Hiện nay, có nhiều người chưa hiểu hết tính năng của tam thất nên sử dụng một cách tùy tiện. Để sử dụng tam thất một cách khoa học, hợp lí với hiệu quả chữa bệnh cao, cần lưu ý một số điểm.
Sơ chế trước khi dùng: Để bảo đảm hiệu quả chữa bệnh và an toàn, trước hết, rửa thật nhanh củ tam thất bằng nước đun sôi để nguội vài lần, không cho nước kịp ngấm vào ruột, phơi nắng hoặc sấy ở nhiệt độ 50-600C (tuyệt đối không rang tam thất trực tiếp trên chảo hoặc tẩm dược liệu với mỡ gà, rồi phơi sấy khô như một số người đã làm). Khi dùng, mới thái lát hoặc tán bột. Dùng đến đâu làm đến đó vì để nguyên củ thì thời hạn sử dụng có thể kéo dài đến 2 năm; nếu thái lát hoặc tán bột, chỉ bảo quản được trong 6-12 tháng, có thể lâu hơn nếu ngâm bột với mật ong hoặc rượu.
Công dụng và cách dùng: Tam thất có hai tác dụng chính là cầm máu và bổ dưỡng do chứa saponin triterpen là ginsenozid, một hoạt chất quý của nhân sâm. Gần đây, tam thất còn được dùng trong một số trường hợp ung thư (phổi, tuyến tiền liệt, vòm họng, vú) với kết quả tốt. Dùng sống dưới dạng bột hoặc mài với nước uống hoặc dạng lát cắt thì ngậm nhai rồi nuốt để chữa thổ huyết, băng huyết, rong kinh, chảy máu cam, máu hôi sau khi đẻ, kiết lị ra máu, khối u (ung thư). Bột tam thất rắc ngoài làm cầm máu nhanh các vết thương.
Dùng chín trong những trường hợp thiếu máu, suy nhược, phụ nữ sau khi đẻ, người mới ốm dậy. Củ tam thất hấp cho mềm, thái mỏng hoặc sao khô, tán bột rồi hầm với thịt gà, thịt chim, ăn hằng ngày trong vài tuần. Có thể ngâm rượu uống. Đơn giản thì hãm tam thất với nước sôi như pha trà, uống làm nhiều lần vừa dễ làm, tiện lợi, vừa giữ được hương vị, hoạt chất. Nước hãm tam thất pha với sữa dùng cho trẻ em rất tốt. Có thể phối hợp với nhân sâm trong trường hợp uống riêng tam thất thấy có cảm giác “nóng”, nhất là đối với những người mà khí, huyết đều suy kiệt. Tuy nhiên, nên uống hỗn hợp sâm - tam thất vào ban ngày và uống riêng tam thất vào buổi tối vì nhân sâm sẽ làm cho tỉnh táo, khó ngủ. Tam thất còn phối hợp với kỉ tử, cúc hoa chữa các chứng bệnh về mắt; với hoa hòe hoặc rutin trong những trường hợp chảy máu; với linh chi lại tăng cường miễn dịch, chống stress, cải thiện trí nhớ.
Chú ý: Phụ nữ có thai không được dùng tam thất.
Liều lượng: Dùng cầm máu, giảm đau nhanh, mỗi ngày uống 10-20g chia làm 4-5 lần. Để bổ dưỡng, mỗi ngày, người lớn: 5-6g chia hai lần; trẻ em tùy tuổi bằng 1/2 - 1/3 liều người lớn. Uống sau khi ăn 5 - 10 phút. Đối với các trường hợp ung thư, mỗi ngày có thể dùng liều 10g, liên tục trong 12 tháng hoặc lâu hơn.
HHT
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc bổ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thuốc bổ. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 23 tháng 5, 2011
Đừng nên lạm dụng thuốc bổ
Hiện nay, không ít người dân có thói quen dùng thuốc bổ khi cảm giác là mình có vấn đề về sức khoẻ.
Hay người ta uống thuốc bổ đơn giản vì nó... bổ, mà ít người ý thức được rằng thuốc bổ có thể sẽ gây hại khi chúng ta không biết cách dùng.
Thị trường thuốc bổ hiện nay rất phong phú, đa dạng và... bổ đủ thứ. Từ thuốc làm trẻ hoá, thuốc tăng cường sinh lực, tăng chiều cao cho trẻ, thuốc để ăn ngon cho tới thuốc bổ não. Việc mua thuốc bổ rất dễ dàng, thậm chí khi chỉ cần nói: Tôi muốn mua thuốc bổ mắt, bổ tim, người bán thuốc sẽ tìm cho khách các loại thuốc có tác dụng như mong muốn. Thuốc bổ thường là các loại vi-ta-min, các khoáng chất a-xit a-min tổng hợp, giúp bổ sung các chất dưỡng thiết yếu, tăng sức đề kháng và trẻ hoá các tế bào. Một số các chất như li-sin sẽ giúp cho việc ăn ngon, vi-ta-min E trẻ hoá da và ngăn ngừa các yếu tố gây ung thư, chất Be-ta-ca-rô-ten tốt cho mắt. Thuốc bổ cần thiết cho người cao tuổi, người suy nhược cơ thể, trẻ em chậm lớn hoặc ốm yếu.
Tuy bổ dưỡng nhưng khi dùng không đúng hay dùng quá liều thì sẽ gây tác dụng xấu cho cơ thể. Với một cơ thể bình thường mà bổ sung nhiều vi-ta-min tổng hợp có thể gây thừa vi-ta-min. Thừa vi-ta-min sẽ có tác hại cho cơ thể. Chẳng hạn, thừa vi-ta-min A có thể gây ngộ độc. Phụ nữ mang thai mà thừa vi-ta-min A có thể sinh con dị dạng, trẻ em thừa vi-ta-min A có thể tổn hại tới não, thần kinh. Thừa vi-ta-min D dễ bị tiêu chảy ở người lớn, tác động xấu tới thai nhi và gây chán ăn, suy thận, có thể làm cho xương bị thoái hoá. Thừa vi-ta-min E lại dẫn đến rối loạn tiêu hoá và thị giác.
