng. Việc đi giày cao gót sẽ khiến trọng lực của cơ thể đổ về phía trước, phá vỡ cấu trúc này, áp lực dồn vào các ngón chân dễ dẫn đến đau các ngón chân. Ngoài ra, để giữ được thế thăng bằng khi trọng tâm của các bộ phận ở phần dưới cơ thể hướng về phía trước, các bộ phận phía trên cơ thể sẽ phải duy trì sự cân bằng, làm cho cơ bắp thêm mệt mỏi, dễ ảnh hưởng đến vùng thắt lưng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân phổ biến gây đau lưng, thậm chí đau lưng mãn tính. Mặt khác, gót chân và mắt cá chân luôn trong tình trạng bị thắt chặt lại khi mang giày cao gót có thể dẫn đến tình trạng viêm và đau chân.


Giày cao gót có thể trở thành mối đe dọa cho sinh hoạt tình dục và sinh sản của chị em BS Nguyễn Văn Quang, BV Hồng Đức 3 cho biết, cả Đông y lẫn Tây y đều cảnh báo khi đi giày cao gót, vì khi gót chân ở vị trí cao hơn so với mũi bàn chân, chân phải trực tiếp chịu sức nặng cơ thể, mô mềm gan bàn chân dù có tác dụng như một “đòn” giảm sốc cũng không thể chịu đựng được tải trọng quá lớn một cách thường xuyên. Sự gồng gánh này gây nên tình trạng chấn thương kéo dài. Trường hợp nhẹ thì bàn chân, ngón chân dễ bị chai sạn. Nặng hơn có thể xuất hiện hiện tượng gai xương gót. Ngoài ra, khi mũi chân bị bó hẹp trong mũi giày nhọn ở phần đầu, các ngón chân (nhất là chân cái) sẽ bị vẹo ra ngoài, các ngón khác dễ bị thoái hóa sớm, hoặc biến dạng khoằm xuống, dễ kéo theo các bệnh về móng như móng chân mọc ngược vào thịt, bị nấm móng…

Các phần khác của cơ thể như đầu gối, cẳng chân, bắp đùi cũng là những nơi bị ảnh hưởng xấu. Đi giày cao gót có thể khiến bạn cảm thấy bị chuột rút bởi các cơ bị giãn ra. Phụ nữ dễ bị bệnh phù chân, bị nghẽn mạch máu, thêm vào đó là tình trạng nghẽn tĩnh mạch và bệnh cellulite. Đầu gối còn có thể mắc chứng viêm khớp.

Mới đây, các bác sĩ Anh đã đưa ra thêm một cảnh báo đối với những đôi giày cao gót trên 5cm, là nếu thường xuyên sử dụng, có thể trở thành mối đe dọa cho sinh hoạt tình dục và sinh sản vì mang giày thường xuyên, bộ máy “nội tạng” cũng bị ảnh hưởng tiêu cực. Hoạt động của hệ thống niệu sinh dục có thể bị nguy hại dẫn tới những thay đổi của cơ quan bên trong. Kết quả có thể xảy ra là sự lãnh cảm vì máu lưu thông không đều đến khu vực xương chậu. Khả năng khác là làm cho khung xương chậu bị nghiêng sang một bên, là nguyên nhân gây rối loạn kinh nguyệt, đau bụng mỗi khi hành kinh và giảm một số chức năng của bụng, dẫn đến khả năng thụ thai kém. BS Quang nói, lưng ong gót sen là biểu hiện cho hoạt động của vùng dưới cơ thể - đặc biệt là của thận và bộ phận sinh dục mạnh vững. Khi các cơ quan đó tốt, gót chân mới đỏ hồng, không bị nứt, không bị vẹo, hai chân linh hoạt, vững vàng.

Tuy nhiên, có một số ý kiến cho rằng, nếu mang giày cao vừa phải, phù hợp, với thời gian ít, có thể cũng là cách rèn luyện giúp cơ xương chậu dẻo dai hơn… Khoa học đã chứng minh: một đôi giày đế cao từ 2 - 4cm và có đường kính gót từ 3 - 5cm có thể an toàn cho đôi chân của bạn. Nếu bạn có chiều cao khiêm tốn, nên chọn loại giày cao đều chứ không chỉ cao ở phần gót.

Theo huấn luyện viên thẩm mỹ Anh Đào (Trung tâm thẩm mỹ Anh Đào - Q.Phú Nhuận, TP.HCM), chỉ nên sử dụng giày cao gót trong những dịp lễ tiệc đặc biệt và không nên mang giày cao quá bốn giờ. Thường xuyên thể dục tư thế đứng khi mang giày cao gót và thay đổi tư thế đứng - ngồi để không làm chân mệt mỏi. Ngoài ra, ngâm chân trong nước ấm, nước muối, thảo dược, massage nhẹ nhàng từ dưới bàn chân lên đến đầu gối cũng có tác dụng làm mềm chân, kích thích huyệt đạo, thúc đẩy lưu thông máu và làm thư giãn đôi chân

Theo Ngọc Tú
PNO

Bài 3. Khi giày dép đe dọa sức khỏe bàn chân



Có một thực tế là, những đôi giày cao gót hay những đôi sandal điệu đà, dù rất đẹp và làm tôn dáng cho bạn nhưng lại đem lại những cơn đau khó chịu.

Bàn chân con người sinh ra không phải để đem bó buộc trong những đôi giày. Đó có phải là cái giá của sắc đẹp? Chúng đem lại những cơn đau cho ngón chân, bàn chân cho đến những cơn đau trên cột sống. Nhưng chúng ta lại không thể sống mà thiếu chúng. Có một vài cách để kiểm soát những cơn đau mà đôi giày mang lại cho bạn.

Giày cao gót

Các chuyên gia y tế gọi đôi giày cao gót là "cái giá đắt nhất" cho sắc đẹp. Phải công nhận một điều đôi giày cao gót làm tôn dáng cho người phụ nữ, khiến họ trở nên quyến rũ hơn, đẹp hơn. Nhưng đôi giày cũng để lại những tác hại không nhỏ cho sức khỏe của đôi chân.

Không ít lần, các bác sĩ đã phải nghe những lời than phiền về đôi chân của người bệnh. Họ cảm thấy "đau mỏi" và cần được chữa trị gấp. Tuy nhiên, đa phần những cơn đau đó đã xuất hiện từ lâu nhưng đến khi không thể chịu được nữa, họ mới đến bệnh viện kiểm tra. Tìm hiểu nguyên nhân, các bác sĩ phát hiện ra rằng, nguyên nhân gây bệnh lớn nhất chính là những đôi giày cao gót đẹp đẽ đó.

Trước hết nói về chiếc gót giày. Tiến sĩ Helen Crawford của Trung tâm điều trị các bệnh về xương (Mỹ) cho biết, chiếc gót giày cao và nhọn hoắt khiến cho các phần của bàn chân bị kéo căng về những hướng khác nhau. Và mắt cá chân phải chịu đựng tất cả sự kéo căng đó cũng như toàn bộ trọng lực của cơ thể dồn vào trung tâm của mắt cá.
Sự kéo căng đó tạo nên những áp lực không giống tự nhiên. Điều này dẫn đến sự xuất hiện của những cục chai, những cơn đau ở nửa bàn chân trước và bệnh sẹo xương. Nặng nề hơn là ảnh hưởng đến cột sống. Tuy nhiên, để giảm độ cao của chiếc gót giày, bạn không thể làm ngay tắp lự. Trong một thời gian dài, các cơ bàn chân, cẳng chân, cơ đùi đã quen với chiếc gót cao nên chúng cần một khoảng thời gian để làm quen với những độ cao thấp hơn. Bạn nên giảm từ từ độ cao của giày. Ví dụ từ 10 phân xuống 7 rồi 5 rồi 3 phân. Cách giảm này sẽ không ảnh hưởng đến các vùng cơ kể trên.