Thừa các khoáng chất cũng gây hại không kém. Thừa sắt dễ gây ngộ độc, tiêu chảy. Thừa kẽm sẽ ảnh hưởng tới quá trình hấp thụ các khoáng chất khác, ăn quá nhiều i-ốt cũng không tốt cho tuyến giáp. Rõ ràng, tự động uống thuốc bổ sẽ tiềm ẩn những nguy cơ, đó là chưa kể nhiều người thích dùng thuốc bổ vì nghĩ rằng chúng an toàn.
Chúng ta cần từ bỏ thói quen tự ý chẩn bệnh và tự ý kê đơn cho bản thân. Khi muốn uống thuốc bổ rất cần sự hướng dẫn của y, bác sĩ. Nhiều khi, chẩn đoán bệnh đúng nhưng kê đơn lại sai, hoặc thời gian uống thuốc quá ngắn (hoặc quá thất thường) nên thuốc không có tác dụng, hoặc uống thuốc trong một thời gian dài dẫn đến dư thừa các vi-ta-min, khoáng chất, gây ra những hậu quả xấu. Hãy luôn luôn ghi nhớ: Thuốc bổ vẫn có thể có hại và tác hại của nó lại do người sử dụng sai. Với những người cơ thể bình thường, không đau yếu trầm trọng, thì bổ sung các vi-ta-min và khoáng chất tốt nhất là qua đường ăn uống. Ăn uống đa dạng, giàu dinh dưỡng là cách bổ sung chất bổ an toàn và tốt nhất cho cơ thể.
DS. Quang Huy
(Bệnh Viện Đống Đa, Hà Nội)
Hay người ta uống thuốc bổ đơn giản vì nó... bổ, mà ít người ý thức được rằng thuốc bổ có thể sẽ gây hại khi chúng ta không biết cách dùng.
Thị trường thuốc bổ hiện nay rất phong phú, đa dạng và... bổ đủ thứ. Từ thuốc làm trẻ hoá, thuốc tăng cường sinh lực, tăng chiều cao cho trẻ, thuốc để ăn ngon cho tới thuốc bổ não. Việc mua thuốc bổ rất dễ dàng, thậm chí khi chỉ cần nói: Tôi muốn mua thuốc bổ mắt, bổ tim, người bán thuốc sẽ tìm cho khách các loại thuốc có tác dụng như mong muốn. Thuốc bổ thường là các loại vi-ta-min, các khoáng chất a-xit a-min tổng hợp, giúp bổ sung các chất dưỡng thiết yếu, tăng sức đề kháng và trẻ hoá các tế bào. Một số các chất như li-sin sẽ giúp cho việc ăn ngon, vi-ta-min E trẻ hoá da và ngăn ngừa các yếu tố gây ung thư, chất Be-ta-ca-rô-ten tốt cho mắt. Thuốc bổ cần thiết cho người cao tuổi, người suy nhược cơ thể, trẻ em chậm lớn hoặc ốm yếu.
Tuy bổ dưỡng nhưng khi dùng không đúng hay dùng quá liều thì sẽ gây tác dụng xấu cho cơ thể. Với một cơ thể bình thường mà bổ sung nhiều vi-ta-min tổng hợp có thể gây thừa vi-ta-min. Thừa vi-ta-min sẽ có tác hại cho cơ thể. Chẳng hạn, thừa vi-ta-min A có thể gây ngộ độc. Phụ nữ mang thai mà thừa vi-ta-min A có thể sinh con dị dạng, trẻ em thừa vi-ta-min A có thể tổn hại tới não, thần kinh. Thừa vi-ta-min D dễ bị tiêu chảy ở người lớn, tác động xấu tới thai nhi và gây chán ăn, suy thận, có thể làm cho xương bị thoái hoá. Thừa vi-ta-min E lại dẫn đến rối loạn tiêu hoá và thị giác.
Thừa các khoáng chất cũng gây hại không kém. Thừa sắt dễ gây ngộ độc, tiêu chảy. Thừa kẽm sẽ ảnh hưởng tới quá trình hấp thụ các khoáng chất khác, ăn quá nhiều i-ốt cũng không tốt cho tuyến giáp. Rõ ràng, tự động uống thuốc bổ sẽ tiềm ẩn những nguy cơ, đó là chưa kể nhiều người thích dùng thuốc bổ vì nghĩ rằng chúng an toàn.
Chúng ta cần từ bỏ thói quen tự ý chẩn bệnh và tự ý kê đơn cho bản thân. Khi muốn uống thuốc bổ rất cần sự hướng dẫn của y, bác sĩ. Nhiều khi, chẩn đoán bệnh đúng nhưng kê đơn lại sai, hoặc thời gian uống thuốc quá ngắn (hoặc quá thất thường) nên thuốc không có tác dụng, hoặc uống thuốc trong một thời gian dài dẫn đến dư thừa các vi-ta-min, khoáng chất, gây ra những hậu quả xấu. Hãy luôn luôn ghi nhớ: Thuốc bổ vẫn có thể có hại và tác hại của nó lại do người sử dụng sai. Với những người cơ thể bình thường, không đau yếu trầm trọng, thì bổ sung các vi-ta-min và khoáng chất tốt nhất là qua đường ăn uống. Ăn uống đa dạng, giàu dinh dưỡng là cách bổ sung chất bổ an toàn và tốt nhất cho cơ thể.
DS. Quang Huy
(Bệnh Viện Đống Đa, Hà Nội)
Tác dụng trị liệu của một số loại cao động vật
Từ xa xưa, loài người đã biết sử dụng các loại động vật săn bắn được để lấy thịt ăn, còn xương nấu thành cao làm thuốc bồi bổ sức khoẻ và chữa trị rất hiệu quả rất nhiều bệnh tật.
Ngày nay, ngành Đông dược vẫn kế thừa các biện pháp chế biến xương động vật thành các loại cao để làm thuốc chữa bệnh. Xin giới thiệu những nét cơ bản về tác dụng trị liệu của một số loại cao động vật thường gặp.