Chiếc mũi giày cao gót cũng để lại những tác hại không kém. Mũi giày nhọn khiến cho những ngón chân phải "chen chúc" trong một không gian chật hẹp. Viện Trung y Nam Kinh đã từng tiếp nhận một bệnh nhân nữ với ngón chân cái quặp hẳn vào bên trong.

Bệnh nhân cho biết, chị thường xuyên đi giày cao gót, thường là 10 phân trong 15 năm. Vài năm trước, ngón chân cái của chị rất đau nhưng do ngại nên không đi khám. Khám trực tiếp, ngón chân cái của chị quặp hẳn vào ngón bên cạnh. Trên ngón út xuất hiện vết chai. Trên phim Xquang, xương ngón chân cái bị vẹo. Nguyên do là bị bó buộc trong không gian hẹp quá lâu. Bệnh nhân phải trải qua một cuộc tiểu phẫu để sắp xếp lại xương ngón chân.

Và sau đó, chị buộc phải đi những đôi giày rộng hơn, êm hơn để đảm bảo căn bệnh không tái phát. Bác sĩ Chương, Viện Trung y Nam Kinh giải thích, khi bạn di chuyển, bàn chân di chuyển theo và những ngón chân đưa sâu hơn vào trong mũi giày. Trong không gian bó buộc, ngón chân cái có xu hướng quặp hẳn vào trong thay vì nằm đúng vị trí. Ở giai đoạn sớm, người bệnh phải tập những bài tập trị liệu để đưa ngón chân về vị trí cũ. Nhưng ở giai đoạn muộn như bệnh nhân kể trên, họ cần phải phẫu thuật để đưa ngón chân về đúng vị trí.

Tuy nhiên, không phải vì chiếc giày cao gót gây hại cho sức khỏe mà bạn từ bỏ hẳn nó. Hãy giảm bớt độ cao của giày và bạn vẫn có thể có vẻ quyến rũ như bạn mong muốn. Trong trường hợp vẫn thường xuyên sử dụng giày cao gót, hãy cố gắng để thư giãn đôi chân khi có dịp.
Ngoài ra, bạn có thể tập bằng cách đứng trên một chân trong vài phút mỗi ngày. Vào các buổi sáng hoặc tối, bạn cũng có thể tập bài tập: hay tay chống vào tường, một chân làm tựa phía trước, chân kia duỗi thẳng hết sức ra phía sau. Hoặc khi ngồi trên ghế, bạn cũng có thể tháo giày, duỗi thẳng chân, kéo căng phần cơ bắp chân một cách từ từ rồi thả lỏng để phần cơ được thư giãn.

Giày trệt

Nhiều người cho rằng giày đế bằng hay giày trệt là lựa chọn tối ưu nhất cho đôi chân. Không cao gót thì không có vấn đề gì. Tất nhiên, chúng dễ dàng hơn rất nhiều cho những chuyến lang thang shopping. Nhưng, đến khi chúng bắt đầu có xu hướng rộng ra, mọi việc không như bạn nghĩ. Và khi đó, giày đế bằng không phải là lựa chọn tối ưu nhất cho đôi chân.

Tiến sĩ Helen giải thích, giày trệt hay còn gọi là giày balê gây ảnh hưởng đến chân không nhỏ. Chiếc đế bằng phẳng và vùng da bao quanh giày khiến chân bị đau và có những cơn nhói nhói vùng mũi chân và gót chân. Hơn nữa, những đôi giày này thường không có quai đeo.
Để giữ giày, bàn chân dùng các ngón chân và vùng cơ phía gót để giữ chặt giày. Lực giữ này càng tăng khi giày càng rộng. Và khi đó, vùng gót chân, ngón chân út thường xuyên hiện những vết phồng rộp hoặc bị bong gân vùng mắt cá chân. Ngoài ra, các cơ bàn chân phải làm việc vất vả hơn trong cả ngày khiến cho chân thường xuyên bị chuột rút.
Tiến sĩ Helen khuyên rằng, cũng giống như giày cao gót, bạn nên chọn những đôi giày trệt mũi rộng hơn để tạo không gian "rộng rãi" hơn cho những ngón chân. Hơn nữa, những đôi giày trệt cũng nên có quai đeo để cho các cơ của bàn chân được thư giãn đôi chút dù những chiếc quai đeo này không tiện lợi cho việc tháo giày.

Sandal

Đôi khi, sandal được chị em lựa chọn thay thế cho những đôi giày trong việc tạo dáng, nhất là vào những ngày hè oi nóng. Tuy nhiên, nghiên cứu của tiến sĩ Helen cho thấy, việc để bàn chân phơi trần quá nhiều ảnh hưởng đến da chân hay nhiễm trùng móng chân...

Việc phơi bàn chân dưới tác động của gió, của ánh sáng khiến cho da khô hơn. Tác động tồi tệ nhất là tác động đến gót chân, khiến chúng trở nên xù xì, thô ráp. Tất nhiên, những loại kem dưỡng gót chân có thể giúp bạn giải quyết vấn đề này nhưng tốt nhất là sử dụng các loại sandal có bao phần gót để bảo vệ gót chân.

Đôi sandal cùng làm tăng nguy cơ bị những chấn thương không đáng có. Không có gì bảo vệ, đôi chân rất dễ bị những "vật lạ" tấn công. Đôi khi do sơ ý, bạn hoặc những người xung quanh có thể bất ngờ làm rớt đồ đạc vào chân. Hay khi đi lại, bạn không để ý và khiến ngón chân bị vấp vào bàn... Khi đó, có thể ngón chân chỉ bị đau nhưng cũng có thể khiến móng chân bị bật ra và chảy máu.

Cũng có khi, chỉ do đi lại nhiều với sandal, bạn bị vi khuẩn xâm nhập vào các kẽ chân. Nếu không vệ sinh thường xuyên và đúng cách, những vi khuẩn này phát triển nhanh chóng và làm cho móng chân của bạn bị nhiễm trùng...

Giày bịt mũi

Những đôi giày bịt mũi này cũng đem lại những rắc rối cho đôi chân hơn những kiểu giày khác. Những cơn đau do chúng đem lại cũng gây khó chịu cho thân chủ. Tiến sĩ Helen cho biết, đôi khi, chị em thường mua giày nhỏ hơn một cỡ so với chân mình để có cảm giác đôi giày vừa vặn hơn và vẫn tiếp tục sử dụng được khi giày bị rộng ra.

Khi đó, đôi chân bị bó buộc, máu không lưu thông được nhiều khiến chân bị mỏi nhanh hơn, gót chân đau và xước nhiều hơn. Các ngón chân bị bó buộc nhiều hơn. Còn khi giày đã rộng ra, những cơn đau lại giống như đôi giày cao gót mà bạn thường mang. Các cơn đau mỏi, những khối chai chân và có khi là những ảnh hưởng đến cột sống.

Lời khuyên mà tiến sĩ Helen dành cho bạn là, hãy chọn cho mình những đôi giày vừa vặn, thích hợp cho từng tình huống bạn cần. Khi mua giày, hãy đi thử đôi giày trong vài phút để cảm nhận những tác động của gót giày, vùng da bao quanh giày, mũi giày đến đôi chân... Ngoài ra, bạn cũng nên tích trữ những sản phẩm chăm sóc da chân tại nhà để mỗi khi chân mệt, bạn có thể để chân được thư giãn.

Theo Tiêu Dùng

Bài 4. Hiểm họa từ giày cao gót và áo quần "thiếu vải"



Không chỉ có giày gót cao, ngay cả dép bệt xỏ ngón, túi xách to cũng không hoàn toàn tốt cho sức khỏe

Những mốt thời trang như giày cao gót, dép bệt xỏ ngón, túi xách quá khổ... luôn được chị em phụ nữ và cả giới trẻ ưa chuộng. Những thiết kế mẫu mã này tuy đẹp, hiện đại nhưng lại tiềm ẩn nhiều mối nguy hại cho sức khỏe

Hại sức khỏe vì giày, dép

Giày gót cao giúp người mang nó trông như cao hơn, dáng đẹp hơn, làm tăng thêm vẻ đẹp của chị em phụ nữ. Trên thực tế, đây là loại giày gây hại đến sức khỏe nhiều nhất. Nếu mang thường xuyên sẽ gây ra các triệu chứng đau lưng và ảnh hưởng đến cột sống.

Bác sĩ Võ Văn Sĩ, Trưởng Khoa Cột sống B Bệnh viện (BV) Chấn thương Chỉnh hình TPHCM, cho biết: “Khi mang giày cao gót, khung xương chậu dễ bị nghiêng do trọng tâm cơ thể đổ dồn về phía trước, cột sống phải cố gắng điều chỉnh nên có nguy cơ bị ưỡn về phía trước nhiều hơn”. Bác sĩ Phan Vương Huy Đổng, Phó Chủ tịch Hội Y học Thể thao TPHCM, cũng khuyến cáo: “Mang giày gót cao còn làm đau gối, đau các ngón chân, đặc biệt là đau ngón cái vì trọng lực cơ thể dồn lên các ngón chân nhiều hơn”.


Những đôi dép bệt tạo sự thoải mái và tiện lợi khiến nhiều bạn trẻ “lạm dụng”. Việc làm tưởng như vô hại này lại vô tình khiến đôi chân trở nên “mệt mỏi” hơn, làm cho lòng bàn chân trở nên đau nhức. Bác sĩ Võ Văn Sĩ cho rằng vì cấu tạo lòng bàn chân của chúng ta hơi lõm nên dép đế bằng lại quá thấp sẽ phải chịu sức nặng của cơ thể, không thể giúp chân nâng cơ thể. Vì thế, lòng bàn chân dễ bị tổn thương, nhức mỏi nhiều hơn nếu lúc nào cũng mang loại dép bệt.

Túi xách lớn, mối nguy lớn

Hiện nay, các loại túi xách cỡ to cũng được chị em phụ nữ ưa chuộng. Những loại túi xách này thường mang một bên vai nên trọng lượng sẽ đổ dồn về một phía. Do đó, bác sĩ Phan Vương Huy Đổng cảnh báo: “Những loại túi này sẽ làm đau vai, đau cổ và đau lưng. Không những thế nó còn làm mất thăng bằng sinh lý cột sống vì cơ thể chỉ phải chịu lực ở một bên”.

Bên cạnh đó, những loại túi xách lớn khiến chị em phụ nữ có thói quen ôm đồm cho vào nhiều thứ, nhất là đối với nữ giới văn phòng. Hành động này góp phần làm cho chiếc túi trở nên nặng hơn, chứa nhiều “mối nguy hiểm” hơn. Công việc ở văn phòng đòi hỏi phải thường xuyên ngồi một chỗ nên dễ gây những cơn mỏi mệt, đau nhức. Do đó, khi phải mang những túi lớn khiến những cơn đau kéo dài hơn, đau buốt hơn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.

Đặc biệt loại túi này không thích hợp với các bạn trẻ tuổi mới lớn. Theo bác sĩ Võ Văn Sĩ, ở độ tuổi này các em phát triển chưa hoàn thiện, xương còn yếu nên mang túi to một bên dễ làm tổn thương đến cột sống, thậm chí nặng có thể làm lệch vai, vẹo cột sống.

Nguy cơ ung thư từ quần áo “thiếu vải”

Với thời tiết nắng nóng ở nước ta, hiện nay những loại áo hai dây, áo ống, váy ngắn, quần soóc... đã trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi. Nhiều người mặc những kiểu quần áo này khi đi trên phố vì nó tạo cảm giác mát mẻ lại rất thoải mái. Hơn nữa, loại áo quần này còn tạo nên vẻ đẹp quyến rũ cho phụ nữ.

Tuy nhiên, quần áo “thiếu vải” lại quá hở nên nhiều vùng da trên cơ thể dễ dàng tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời. Giáo sư – bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng, Chủ tịch Hội Ung thư TPHCM, cho biết: “Nếu để da phơi nắng nhiều, lâu và thường xuyên dưới ánh nắng gay gắt, nhất là vào thời điểm từ 10 giờ đến 14 giờ, tia cực tím sẽ làm da bị bỏng rát, gây tổn thương da, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ung thư da”.

Ngoài ra, các bạn nữ cũng nên chú ý tránh mặc thường xuyên quần jeans bó sát vì nó có thể ảnh hưởng đến “vùng kín”. Thạc sĩ – bác sĩ Đặng Lê Dung Hạnh, BV Hùng Vương TPHCM, khuyên: “Quần jeans bó sát cơ thể không gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản nhưng nó làm bí, hầm hơi dễ gây viêm nhiễm và một số bệnh phụ khoa”.

Thời trang đẹp nhưng phải “thân thiện”

Theo bác sĩ Phan Vương Huy Đổng, thời trang dù đẹp nhưng phải “thân thiện” nhằm bảo đảm sức khỏe. Do đó, các bạn nữ nên lựa chọn những kiểu thiết kế phù hợp để cơ thể vừa khỏe mạnh lại vừa duyên dáng. Nên chọn những loại giày, dép có đế vừa, không quá cao hoặc quá thấp. Những loại này phải phù hợp với lòng bàn chân, phải ôm sát chân, đế mềm, chất liệu nhẹ, độ bám tương đối để tránh đau các khớp ngón chân và không bị chai sần. Với những túi xách không nên chọn loại quá khổ so với cơ thể, tránh mang quá nặng để khỏi ảnh hưởng đến vai và cột sống. Nếu mang nặng tốt nhất nên chọn ba lô để cân bằng trọng lượng hai bên vai. Đồng thời, nên thường xuyên tập những động tác thể dục để tránh gây nhức mỏi, giữ sức khỏe luôn tốt.

Theo Kim Đoan
Nld

Bài 5. Giày đế bằng đôi khi hại chân hơn giày cao gót



Đối với một số người, đi giày cao gót lại có lợi cho sức khỏe hơn giày đế bằng. Có hẳn một công thức để nhận biết bạn hợp với loại giày nào hơn.

Những đôi giày dép cao gót được cho là thủ phạm đem tới nhiều vấn đề về sức khỏe cho phụ nữ, từ viêm tấy ngón chân cho đến đau lưng. Tuy nhiên, dép đế bằng không hẳn lúc nào cũng tốt.