Cao xương báo
Xương báo còn gọi là báo cốt. Tên khoa học là OS Pantherase. Bộ phận sử dụng làm thuốc là toàn bộ xương các loài báo. Đông y cho rằng cao mềm nấu từ xương báo tính hơi ấm, vị cay, mặn, đi vào kinh gan, thận. Dùng làm thuốc bổ toàn thân, có thể dùng thay xương hổ để chữa đau nhức gân xương, tê thấp dưới dạng cao mềm. Ngày uống 5-10g. Người thực nhiệt không nên dùng.
Cao xương gấu
Xương gấu còn gọi là hùng cốt. Tên khoa học là OS Ursi. Bộ phận sử dụng là toàn bộ xương các loài gấu phơi khô. Tính ấm, cay, vị mặn, đi vào kinh gan và thận. Tác dụng bồi bổ khí huyết hư tổn, chân lạnh đau buốt (cước khí), gân xương nhức mỏi, trẻ em trúng phong chân tay co giật cũng dùng ở dạng cao mềm với liều trung bình từ 8-12g mỗi ngày.
Cao xương hổ
Xương hổ còn gọi là hổ cốt, đại trùng cốt. Tên khoa học là OS Tigris. Bộ phận dùng làm cao là toàn bộ xương phơi khô, tính hơi ấm, vị hơi mặn đi vào kinh gan và thận. Thường được dùng phối hợp với các xương thú như hổ báo, gấu, dê, ngựa... để nấu thành cao làm thuốc bổ khí huyết hư tổn. Uống ở dạng cao mềm hay ngâm rượu, ngày 5-10g.
Cao xương khỉ
Còn gọi là hầu cốt. Tên khoa học là OS Cervi. Bộ phận dùng làm cao là toàn bộ xương phơi khô. Tính hơi ấm, vị mặn đi vào thận. Dùng làm thuốc bổ máu, bổ toàn thân. Thường dùng cho phụ nữ kém ăn, kém ngủ, xanh xao, thiếu máu, ra mồ hôi trộm. Dùng dưới dạng cao mềm hoà với mật ong, ngày 5-10g.
Cao xương dê
Còn gọi là dương cốt. Tên khoa học là OS Caprace. Bộ phận dùng nấu cao là toàn bộ xương các loại dê phơi khô. Đông y cho rằng xương cao dê tính ấm, vị mặn; đi vào kinh can, tì, thận. Tác dụng trị liệu: làm thuốc bồi bổ máu, phụ nữ sau sinh cơ thể gầy yếu, ăn kém, ít sữa. Đặc biệt còn dùng xương dê phối hợp với các loài khác như hổ, báo, gấu, khỉ, chó, ngựa... để nấu thành cao làm thuốc bổ toàn thân. Liều dùng thông thường từ 10-20g mỗi ngày.
Cao quy bản
Là dùng yếm rùa khô để nấu thành cao, nên quy bản còn gọi là yếm rùa hay quy giáp. Tên khoa học là Carapax Testudinis. Quy bản tính lạnh, ngọt mặn; đi vào kinh thận, can, tâm, tì. Tác dụng chữa thận âm suy yếu, ù tai nóng nhức trong xương, ho lâu ngày, di tinh, tay, chân, lưng, gối đau nhức. Phụ nữ khí hư, bạch đới. Dùng dưới dạng thuốc sắc, bột, viên hoàn hoặc dạng cao. Nếu là dạng thuốc sắc liều lượng trung bình mỗi ngày từ 12-24g. Nếu là dạng cao ngày dùng từ 10-15g. Cần lưu ý các trường hợp người âm hư mà không nhiệt thì không dùng
Cao mai ba ba
Mai ba ba còn gọi là miết giáp hay thuỷ ngư giáp. Tên khoa học là Carpax Amydae, thuộc nhóm họ ba ba (Trionychadae). Bộ phận dùng nấu cao là mai khô. Mai ba ba tính lạnh, vị mặn, đi vào kinh can, thận, tì phế. Được dùng là thuốc bổ âm, dùng cho người lao gầy, lao lực quá độ, nhức xương, sỏi đường tiết niệu (tiểu ra sỏi), phụ nữ bế kinh. Sử dụng ở dạng bột, sắc hay cao mềm. Liều dùng trung bình mỗi ngày từ 10-30g. Các trường hợp không dùng như âm hư mà không nhiệt, tì hư lại tiêu chảy, phụ nữ đang mang thai.
Thực ra còn nhiều loại cao nữ như cao trăn toàn tính, cao khỉ toàn tính...; các loại cao dán ngoài như cao rết, cao nọc rắn.... Đó là chưa nói đến các loại cao được chế biến từ dược thảo.
Mong rằng những trình bày trên sẽ giúp chúng ta có được một số khái niệm cơ bản về tác dụng và liều dùng thông thường của các loại cao, tránh tình trạng lạm dụng các loại cao từ động vật vốn rất thường gặp.
BS. Hoàng Xuân Đại
Ngày nay, ngành Đông dược vẫn kế thừa các biện pháp chế biến xương động vật thành các loại cao để làm thuốc chữa bệnh. Xin giới thiệu những nét cơ bản về tác dụng trị liệu của một số loại cao động vật thường gặp.
Cao xương báo
Xương báo còn gọi là báo cốt. Tên khoa học là OS Pantherase. Bộ phận sử dụng làm thuốc là toàn bộ xương các loài báo. Đông y cho rằng cao mềm nấu từ xương báo tính hơi ấm, vị cay, mặn, đi vào kinh gan, thận. Dùng làm thuốc bổ toàn thân, có thể dùng thay xương hổ để chữa đau nhức gân xương, tê thấp dưới dạng cao mềm. Ngày uống 5-10g. Người thực nhiệt không nên dùng.
Cao xương gấu
Xương gấu còn gọi là hùng cốt. Tên khoa học là OS Ursi. Bộ phận sử dụng là toàn bộ xương các loài gấu phơi khô. Tính ấm, cay, vị mặn, đi vào kinh gan và thận. Tác dụng bồi bổ khí huyết hư tổn, chân lạnh đau buốt (cước khí), gân xương nhức mỏi, trẻ em trúng phong chân tay co giật cũng dùng ở dạng cao mềm với liều trung bình từ 8-12g mỗi ngày.