Một nghiên cứu mới đây của Mỹ khẳng định, những đôi giày thể thao có thể tạo áp lực lên các khớp xương chân nhiều hơn giày cao gót quyến rũ. Trên thực tế, nếu như bạn sinh ra đã là một “tín đồ” của giày cao gót thì chính việc cố gắng đi giày dép đế bằng như giày tập hay giày múa ballet sẽ đi ngược lại kiểu bàn chân tự nhiên và sẽ khiến cho chân bạn “căng thẳng”.

Mỗi phụ nữ đều có một con số hoàn hảo cho giày cao gót, tùy thuộc vào cấu trúc đôi bàn chân. Khi mua giày dép, nếu chị em chú ý tới đặc điểm này sẽ có thể mua được món đồ thoải mái và vừa lòng nhất.

Theo bà Emma Supple, chuyên gia chữa các bệnh về chân tại trung tâm y tế Supplefeet, phía Bắc London, đồng thời là cố vấn phẫu thuật cho Bộ Y tế Anh, nhiều bệnh nhân tìm đến bà khi gặp các vấn đề ở chân do họ đã đi sai kích thước giày dép. Bà Emma cho biết, đôi bàn chân là một “công trình kiến trúc tuyệt diệu”, với tổng cộng 28 xương. Tại điểm bàn chân kết nối với cẳng chân có một loại xương được gọi là xương sên. Xương sên và phần trên của chân được nối với nhau bằng xương cổ chân, đem lại sự mềm dẻo và uyển chuyển cho mắt cá chân. Kích thước của xương cổ chân ở mỗi người là khác nhau và điều này quyết định độ co giãn của mắt cá chân cũng như quyết định độ cao lý tưởng cho giày dép của bạn.

Đối với một số phụ nữ có hốc xương cổ chân ở mức trung bình thì độ cao của giày từ 2,5 đến 5 cm là lý tưởng; tuy nhiên, một số khác lại cần đi giày cao khoảng 7,5 cm để đưa bàn chân vào đúng vòng cung. Đối với những người đó, đi giày cao gót sẽ thoải mái hơn giày đế bằng.
Thậm chí, theo bà Emma, những đôi giày cao 10 - 12 cm vẫn có thể chấp nhận được nhưng nếu cao hơn con số đó thì sẽ không tốt cho dáng điệu của người đi, vì nó sẽ làm cho “vòng ba” nhô ra và ngón chân “quá tải”. Những đôi giày cao trên 12 cm chỉ nên đi trong một thời gian ngắn và chúng được tạo ra để ngồi trên xe limo chứ không phải để đi bộ.

Nếu như dáng người của bạn phù hợp với giày cao gót thì không nên đi ngược lại quy luật đó. Khi lớn tuổi, phụ nữ hay đau chân và chuyển sang đi giày đế bằng vì cho rằng nó sẽ giúp bớt đau, nhưng điều đó có thể làm tình hình tồi tệ hơn. Nếu chọn đúng kích cỡ của giày cao gót, nó sẽ giúp hỗ trợ cho cân nặng cơ thể của người đi một cách hợp lý, phù hợp với tư thế tự nhiên của cơ thể.

Hướng dẫn chọn chiều cao thích hợp cho giày dép của chuyên gia Emma.

Để tìm ra được số đo chuẩn cho giày cao gót, bà Emma đã đưa ra một số chỉ dẫn như sau:

- Hãy cởi giày và ngồi xuống ghế, giơ ngang và duỗi thẳng chân một cách thoải mái nhất.
- Nếu bàn chân của bạn ở một góc vuông so với phần chân giơ ngang có nghĩa là trục mắt cá chân của bạn thấp, vì vậy bạn sẽ thoải mái hơn nếu đi giày dép đế bằng.
- Nếu bàn chân của bạn chúc xuống thì bạn cần đo khoảng cách từ đỉnh của ngón chân cái đến gót chân, đó sẽ là số đo lý tưởng cho phần gót giày của bạn.

Theo Phan Anh
Baodatviet/Daily Mail

Hậu quả khi bị cúm trong thời gian thai kì (2 bài)

Nghiên cứu phát hiện đa số bệnh đều có thể thâm nhập vào thai nhi qua nhau thai, khiến thai nhi bị dị hình hoặc chết lưu. Do đó các bà bầu cần thận trọng với các bệnh truyền nhiễm.

Cảm cúm thông thường hay dịch cúm đều do sự truyền nhiễm qua đường hô hấp mà nên. Các biểu hiện của cảm cúm thông thường như nhức đầu, sổ mũi, ngạt mũi, đau họng, ho và đau người v.v... có thể xảy ra ở rất nhiều người. Những triệu chứng này ảnh hưởng không lớn đến thai nhi. Nhưng nếu nhiệt độ cơ thể cứ kéo dài ở 39 độ C thì phải thận trọng vì có thể nó sẽ gây dị hình ở thai nhi.


Dịch cảm cúm là do các vi rút gây bệnh từ nước bọt, mũi và đờm của người bệnh thông qua không khí truyền sang người bình thường, tính lan truyền của nó rất mạnh gây nên bệnh dịch.

Người mắc vi rút truyền nhiễm thường có các biểu hiện như: lúc nóng, lúc lạnh, sốt tương đối cao, đau đầu, toàn thân nhức mỏi, thường thì sau khi hạ sốt sẽ có các triệu chứng như là ngạt mũi, chảy nước mũi, đau họng v.v... khiến cho thể lực của người bệnh tiêu hao lớn và hồi phục chậm.


Vi rút của dịch cúm không chỉ khiến thai nhi bị dị hình, mà khi sốt cao cộng với độc tính của vi rút cũng có thể kích thích co bóp tử cung gây nên hiện tượng sảy thai hoặc sinh sớm.
Qua điều tra trên 56 thai nhi bị dị hình thì có tới 10 thai nhi là do sản phụ đã từng mắc dịch cúm, thai nhi được khoảng 50 ngày tuổi. Do tính chất của dịch cúm là rất mạnh thông thường phải dùng các biện pháp hạ sốt, tiêm, dùng kháng sinh v.v... nên khi sử dụng bắt buộc phải tiến hành theo chỉ thị từ bác sỹ.


Các bà bầu bí cần chú ý đề phòng vi rút truyền nhiễm, nhất là vấn đề dinh dưỡng để tăng cường thể lực, tránh tiếp xúc với những người bệnh, khi có bệnh dịch thì không nên đến những nơi công cộng.

Khi mắc cúm rồi thì cần kịp thời có biện pháp khống chế bệnh dịch lây lan, loại trừ mầm bệnh đồng thời áp dụng các biện pháp hạ sốt thích hợp cho mình như: uống nhiều nước ấm, chú ý nghỉ ngơi, giữ ấm cho cơ thể, v.v...

Các biện pháp hạ sốt thông thường là dùng khăn lạnh hay chườm đá lên vùng trán v.v... không nên dùng thuốc uống hạ sốt để tránh ảnh hưởng đến sản phụ và thai nhi.