Cao xương hổ
Xương hổ còn gọi là hổ cốt, đại trùng cốt. Tên khoa học là OS Tigris. Bộ phận dùng làm cao là toàn bộ xương phơi khô, tính hơi ấm, vị hơi mặn đi vào kinh gan và thận. Thường được dùng phối hợp với các xương thú như hổ báo, gấu, dê, ngựa... để nấu thành cao làm thuốc bổ khí huyết hư tổn. Uống ở dạng cao mềm hay ngâm rượu, ngày 5-10g.
Cao xương khỉ
Còn gọi là hầu cốt. Tên khoa học là OS Cervi. Bộ phận dùng làm cao là toàn bộ xương phơi khô. Tính hơi ấm, vị mặn đi vào thận. Dùng làm thuốc bổ máu, bổ toàn thân. Thường dùng cho phụ nữ kém ăn, kém ngủ, xanh xao, thiếu máu, ra mồ hôi trộm. Dùng dưới dạng cao mềm hoà với mật ong, ngày 5-10g.
Cao xương dê
Còn gọi là dương cốt. Tên khoa học là OS Caprace. Bộ phận dùng nấu cao là toàn bộ xương các loại dê phơi khô. Đông y cho rằng xương cao dê tính ấm, vị mặn; đi vào kinh can, tì, thận. Tác dụng trị liệu: làm thuốc bồi bổ máu, phụ nữ sau sinh cơ thể gầy yếu, ăn kém, ít sữa. Đặc biệt còn dùng xương dê phối hợp với các loài khác như hổ, báo, gấu, khỉ, chó, ngựa... để nấu thành cao làm thuốc bổ toàn thân. Liều dùng thông thường từ 10-20g mỗi ngày.
Cao quy bản
Là dùng yếm rùa khô để nấu thành cao, nên quy bản còn gọi là yếm rùa hay quy giáp. Tên khoa học là Carapax Testudinis. Quy bản tính lạnh, ngọt mặn; đi vào kinh thận, can, tâm, tì. Tác dụng chữa thận âm suy yếu, ù tai nóng nhức trong xương, ho lâu ngày, di tinh, tay, chân, lưng, gối đau nhức. Phụ nữ khí hư, bạch đới. Dùng dưới dạng thuốc sắc, bột, viên hoàn hoặc dạng cao. Nếu là dạng thuốc sắc liều lượng trung bình mỗi ngày từ 12-24g. Nếu là dạng cao ngày dùng từ 10-15g. Cần lưu ý các trường hợp người âm hư mà không nhiệt thì không dùng
Cao mai ba ba
Mai ba ba còn gọi là miết giáp hay thuỷ ngư giáp. Tên khoa học là Carpax Amydae, thuộc nhóm họ ba ba (Trionychadae). Bộ phận dùng nấu cao là mai khô. Mai ba ba tính lạnh, vị mặn, đi vào kinh can, thận, tì phế. Được dùng là thuốc bổ âm, dùng cho người lao gầy, lao lực quá độ, nhức xương, sỏi đường tiết niệu (tiểu ra sỏi), phụ nữ bế kinh. Sử dụng ở dạng bột, sắc hay cao mềm. Liều dùng trung bình mỗi ngày từ 10-30g. Các trường hợp không dùng như âm hư mà không nhiệt, tì hư lại tiêu chảy, phụ nữ đang mang thai.
Thực ra còn nhiều loại cao nữ như cao trăn toàn tính, cao khỉ toàn tính...; các loại cao dán ngoài như cao rết, cao nọc rắn.... Đó là chưa nói đến các loại cao được chế biến từ dược thảo.
Mong rằng những trình bày trên sẽ giúp chúng ta có được một số khái niệm cơ bản về tác dụng và liều dùng thông thường của các loại cao, tránh tình trạng lạm dụng các loại cao từ động vật vốn rất thường gặp.
BS. Hoàng Xuân Đại
Rượu thuốc cũng cần phù hợp bệnh trạng
Rượu thuốc (dược tửu) là một chế phẩm hết sức độc đáo của y học cổ truyền, xuất xứ từ thời cổ đại ở Trung Quốc. Tuy nhiên, vì hiểu biết chưa đầy đủ nên không ít người đã sử dụng rượu thuốc một cách dễ dãi, thậm chí lạm dụng khiến công dụng bồi bổ hóa thành những tai họa...
Rượu thuốc là gì?
Rượu thuốc là những chế phẩm lỏng được điều chế bằng phương pháp chiết xuất các dược liệu thảo mộc hoặc động vật với rượu nhằm mục đích điều trị hoặc bảo vệ và nâng cao sức khỏe. Dùng rượu thuốc để chữa bệnh và bồi bổ gọi là Dược tửu liệu pháp. Thành phần của rượu thuốc có khi chỉ một vị (rượu đơn) nhưng thường thì có khá nhiều vị được phối hợp để phát huy cao nhất tác dụng của thuốc (rượu kép). Công lực của dược tửu phụ thuộc vào hai nhân tố là rượu và thuốc.
Việc lựa chọn các vị thuốc khác nhau sẽ tạo ra những loại rượu có tác dụng không giống nhau nhưng vai trò của rượu thì không thể thiếu. Bởi lẽ, nói như cổ nhân "rượu đứng đầu trăm thứ thuốc", "rượu có công dụng tuyên tán dược lực, ôn thông khí huyết, sơ kinh hoạt lạc, có thể đạt tới tứ chi bách hài, ngũ tạng lục phủ".
Các loại rượu thuốc
Nếu căn cứ vào số vị thuốc trong phương, có thể chia ra làm hai loại: rượu đơn (độc vị) và rượu kép (đa vị). Nếu căn cứ vào công dụng, có thể chia ra làm hai loại lớn: rượu bổ và rượu bệnh; hoặc chia ra làm nhiều loại khác nhau như rượu khu phong, rượu kiện tì, rượu bổ gân cốt, rượu thanh nhiệt lợi thấp, rượu giải cảm, rượu an thần, rượu bổ huyết, rượu bổ khí, rượu bổ dương, rượu bổ âm... Nếu căn cứ vào cách dùng có thể chia ra: rượu uống trong và rượu dùng ngoài...
Nguyên tắc dùng rượu thuốc
Rượu thuốc cũng là dược phẩm nên khi dùng phải tuân thủ nguyên tắc: đúng bệnh, đúng người và đúng liều lượng, không được tùy tiện và thái quá. Nếu để trị bệnh thì trước hết người bệnh phải được thầy thuốc chuyên khoa khám tỉ mỉ và chẩn đoán chính xác, sau đó mới chọn phương và bào chế cho phù hợp. Ví như, cùng là bệnh Dương nuy (liệt dương), nhưng với những người thuộc thể bệnh Âm hư thì loại dược tửu chọn dùng hoàn toàn khác so với thể bệnh Dương hư... Nếu để bồi bổ với mục đích bảo vệ và nâng cao sức khỏe thì phải căn cứ vào các đặc điểm của người dùng như tuổi tác, giới tính, thể chất... Nghĩa là, phải xác định được phần nào trong cơ thể bị hư yếu (âm hư, dương hư, khí hư hay huyết hư) và tạng phủ nào cần bồi bổ (tâm, can, tì, phế, thận...) để từ đó chọn phương, lựa dược cho thích đáng. Trên cơ sở chẩn bệnh một cách biện chứng mới có thể lựa chọn và điều chế rượu thuốc phù hợp và có chất lượng. Ngược lại, nếu chẩn bệnh sai thì khi dùng sẽ không có tác dụng, thậm chí có thể gây hại.
Rượu bổ âm: Là loại rượu dùng cho những người bị bệnh thuộc thể Âm hư hoặc có thể chất thiên về âm hư, biểu hiện bằng các chứng trạng như người gầy, miệng ráo, họng khô, hay hoa mắt chóng mặt, mất ngủ, hay mộng mị, ra mồ hôi trộm, lòng bàn tay và bàn chân nóng, hay có cảm giác sốt nóng về chiều, gò má đỏ, di tinh, ù tai, đại tiện táo, tiểu tiện lượng ít sắc vàng, lưỡi khô đỏ, ít hoặc không có rêu...
Ví dụ: Thần tiên diên thọ tửu, Thiên môn đông tửu, Tang tằm tửu (rượu tằm), Địa hoàng tửu, Địa hoàng thủ ô tửu, Tư âm dưỡng huyết tửu, Hà thủ ô tửu, Kỉ tử tửu, Ô tu tửu (rượu làm đen râu tóc), Bồ đào tửu (rượu nho)... Những người có chứng dương hư không nên dùng loại rượu này.
Rượu bổ dương: Còn gọi là rượu trợ dương, tráng dương hoặc khởi dương, là loại rượu dùng cho người bị bệnh thuộc thể Dương hư hoặc có thể chất thiên về dương hư, biểu hiện bằng các chứng trạng như hay sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng bệch, mệt mỏi như mất sức, dễ đổ mồ hôi, hay có cảm giác khó thở, ngại nói, miệng nhạt, không khát, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng nát, hay bị cảm lạnh, di tinh, liệt dương, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng...
Ví dụ: Minh mạng tửu, Lộc nhung tửu (rượu nhung hươu), Hải cẩu thận tửu, Ba kích tửu, Dâm dương hoắc tửu, Dương cao tửu (rượu thịt dê), Dương thận tửu (rượu cật dê), Trợ dương tửu, Hổ cốt tửu, Cáp giới tửu (rượu tắc kè), Hải mã tửu (rượu cá ngựa)... Những người có chứng âm hư không nên dùng các loại rượu này.
Rượu bổ máu: Những người bị bệnh thuộc thể Huyết hư hoặc có thể chất thiên về huyết hư, biểu hiện bằng các chứng trạng như sắc mặt nhợt nhạt, hay hoa mắt chóng mặt, tim hồi hộp, mất ngủ, tay chân tê bì, phụ nữ kinh nguyệt không đều, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng... Ví dụ: Tang thầm tửu (rượu dâu), Từ quốc công tiên tửu (rượu long nhãn), Đương quy tửu, Hà thủ ô tửu, Kê huyết đằng tửu, Diên linh tửu, Trú nhan tửu, Nguyên thầm tửu, Từ quốc công tiên tửu...
Rượu bổ khí: Là loại rượu dùng cho những người bị bệnh thuộc thể Khí hư hoặc có thể chất thiên về khí hư, biểu hiện bằng các chứng trạng mỏi mệt, khó thở, ngại nói, sắc mặt trắng nhợt, đầu choáng mắt hoa, hay hồi hộp trống ngực, dễ đổ mồ hôi, ăn kém chậm tiêu, đại tiện lỏng, tiểu tiện trong dài, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng... Ví dụ: Nhân sâm tửu, Đẳng sâm tửu, Tây dương sâm tửu, Sâm truật tửu, Hoàng kì tửu, Bạch truật tửu, Nhân sâm cố bản tửu, Hoàng tinh tửu v.v...
Trên thực tế, bệnh trạng thường đan xen nên phối hợp các loại rượu để tạo công dụng song bổ. Ví như, các loại rượu Ích thọ tửu, Cố bản địa hoàng tửu, Khước lão tửu, Trường xuân tửu, Bổ khí dưỡng huyết tửu, Dưỡng vinh tửu, Sâm quy tửu, Nhân sâm câu kỉ tửu, Diên thọ tửu, Bát trân tửu, Thập toàn đại bổ tửu, Phù nhược tiên phượng tửu... là sự kết hợp giữa thuốc bổ âm và bổ dương, hoặc bổ khí và bổ huyết.
Hương Huyền
(Đại học Dược Hà Nội)
Copy từ nguoicaotuoi.org.vn
Rượu thuốc là gì?
Rượu thuốc là những chế phẩm lỏng được điều chế bằng phương pháp chiết xuất các dược liệu thảo mộc hoặc động vật với rượu nhằm mục đích điều trị hoặc bảo vệ và nâng cao sức khỏe. Dùng rượu thuốc để chữa bệnh và bồi bổ gọi là Dược tửu liệu pháp. Thành phần của rượu thuốc có khi chỉ một vị (rượu đơn) nhưng thường thì có khá nhiều vị được phối hợp để phát huy cao nhất tác dụng của thuốc (rượu kép). Công lực của dược tửu phụ thuộc vào hai nhân tố là rượu và thuốc.