Một số trường hợp có thể căn cứ theo chỉ định của bác sỹ để dùng thuốc bắc điều trị. Thuốc bắc rất có hiệu quả trong việc điều trị cảm cúm mà độc tính lại thấp cho nên các lương y cho rằng việc sử dụng thuốc bắc để điều trị bệnh cảm cúm cho phụ nữ mang thai là biện pháp có thể áp dụng được

Theo afamily.com

Khi bà bầu bị cúm…



Bà bầu lưu ý, mùa cúm thường bắt đầu vào tháng 10, tháng 11. Cách tốt nhất để có một thai kỳ khỏe mạnh là phòng ngừa và có hiểu biết đầy đủ về bệnh cúm.

Tại sao phụ nữ mang thai dễ bị cảm lạnh và cảm cúm?

Hệ thống miễn dịch suy giảm hơn khi phụ nữ bắt đầu mang thai khiến họ dễ bị nhiễm trùng, mắc ho, cảm lạnh và cúm.

Làm sao để giảm nguy cơ bị cảm lạnh hay cảm cúm khi mang thai?
Nghiên cứu cho thấy bệnh do virus như cúm và cảm lạnh ở phụ nữ mang thai thường cao gấp 3 lần. Vì vậy, để phòng ngừa bệnh cúm tốt nhất là chủng ngừa.

Mùa cúm th ường bắt đầu vào tháng 10, tháng 11 vì vậy nên tiêm phòng cúm trước đó 3 tháng và cũng trước thời điểm mang bầu 3 tháng.


Ngoài ra, để cơ thể tăng cường hệ miễn dịch bằng chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh.

Hãy ăn nhiều trái cây tươi và rau quả. Các loại vitamin trong trái cây và rau quả có chứa chất chống oxy hóa, chẳng hạn như vitamin C, giúp chống nhiễm trùng.

Trong giai đoạn bạn mang thai, bác sỹ cũng có thể kê các loại thuốc vitamin và khoáng chất bổ sung đặc biệt dành riêng cho bạn.

Cố gắng giảm thiểu căng thẳng, hệ thống miễn dịch cũng sẽ khoẻ hơn khi bạn không hút thuốc hoặc thụ động hít phải khói thuốc.

Các loại thuốc cần tránh sử dụng khi mang thai?

Bạn không bao giờ được tự ý mua thuốc điều trị ở các hiệu thuốc mà cần có sự tư vấn của bác sỹ về sự an toàn của sản phẩm. Nhiều loại thuốc không an toàn trong khi mang thai và có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi như gây dị tật.

Có nhiều loại thuốc kháng sinh an toàn cho thai nhi nhưng một số thì không. Hãy chắc chắn rằng bác sĩ của bạn biết bạn đang mang thai để kê đơn thuốc phù hợp nhất.

Các loại thuốc cần tránh:

Thuốc chống vi-rút như Tamiflu, Flumadine, Relenza, hoặc Symmetrel. Các thuốc này có thể gây ra các nguy cơ khuyết tật bẩm sinh.
Aspirin và ibuprofen. Aspirin có thể gây chảy máu thai nhi còn Ibuprofen chưa được nghiên cứu ở phụ nữ mang thai.

Tiêu đờm guaifenesin và ức chế ho dextromethorphan. Đây là những chất thường thấy trong xi-rô thuốc chống cúm, cảm lạnh và ho. Chúng có liên quan đến các biến chứng khi mang thai trong các nghiên cứu động vật.

Cách nào điều trị ho và cảm lạnh, cúm an toàn khi đang mang thai?
Đó là sử dụng nước muối pha loãng súc miệng và dùng nước muối biển vệ sinh mũi. Nếu sốt thì hạ sốt bằng biện pháp làm mát thông thường. Có chế độ nghỉ ngơi hợp lý và uống nhiều nước để chống cảm lạnh.
Có chế độ ăn uống cân bằng, bao gồm nhiều trái cây tươi và rau quả để cung cấp cho cơ thể các loại vitamin, khoáng chất, carbohydrate, protein và chất béo.

Nếu nghẹt mũi, hãy sử dụng biện pháp xông hơi như sau: Chùm một chiếc khăn lên đầu, đưa bát nước nóng thêm hai hoặc ba giọt tinh dầu bạch đàn, bạc hà và xông trong 15 phút, bạn sẽ thấy dễ thở hơn.
Nếu bạn có các triệu chứng của bệnh cúm, sốt, đau đầu, ớn lạnh, cơ thể đau nhức, mệt mỏi, chán ăn, háo nước, đặc biệt là nếu bạn bị sốt, để tránh mất nước, hãy uống các loại nước ép trái cây giàu vitamin C như nước cam để tăng cường sức đề kháng.

Một thức uống nước nóng với chanh và mật ong sẽ giúp làm dịu đau họng. Ăn các loại thức ăn bổ dưỡng để cơ thể không bị suy kiệt như súp gà, cháo gà ngải cứu, tía tô…

Theo Dân trí

Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2011

7 mẹo "xoá sổ" ốm nghén khi mang thai

Bị ốm nghén là nỗi sợ hãi của những phụ nữ mang thai. Làm thế nào để loại bỏ cơn ốm nghén, giúp cho những ngày mang bầu của bạn dễ chịu hơn.

1. Ăn bánh mì hoặc bánh quy trước khi ra khỏi giường. Hãy để một ít ở đầu giường để khi thức dậy, bạn có thể với tay cho vào miệng.

2. Không nên nhảy xuống giường mà hãy bước xuống một cách từ từ. Như thế, bạn sẽ tránh được nguy cơ bị ốm nghén trong lúc mang thai.

3. Một cách khác để hạn chế ốm nghén là ăn sữa chua, pho mát làm từ sữa đã gạn kem, uống nước quả hoặc sữa trước khi thức dậy hoặc di ngủ.

4. Ăn vài bữa nhỏ trong ngày. Đừng để bụng đói quá lâu trong ngày. Bụng đói sẽ càng khiến bạn dễ bị nghén hơn.

5. Kẹo giảm ốm nghén Preggie Pops hoặc Preggie Drops. Những viên kẹo tự nhiên này sử dụng gừng và nhiều loại thảo mộc để giảm buồn nôn khi thai nghén cũng như chứng khô miệng.

6. Vòng đeo giảm ốm nghén Sea bands: Những vòng đeo tay này có tác dụng hạn chế buồn nôn và nôn mửa.

7. Kẹo bạc hà: Vị bạc hà sẽ xoa dịu cơn đau bụng và giúp giảm bớt cơn nghén. Vì thế, hãy thường xuyên mang theo kẹo trong túi nhé.

Nguồn: http://afamily.vn/suc-khoe/20110413010656848/7-meo-xoa-so-om-nghen-khi-mang-thai/

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2011

Phụ nữ có thai dùng thuốc

Ba tháng đầu là thời kỳ nhạy cảm nhất với các loại thuốc

Ba tháng đầu, thời kỳ mấu chốt để thai nhi phát triển các bộ máy của cơ thể là thời kỳ nhạy cảm nhất dễ bị ảnh hưởng xấu bởi các nhân tố hóa học, lý học, sinh học từ bên ngoài, do vậy thời kỳ này dùng thuốc phải đặc biệt cẩn thận nếu không sẽ dẫn đến sẩy thai hoặc thai bị dị dạng.