Việc lựa chọn các vị thuốc khác nhau sẽ tạo ra những loại rượu có tác dụng không giống nhau nhưng vai trò của rượu thì không thể thiếu. Bởi lẽ, nói như cổ nhân "rượu đứng đầu trăm thứ thuốc", "rượu có công dụng tuyên tán dược lực, ôn thông khí huyết, sơ kinh hoạt lạc, có thể đạt tới tứ chi bách hài, ngũ tạng lục phủ".
Các loại rượu thuốc
Nếu căn cứ vào số vị thuốc trong phương, có thể chia ra làm hai loại: rượu đơn (độc vị) và rượu kép (đa vị). Nếu căn cứ vào công dụng, có thể chia ra làm hai loại lớn: rượu bổ và rượu bệnh; hoặc chia ra làm nhiều loại khác nhau như rượu khu phong, rượu kiện tì, rượu bổ gân cốt, rượu thanh nhiệt lợi thấp, rượu giải cảm, rượu an thần, rượu bổ huyết, rượu bổ khí, rượu bổ dương, rượu bổ âm... Nếu căn cứ vào cách dùng có thể chia ra: rượu uống trong và rượu dùng ngoài...
Nguyên tắc dùng rượu thuốc
Rượu thuốc cũng là dược phẩm nên khi dùng phải tuân thủ nguyên tắc: đúng bệnh, đúng người và đúng liều lượng, không được tùy tiện và thái quá. Nếu để trị bệnh thì trước hết người bệnh phải được thầy thuốc chuyên khoa khám tỉ mỉ và chẩn đoán chính xác, sau đó mới chọn phương và bào chế cho phù hợp. Ví như, cùng là bệnh Dương nuy (liệt dương), nhưng với những người thuộc thể bệnh Âm hư thì loại dược tửu chọn dùng hoàn toàn khác so với thể bệnh Dương hư... Nếu để bồi bổ với mục đích bảo vệ và nâng cao sức khỏe thì phải căn cứ vào các đặc điểm của người dùng như tuổi tác, giới tính, thể chất... Nghĩa là, phải xác định được phần nào trong cơ thể bị hư yếu (âm hư, dương hư, khí hư hay huyết hư) và tạng phủ nào cần bồi bổ (tâm, can, tì, phế, thận...) để từ đó chọn phương, lựa dược cho thích đáng. Trên cơ sở chẩn bệnh một cách biện chứng mới có thể lựa chọn và điều chế rượu thuốc phù hợp và có chất lượng. Ngược lại, nếu chẩn bệnh sai thì khi dùng sẽ không có tác dụng, thậm chí có thể gây hại.
Rượu bổ âm: Là loại rượu dùng cho những người bị bệnh thuộc thể Âm hư hoặc có thể chất thiên về âm hư, biểu hiện bằng các chứng trạng như người gầy, miệng ráo, họng khô, hay hoa mắt chóng mặt, mất ngủ, hay mộng mị, ra mồ hôi trộm, lòng bàn tay và bàn chân nóng, hay có cảm giác sốt nóng về chiều, gò má đỏ, di tinh, ù tai, đại tiện táo, tiểu tiện lượng ít sắc vàng, lưỡi khô đỏ, ít hoặc không có rêu...
Ví dụ: Thần tiên diên thọ tửu, Thiên môn đông tửu, Tang tằm tửu (rượu tằm), Địa hoàng tửu, Địa hoàng thủ ô tửu, Tư âm dưỡng huyết tửu, Hà thủ ô tửu, Kỉ tử tửu, Ô tu tửu (rượu làm đen râu tóc), Bồ đào tửu (rượu nho)... Những người có chứng dương hư không nên dùng loại rượu này.
Rượu bổ dương: Còn gọi là rượu trợ dương, tráng dương hoặc khởi dương, là loại rượu dùng cho người bị bệnh thuộc thể Dương hư hoặc có thể chất thiên về dương hư, biểu hiện bằng các chứng trạng như hay sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng bệch, mệt mỏi như mất sức, dễ đổ mồ hôi, hay có cảm giác khó thở, ngại nói, miệng nhạt, không khát, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng nát, hay bị cảm lạnh, di tinh, liệt dương, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng...
Ví dụ: Minh mạng tửu, Lộc nhung tửu (rượu nhung hươu), Hải cẩu thận tửu, Ba kích tửu, Dâm dương hoắc tửu, Dương cao tửu (rượu thịt dê), Dương thận tửu (rượu cật dê), Trợ dương tửu, Hổ cốt tửu, Cáp giới tửu (rượu tắc kè), Hải mã tửu (rượu cá ngựa)... Những người có chứng âm hư không nên dùng các loại rượu này.
Rượu bổ máu: Những người bị bệnh thuộc thể Huyết hư hoặc có thể chất thiên về huyết hư, biểu hiện bằng các chứng trạng như sắc mặt nhợt nhạt, hay hoa mắt chóng mặt, tim hồi hộp, mất ngủ, tay chân tê bì, phụ nữ kinh nguyệt không đều, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng... Ví dụ: Tang thầm tửu (rượu dâu), Từ quốc công tiên tửu (rượu long nhãn), Đương quy tửu, Hà thủ ô tửu, Kê huyết đằng tửu, Diên linh tửu, Trú nhan tửu, Nguyên thầm tửu, Từ quốc công tiên tửu...
Rượu bổ khí: Là loại rượu dùng cho những người bị bệnh thuộc thể Khí hư hoặc có thể chất thiên về khí hư, biểu hiện bằng các chứng trạng mỏi mệt, khó thở, ngại nói, sắc mặt trắng nhợt, đầu choáng mắt hoa, hay hồi hộp trống ngực, dễ đổ mồ hôi, ăn kém chậm tiêu, đại tiện lỏng, tiểu tiện trong dài, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng... Ví dụ: Nhân sâm tửu, Đẳng sâm tửu, Tây dương sâm tửu, Sâm truật tửu, Hoàng kì tửu, Bạch truật tửu, Nhân sâm cố bản tửu, Hoàng tinh tửu v.v...