Sau khi thụ tinh hai tuần (tức là thời gian trước và sau khi tắt kinh) nếu uống thuốc sẽ xảy ra hai trường hợp: Hoặc là ảnh hưởng nghiêm trọng sinh ra sẩy thai; hoặc là không ảnh hưởng hay ảnh hưởng rất nhẹ và thai nhi tiếp tục phát triển. Sau khi thụ tinh từ ba đến mười tuần các bộ máy của thai nhi đang được định hướng phát triển nên rất dễ bị tổn hại do tác dụng của thuốc. Thời kỳ này được gọi là “thời kỳ nhạy cảm cao độ”, sau thời kỳ này khả năng ảnh hưởng của thuốc với thai nhi dần dần giảm đi nhưng có một số thuốc vẫn ảnh hưởng rất nghiêm trọng với thai nhi vào những tháng cuối cùng.

Sự ảnh hưởng của thuốc với thai nhi còn phụ thuộc vào liều lượng thuốc mà người mẹ uống nhiều hay ít, thời gian uống thuốc dài hay ngắn. Ví dụ, thời gian uống thuốc ngắn, liều cao có thể không gây ảnh hưởng rõ rệt với thai nhi nhưng nếu thời gian uống thuốc dài, liều lượng cao có thể dẫn đến thai nhi bị dị dạng, phát triển chậm, khiếm khuyết công năng hoặc sẩy thai.

Sự ảnh hưởng của thuốc chia thành 5 cấp

Các loại thuốc khác nhau thì mức độ ảnh hưởng cũng khác nhau. Ở nước ta chưa phân loại ảnh hưởng của thuốc với thai nhi, ở Mỹ người ta chia ảnh hưởng của thuốc với thai nhi thành 5 cấp A, B, C, D và X theo mức độ tác hại tăng dần. Theo sự phân loại này thì loại A và B tương đối an toàn với thai nhi. Nhưng cũng là một loại thuốc lại có sự ảnh hưởng khác nhau theo sự phân cấp đó là liều lượng dùng cao hay thấp. Như vậy có thể nói cùng sử dụng một loại thuốc nếu liều lượng và thời gian dùng khác nhau thì mức độ ảnh hưởng sẽ khác nhau rất xa. Đối với người đang mang thai nên hết sức tránh dùng thuốc cấp D và X.

Quan niệm sai lầm của người mang thai

Trên thực tế có rất nhiều loại thuốc ảnh hưởng không tốt đến thai nhi như vậy cấm người mang thai dùng thuốc có phải là kế sách vẹn toàn không? Tất nhiên không đúng như thế vì khi người mẹ bị ốm, bị bệnh thì đều có những ảnh hưởng không tốt đến thai nhi nên phải ngăn ngừa hai quan niệm sai lầm hiện nay:

Thứ nhất, có người mẹ kiên trì không dùng thuốc trong suốt thời gian mang thai, họ cho rằng dựa vào sức đề kháng của cơ thể để chiến thắng bệnh tật. Đương nhiên nếu là bệnh nhẹ thì có thể tự khỏi nhưng nếu bệnh tương đối nặng mà việc chữa trị dây dưa kéo dài thì bệnh không những không khỏi mà càng thêm nặng. Nghiêm trọng hơn nếu bệnh biến chứng trở thành mãn tính thì vừa mất nhiều công sức điều trị vừa ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của thai nhi.

Thứ hai, có người mẹ lại cho rằng mình chịu khổ, chịu đau một chút cũng không sao tất cả là để vì đứa con cưng của mình. Thực ra, cách nghĩ này hoàn toàn sai lầm vì trạng thái của người mẹ và hoàn cảnh trong dạ con quan hệ mật thiết với nhau nếu người mang thai bị bệnh thì làm sao bảo đảm rằng thai nhi vẫn phát triển khỏe mạnh? Cho nên khi người mang thai bị bệnh không nên để cho họ không chữa trị mà phải đến các bệnh viện chuyên khoa tư vấn để có biện pháp dùng thuốc đúng và hợp lý. Đối với người có bệnh mãn tính như cao huyết áp, bệnh tiểu đường, bệnh tim, bệnh cường tuyến giáp… Trước khi mang thai cần đến bệnh viện tư vấn để sớm điều chỉnh phương án chữa trị, còn đối với người có các loại bệnh cấp tính hoặc bệnh có thể chữa trị trong một thời gian nhất định thì nên chữa trị khỏi bệnh sau đó mới mang thai như vậy khi mang thai không còn phải lo lắng gì.

Người mang thai bị cảm

Bệnh mà người mang thai thường mắc phải là bị cảm gió, khi bị cảm nên chữa trị như thế nào? Nếu là bị cảm nhẹ thì người mẹ nên uống nhiều nước nóng, chủ ý nghỉ ngơi và uống vitamin C. Nếu bệnh hơi nặng đặc biệt là người sốt cao thì phải uống thuốc chữa trị. Khi dùng thuốc nên dùng một số loại thuốc giải cảm Đông y cùng với vitamin C và nên ăn nhiều hoa quả có hàm lượng vitamin C cao.

Hãy nguyên tắc dùng thuốc khi mang thai

Thời kỳ mang thai dùng thuốc nên tuân theo bảy nguyên tắc sau:

1. Phải thật thận trọng khi dùng thuốc.

2. Người có bệnh phải chữa trị bệnh trước khi mang thai.

3. Thời kỳ mang thai nếu phải dùng thuốc thì hết sức ít dùng nhất là ba tháng đầu.

4. Thời kỳ đầu nếu đã dùng thuốc mà kiểm tra thấy thai nhi bị dị dạng tốt nhất là nên đình chỉ mang thai.

5. Thời kỳ mang thai nếu người mẹ bị bệnh phải nên chữa trị kịp thời.

6. Nếu phải dùng thuốc nên chọn dùng loại thuốc đã được tư vấn thừa nhận, hết sức tránh dùng những loại thuốc mới.

7. Thuốc Đông y thì nên theo hướng dẫn với người có thai “thận trọng” hoặc “cấm dùng”./.

Theo Tri thức trẻ

Tại sao bà bầu cần đo đường huyết?

50% bà mẹ bị tăng đường huyết trong ba tháng cuối của thai kỳ

Ai cũng rõ thai phụ cần được cung cấp nhiều dưỡng chất trong suốt giai đoạn 9 tháng mang thai. Bên cạnh chất đạm và chất béo rất cần thiết cho sự tăng trưởng bình thường của thai nhi, thai phụ cần được cung cấp đủ các dưỡng chất khác như canxi, sắt, vitamin A, acid folic…. Trong suốt thai kỳ để vừa tránh trục trặc khi lâm bồn, vừa bảo đảm điều kiện phát triển tối ưu cho hệ miễn nhiễm và các giác quan của thai nhi. Thai phụ vì thế cần ăn nhiều hơn bình thường nhưng cần lưu ý không nên ăn quá nhiều đường. Điều sai lầm này nhiều thai phụ thường mắc phải, bởi họ thèm ăn ngọt trong lúc ốm nghén.


Thai phụ cần tránh tăng cân đến ngưỡng béo phì vì điều đó sẽ gây nhiều khó khăn khi khai hoa nở nhụy. Nói chung, thai phụ cần ăn sao cho đủ nhưng đừng tăng hơn 1 kg mỗi tháng trong 6 tháng đầu, đừng hơn 500 g mỗi tuần trong 3 tháng cuối. Thêm vào đó, bà bầu cũng không nên ăn quá ngọt nhằm phòng tránh tình trạng thai nhi béo phì ngay từ trong bụng mẹ.

Chính vì thế, cần kiểm soát đường huyết cho thai phụ, tối thiểu mỗi tháng một – hai lần trong 6 tháng đầu của thai kỳ.

Nhiều công trình nghiên cứu về bệnh tiểu đường thời gian gần đây cho thấy, không ít thai phụ bị tăng đường huyết trong năm tháng cuối của thai kỳ. Hội chứng này được đặt tên là “bệnh tiểu đường do mang thai”, dù thai phụ không mạnh miệng với bánh kẹo, chè, mứt. Sở dĩ bệnh này xảy ra là vì rối loạn nội tiết tố khi mang bầu khiến insulin, nội tiết tố của tụy tạng có nhiệm vụ điều chỉnh đường huyết, bị phong bế hoạt tính.

Thầy thuốc sản phụ khoa vì thế phải kiểm soát kỹ đường huyết của thai phụ để kịp thời can thiệp bằng thuốc tiêm, hay điều chỉnh chế độ dinh dưỡng và vận động phù hợp. Thai phụ có thể trang bị máy đo đường huyết cá nhân để tự theo dõi lượng đường trong máu. Nên nhớ, bệnh tiểu đường không được phát hiện là một trong các lý do dẫn đến sinh khó, thậm chí gây sảy thai.

Thông thường thì đường huyết của thai phụ trở lại định mức bình thường trong vòng một tuần sau khi vượt cạn. Tuy nhiên, có không dưới 50% bà mẹ bị tăng đường huyết trong ba tháng cuối của thai kỳ lại dễ mắc bệnh tiểu đường trong vòng 8 – 10 năm sau đó! Nhiều thai phụ vì thế trở thành nạn nhân của bệnh tiểu đường một cách oan uổng. Sản phụ cần được tiếp tục theo dõi đường huyết định kỳ, đồng thời với việc áp dụng chế độ dinh dưỡng và vận động hợp lý nhằm ngăn chặn bệnh tiểu đường. Nếu ai cũng có thể bị bệnh tiểu đường thì nguy cơ đó càng đáng lo hơn đối với các bà mẹ.

Chính vì thế, người muốn làm mẹ, sắp làm mẹ và đã làm mẹ không nên xem thường bệnh tiểu đường để phòng ngừa căn bệnh “già không bỏ, nhỏ không tha” này./.

Theo Phụ nữ TPHCM

Cần hiểu đúng về dưỡng thai

Cụm từ “dưỡng thai” có nguồn gốc từ niềm tin cho rằng một số thực phẩm hay một số thuốc có tác dụng bổ dưỡng cho thai.

Điều này đúng nhưng chưa toàn diện vì dưỡng thai bao gồm nhiều biện pháp để giúp cho thai phát triển lành mạnh cả về thể chất và tâm trí:

- Một chế độ dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý cho người mẹ để thông qua hệ tuần hoàn nhau – thai cung cấp cho thai mọi chất cần thiết.


- Một cuộc sống không có stress (không ưu phiền, không bị bạo hành).

- Làm việc và nghỉ ngơi hợp lý.

- Được kiểm soát tốt những bệnh lý đã có hay mới xảy ra trong khi có thai.

Chỉ một trong các yếu tố nói trên có khiếm khuyết cũng đã tác động không tốt đến thai.

Vì sao chế độ dinh dưỡng đủ của người mẹ mang thai lại có ý nghĩa dưỡng thai?

Nói đến dưỡng thai không nên hiểu chỉ là chế độ dinh dưỡng cung cấp cho người mẹ trước và trong thời gian thai nghén mà cả sau khi sinh. Đó là những yếu tố chủ yếu giúp cho sự phát triển có chất lượng của thai và trẻ sơ sinh; một số chất dinh dưỡng còn có tác dụng giảm tỷ lệ bệnh và tử vong cho trẻ thông qua chế độ ăn của người mẹ.

Mối liên quan giữa dinh dưỡng và thai nghén đã được chứng minh và nhận thấy, phụ nữ mang thai không ăn uống đầy đủ quá 8 tuần thì con sinh ra có tỷ lệ tử vong hay bệnh tật cao hơn những phụ nữ có chế độ ăn cân đối, vì trẻ sinh ra từ những bà mẹ được nuôi dưỡng tốt này không bị hạn chế về phát triển khi còn trong bụng mẹ.

Không chỉ những bệnh về thể chất có liên quan đến chế độ dinh dưỡng trước và trong khi có thai mà cả những bệnh tâm trí và những khuyết tật cũng là những nguy cơ khi các bà mẹ thiếu dinh dưỡng - một tình trạng có thể làm cho trẻ dễ bị bệnh thoái hoá thần kinh (mà hệ luỵ có thể xảy ra là kém phát triển tâm trí).

Dưỡng thai cần thiết từ khi nào?

Ngay từ khi chuẩn bị có thai vì sự thiếu hụt folic acid gây ra khuyết tật ở ống thần kinh có thể xảy ra ngay cả khi người phụ nữ chưa biết mình có thai, cho nên cần bổ sung sớm acid folic (uống 400 microgram mỗi ngày) khi có ý định mang thai.

Khi mới thụ thai (gọi là phôi) và vài tuần sau đó là giai đoạn rất dễ bị tổn thương, đó là thời kỳ bắt đầu phát triển của các cơ quan và hệ thống của thai. Chính năng lượng để tạo nên hệ thống này là từ các chất dinh dưỡng lưu hành trong máu mẹ và từ nội mạc tử cung, vì thế dinh dưỡng đầy đủ khi có thai có ý nghĩa quan trọng.

Cách thức dưỡng thai tốt

Để thai phát triển tốt, phụ nữ mang thai cần tăng thêm một số lượng calo khoảng 300 calo mỗi ngày (người phụ nữ lao động nặng mỗi ngày cần khoảng 2.800 calo). Một số phụ nữ có thai lại có xu hướng “ăn cho hai người”, như thế có thể bị tăng cân quá nhiều.

Mặc dù một chế độ ăn cân đối có thể đáp ứng hầu hết những nhu cầu dinh dưỡng cho phụ nữ có thai, nhưng nhiều chuyên gia về dinh dưỡng vẫn khuyên dùng thêm vitamin, chất khoáng, đặc biệt là sắt và acid folic.

Sắt: Nhu cầu về sắt khi có thai tăng gấp đôi, từ 15 – 30mg mỗi ngày. Gan và thịt có màu đỏ rất nhiều chất sắt; ngoài ra có trong thịt gia cầm, cá, hoa quả, rau ngũ cốc, trứng.

Acid folic: Có vai trò quan trọng trong sự phát triển tế bào, để phòng sảy thai, đẻ non, phong huyết tử cung – nhau. Nhiều loại rau quả có chứa acid folic, 300 microgram mỗi ngày. Ngoài ra, cũng cần bổ sung nhiều chất khác suốt thời kỳ mang thai như các loại vitamin, protein, magiê nếu có chỉ định của bác sĩ./.

Theo Sức khoẻ và đời sống

Dấu hiệu sớm nhất có thai

Mất kinh, mệt mỏi và những thay đổi như hay chóng mặt, xúc động, buồn nôn,... là những dấu hiệu sớm nhất để người phụ nữ nhận biết mình đã có thai.

Khi đó bạn nên đến các cơ sở y tế chuyên khoa để khám và được tư vấn những kiến thức về chăm sóc sức khỏe cho cả mẹ và thai nhi trong suốt thời kỳ mang thai cũng như sinh nở được an toàn.