Trên thực tế, bệnh trạng thường đan xen nên phối hợp các loại rượu để tạo công dụng song bổ. Ví như, các loại rượu Ích thọ tửu, Cố bản địa hoàng tửu, Khước lão tửu, Trường xuân tửu, Bổ khí dưỡng huyết tửu, Dưỡng vinh tửu, Sâm quy tửu, Nhân sâm câu kỉ tửu, Diên thọ tửu, Bát trân tửu, Thập toàn đại bổ tửu, Phù nhược tiên phượng tửu... là sự kết hợp giữa thuốc bổ âm và bổ dương, hoặc bổ khí và bổ huyết.
Hương Huyền
(Đại học Dược Hà Nội)
Copy từ nguoicaotuoi.org.vn
Thứ Ba, 17 tháng 5, 2011
Sâu chít - thuốc tráng dương
Mật ong - dưỡng chất, vị thuốc kỳ diệu
Nhờ thứ chất lỏng màu hổ phách ngọt ngào này, người xanh xao thành hồng hào, người ốm phục hồi sức lực, người lớn dễ đi vào giấc ngủ, trẻ nhỏ hết tưa lưỡi... Là một chất dinh dưỡng, một vị thuốc tuyệt hảo, nhưng mật ong vẫn có thể trở thành chất độc nếu không biết bảo quản, sử dụng đúng cách.
Theo Y học cổ truyền, mật ong có tác dụng ích khí, nhuận táo, chữa các chứng bệnh ho, tim, bỏng, đau bụng, khó đẻ, lở âm đầu, hóc xương cá, bí đại tiện, xích bạnh lị, sản phụ khát nước... Không nên dùng trong các trường hợp ỉa chảy hoặc đầy bụng.
Mật ong vừa có tác dụng thay thế đường, vừa là một vị thuốc quý trong tủ thuốc gia đình. Có thể bôi trực tiếp mật ong không cần bào chế, trừ khi làm thuốc đặc biệt của Đông y.
Ứng dụng thực tế
Mật ong là một vị thuốc hữu hiệu giúp tăng sức đề kháng cho cơ thể, phòng chống nhiễm trùng. Hàng ngày nên ăn 5 thìa mật ong, có thể ăn với bánh mì hoặc uống với trà, sữa tươi.
Mật ong đánh kem với lòng đỏ trứng gà, ăn mỗi ngày một quả sẽ làm da dẻ hồng hào, cơ thể khoẻ mạnh.
Mật ong trộn với bột tam thất ăn mỗi bữa một chén con có thể giúp hồi phục sức lực sau khi ốm dậy.
Nếu bị cảm cúm, bạn sẽ thấy dễ chịu ngay sau khi uống một cốc nước chanh nóng có pha thêm 2 thìa mật ong.
Nếu bị ho, hãy lấy một quả chanh tươi, khía kiểu múi khế ở ở lớp vỏ ngoài, sau đó cho một vài thìa cà phê mật ong cho ngấm đủ toàn bộ quả chanh trong một cái chén. Để khoảng 1-2 giờ sau đó cắt ra ngậm sẽ đỡ ho ngay.
Khi da bị trầy xước: làm sạch vết thương rồi bôi mật ong lên, vết xước sẽ mau lành và không bị nhiễm trùng hay sưng tấy.
Hoà 2 thìa mật ong vào một cốc sữa tươi đã hâm nóng và uống từ từ từng ngụm nhỏ, giấc ngủ sẽ đến với bạn nhanh chóng và êm dịu.
Mật ong trộn với bột nghệ đen (thể hàn), nghệ vàng (thể nhiệt) có thể chữa viêm loét dạ dày. Ăn liền trong 1-2 tháng sẽ cho kết quả tốt.
Mật ong tẩm vào bông có thể đánh sạch tưa lưỡi trẻ em.
Lưu ý khi dùng mật ong
- Tuy là chất dinh dưỡng tốt nhưng không nên dùng mật ong cho trẻ nhỏ. Mật ong dễ bị trực khuẩn tấn công, chúng sinh sôi nảy nở và thải ra chất độc. Người lớn có sức đề kháng tốt nên ít khi phát bệnh như trẻ nhỏ. Các nghiên cứu khoa học cho thấy lượng độc tố do 2.000 trực khuẩn sinh ra có thể làm chết 1 đứa trẻ nặng 7kg.
- Khi mật ong xuất hiện các bọt khí thì không nên để lâu. Trong mật ong có một lượng đường khá lớn nên nó có tính hút nước. Do sơ suất trong bảo quản, lượng nước trong mật ong tăng lên, nếu vượt quá 20% thì làm cho nấm men phát triển nhanh và phân giải các thành phần dinh dưỡng của mật khiến mật bị biến chất. Bọt khí xuất hiện là một dấu hiệu chứng tỏ sự biến chất này. Mật tuy không phải là hỏng hẳn nhưng sẽ không giữ được lâu.- Không bảo quản mật ong trong các đồ đựng bằng kim loại, vì trong mật ong có acid hữu cơ và đường, dưới tác dụng của men, một phần các chất này biến thành acid etylenic. Chất này ăn mòn lớp ngoài kim loại và làm tăng thêm hàm lượng kim loại trong mật ong, làm mật biến chất. Thành phần dinh dưỡng của mật ong bị phá hoại, người dùng dễ trúng độc với các biểu hiện lợm giọng, nôn mửa...
(Theo Sức khoẻ Gia đình)
Cách nhận biết mật ong tốt hay xấu
Theo Canh nông |
Cách sử dụng mật ong
Đọc bài Công dụng của mật ong trên TT thấy rất hay, nhưng lại không đề cập đến vấn đề cách sử dụng. Hiện nay mật ong bán rất nhiều, nhưng mua về không biết sử dụng thế nào cho hợp lý, ví dụ dùng trước bữa ăn, hay sau bữa ăn, và thêm nước hay để nguyên, liều lượng bao nhiêu thì tốt? (QUOC DUNG)
- Mật ong có thể giảm độ acid của dịch vị, độ acid dạ dày trở thành bình thường. Do đó những bài thuốc Đông y chữa bệnh đau dạ dày như viên nghệ mật ong, mật ong cam thảo đều có bán trên thị trường.