Mất kinh

Đây là dấu hiệu đầu tiên của thời kỳ thai nghén. Tuy nhiên, nếu các kỳ kinh của bạn không đều hoặc nếu bạn căng thẳng, làm việc quá sức cũng có thể gây chậm kinh. Bạn cũng có thể ra một chút máu xung quanh thời điểm bạn thường có kinh sau khi bạn đã thụ thai. Ra máu rải rác hay ít có thể là báo hiệu đầu tiên về tình trạng có thai. Ra máu ít không giống như chu kỳ kinh nguyệt bình thường mà do trứng làm tổ ở nội mạc tử cung gây ra.

Sự thay đổi của ngực

Khi có thai bạn sẽ có cảm giác căng hai đầu vú, vú nhạy cảm hơn, dễ đau khi đụng chạm. 2 tuần sau khi thụ tinh, vú và núm vú bắt đầu to ra, quầng vú cũng sẫm màu hơn. Dấu hiệu này là do sự gia tăng các hormon trong các tuần lễ đầu tiên khi cơ thể bạn chuẩn bị nuôi dưỡng thai nhi.

Mệt mỏi

Hầu hết phụ nữ mới có thai đều cảm thấy mỏi mệt. Đó là do sự gia tăng hooc môn progesterone trong cơ thể. Ngoài ra do cơ thể phải tạo ra nhiều máu hơn để đem chất dinh dưỡng đến cho thai. Vì thế tim phải làm việc nhiều hơn để thích ứng với sự tăng cung lượng máu, gây ra cảm giác mệt. Tuy nhiên, có một số ít người hoàn toàn cảm thấy không mệt mỏi.

Hay chóng mặt, buồn nôn, dễ xúc động

Vì lúc này cơ thể phải tăng lượng tuần hoàn nên bạn có thể sẽ cảm thấy chóng mặt, đặc biệt khi hoạt động mạnh hoặc thay đổi tư thế nhanh. Có cảm giác buồn nôn hoặc nôn khi thấy hoặc ngửi thấy mùi một số thứ như rượu, cà phê, thuốc lá, cá... và thèm ăn đồ chua, ngọt,... Có một số người có cảm giác như bị ốm. Hiện tượng này có thể bắt đầu một vài tuần sau khi thụ thai hoặc thậm chí chỉ sau vài ngày. Ngoài ra khi có thai người phụ nữ thường hay dễ xúc động, thay đổi tâm lý.

Buồn đi tiểu và thường xuyên đi tiểu

Khi có thai tử cung to ra chèn ép vào bàng quang nên kích thích đi tiểu nhiều. Triệu chứng này thường bắt đầu sớm vào khoảng tuần thứ 6 và khi thai nhi càng ngày càng lớn hơn chèn ép vào bàng quang thì thai phụ sẽ thường xuyên buồn đi tiểu và tiểu nhiều hơn.

Tóm lại, khi bạn thấy mình chậm kinh hay mất kinh, hoặc có thể có một trong các dấu hiệu khác như mệt mỏi không rõ lý do, hay có cảm giác chóng mặt, buồn nôn,... thì nên đến cơ sở y tế chuyên khoa khám để xác định xem mình có thai hay không. Đơn giản hơn, ngay khi thấy mất kinh, hoặc có quan hệ tình dục không an toàn từ 7-10 ngày bạn có thể mua dụng cụ thử thai tại nhà bằng que thử thai ở bất kỳ nhà thuốc nào. Bạn nên dùng nước tiểu để thử vào lúc sáng sớm vì nó có chứa kích thích tố HCG cần thiết cho việc thử thai. Khi que thử có kết quả là bạn đã có thai thì bạn nên đến cơ sở y tế để đăng ký khám theo dõi thai theo định kỳ./.

Theo Sức khỏe và đời sống

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2011

Trà có ảnh hưởng thế nào đối với thai phụ?

Trà là thức uống được nhiều người ưa thích. Trong lá trà chứa nhiều thành phần có lợi cho cơ thể con người, như trà chứa nhiều phenol, có tác dụng làm chặt ruột, giải độc, sinh nước bọt, còn có thể làm chậm sự già yếu của cơ thể người. Hàm lượng vitamin trong lá trà cao, có thể bổ sung nhu cầu vitamin cho cơ thể. Fluorid trong lá trà có tác dụng bảo vệ răng. Vì vậy, uống trà đối với thai phụ hay thai nhi đều có lợi.

Kẽm là nguyên tố vi lượng, có tác dụng cực kỳ quan trọng đối với cơ thể thai phụ. Trong cuộc sống hằng ngày, đồ uống và thức ăn có chứa kẽm như trà xanh, vừng và cải tím..., trong đó hàm lượng kẽm trong trà xanh là nhiều nhất. Mỗi ngày thai phụ uống 2 – 3 tách trà bình thường được pha từ 2 – 5g trà xanh thì có thể đáp ứng nhu cầu kẽm cho cơ thể. Nghiên cứu y học gần đây cho biết, hàm lượng kẽm trong máu của trẻ sơ sinh do thai phụ uống trà xanh sinh ra khá cao. Tuy nhiên, thai phụ không nên uống trà xanh quá nhiều, quá đặc. Uống trà quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến quá trình hấp thu sắt, nhất là uống trà đậm có thể dẫn đến sự kích thích thần kinh trung ương của thai phụ dẫn đến khó ngủ, nhịp tim đập nhanh, dễ hưng phấn... gián tiếp ảnh hưởng đến thai nhi. Do đó thai phụ nên chú ý uống trà với lượng thích hợp.

Hoài Vũ

Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2011

Vấn đề giữ gìn thai nhi (7 bài)

Giới thiệu 7 bài về vấn đề giữ gìn thai nhi trong quá trình mang thai

Xem chi tiết >>

Bổ sung thêm bài:

Huyết trắng có hại thai nhi?



PNCN - * Tôi mang thai được năm tháng thì phát hiện có huyết trắng. Lượng huyết trắng khá nhiều so với bình thường. Xin hỏi, tôi có thể dùng dung dịch vệ sinh phụ nữ được không? Huyết trắng có ảnh hưởng bất lợi gì đến thai nhi không? Ngocha…@gmail.com

ThS-BS Nguyễn Hữu Trung (Phòng khám Hoàng Gia, Q.Phú Nhuận, TP.HCM) trả lời:

Khi mang thai, do thay đổi nội tiết tố nên huyết trắng ở thai phụ thường tăng tiết nhiều hơn. Bạn chỉ nên đi khám khi huyết trắng có mùi hôi, có cảm giác rát buốt hoặc đổi màu từ trong suốt sang nâu, xanh, vàng.

Tốt nhất, khi mang thai bạn nên dùng nước muối sinh lý hoặc nước muối pha loãng để vệ sinh. Không nên dùng bất cứ loại nước vệ sinh nào, vì nếu dùng trong một thời gian dài sẽ diệt cả vi khuẩn có lợi và có hại, gây mất cân bằng môi trường âm đạo. Và từ “nhân vật” giúp diệt trừ mầm bệnh, dung dịch vệ sinh lại trở thành nguyên nhân gây viêm nhiễm.

Nguồn: http://www.phunuonline.com.vn/suckhoe-dinhduong/2011/Pages/huyet-trang-co-hai-thai-nhi.aspx

Các giai đoạn phát triển của thai nhi

Ảnh của thai nhi từ tuần 1 đến tuần 41

Xem chi tiết >>

Bài đăng phổ biến