Sữa ong chúa uống mỗi ngày chừng 10 giọt có tác dụng duy trì sự cương cứng của dương vật. Với phụ nữ, sữa ong chúa là chất chống oxy hóa da, giữ mãi tuổi thanh xuân. Phụ nữ có thể uống sữa ong chúa ngày 2 lần, mỗi lần 1 muỗng cà phê.
Việt Báo (Theo_TuoiTre)
Trả lời của phòng mạch online:
- Mật ong có thể giảm độ acid của dịch vị, độ acid dạ dày trở thành bình thường. Do đó những bài thuốc Đông y chữa bệnh đau dạ dày như viên nghệ mật ong, mật ong cam thảo đều có bán trên thị trường.
Mật ong hoa nhãn (mang ong đến vùng nhãn đang trổ bông để ong hút mật hoa nhãn) có tác dụng an thần y như bạn uống thuốc an thần Tây y mà không có tác dụng phụ. Một số người thần kinh bị kích thích cũng nên dùng mật ong hoa nhãn.
Bạn có thể uống mật ong chữa viêm loét dạ dày, tá tràng với liều 3 muỗng cà phê một lần, ngày 3 lần, uống trước bữa ăn. Mật ong có tác dụng sát trùng rất hữu hiệu. Ngày xưa các thầy lang dùng mật ong thay thế thuốc chống mốc, chống nhiễm khuẩn mà làm ra những viên thuốc tễ.
Trẻ bị nhiễm nấm candida abicans gây tưa lưỡi các cụ thường khuyên dùng mật ong nguyên chất nhỏ 1 giọt vào miệng trẻ. Vị ngọt sẽ kích thích các đầu thần kinh vị giác ở lưỡi bé. Em bé sẽ đưa đi đưa lại lưỡi , đó là động tác tự làm sạch nấm candida abicans ở lưỡi và miệng.
Trẻ nhỏ uống mỗi ngày 10 giọt mật ong (tương đương với 01 muỗng cà phê) pha trong nước chín, uống chậm từng ngụm giúp sát trùng vùng họng, chúng sẽ ít viêm họng . Khi trẻ bị viêm phế quản, viêm họng, bạn có thể cho bé uống mật ong cùng với các kháng sinh đặc hiệu mà không sợ tác dụng đối kháng nhau mà chúng có tác dụng hiệp đồng.
Sữa ong chúa uống mỗi ngày chừng 10 giọt có tác dụng duy trì sự cương cứng của dương vật. Với phụ nữ, sữa ong chúa là chất chống oxy hóa da, giữ mãi tuổi thanh xuân. Phụ nữ có thể uống sữa ong chúa ngày 2 lần, mỗi lần 1 muỗng cà phê.
Sữa ong chúa pha 2 phần nước, một phần sữa ong chúa thoa lên da mỗi tối bạn sẽ có làn da mịn màng hơn tất cả các loại kem dưỡng da hiện có trên thị trường. Phấn hoa do ong mang về (bám ở thân ong) chứa nhiều vitamin, acid amine thiên nhiên được dùng chung với mật ong, sữa ong chúa làm thuốc bổ. Bạn mua ở công ty ong mật về uống ngày 3 lần, mỗi lần 1-2 muỗng cà phê. Món này dùng cho người già, trẻ em, phụ nữ mang thai, cho con bú đều tốt. Công ty ong mật có kẹo sữa ong chúa làm thuốc bổ tỳ vị cho trẻ em, kích thích sự ngon miệng, dùng cho trẻ biếng ăn rất tiện lợi.
Một số nghiên cứu của GS Nguyễn Năng An ở Hà Nội còn cho thấy : dùng nọc ong chữa viêm khớp rất hữu hiệu. Ở TP. HCM cũng có nơi cho ong đốt vào khớp chữa đau nhức khớp khi Tây y bó tay. Tuy nhiên nọc ong khá độc nên bạn đừng tự sử dụng mà cần có hướng dẫn của bác sĩ. Trong điều trị cao huyết áp, mật ong giống như thuốc an thần, làm dịu thành mạch. Nếu dùng mật ong cùng với vừng (mè) đen hay còn gọi là hắc chi ma còn có tác dụng nhuận tràng. Bạn lấy 50g mè đen nấu chín giã nát rồi cho vào 60 ml mật ong, tiếp đến cho vào 200 ml nước chín, chia đều uống trong ngày.
Bạn có thể uống mật ong nhiều hơn liều đã hướng dẫn cũng không sao. Tuy nhiên nhớ là phải mua đúng mật ong thứ thiệt ở công ty ong mật hay vùng rừng nuôi ong như mật ong rừng tràm Cà Mau, kẻo "tiền mất, tật mang".
BS LÊ THÚY TƯƠI
Thứ Ba, 22 tháng 2, 2011
Ngộ nhận chết người khi dùng nhân sâm
Hơn 3 tháng uống nhân sâm kèm thuốc bắc, đầu tháng 10 vừa qua, một bệnh nhân đã phải vào cấp cứu ở Bệnh viện Nhân dân 115 (TP.HCM) vì nổi mẩn, chảy máu đường ruột, tổn thương gan nặng... Bác sĩ kết luận người này ngộ độc vì dùng nhân sâm quá liều.
Theo lời kể của gia đình, bệnh nhân trị bệnh xơ gan bằng cách uống nhân sâm cùng một số vị thuốc bắc đều đặn hằng ngày từ hơn ba tháng qua theo chỉ định của một ông thầy người Hoa ở khu Chợ Lớn. Những lần trước thì không sao, nhưng đến gần đây thì bệnh nhân bị xây xẩm, nôn ói, huyết áp tăng. Kết quả xét nghiệm cho thấy bệnh nhân bị ngộ độc nhân sâm nghiêm trọng.
Khoa thận của Bệnh viện 115 cũng đang điều trị nhiều trường hợp suy thận mà kết quả điều tra lâm sàng liên quan đến ăn sâm tươi, uống rượu nhân sâm hay dùng các loại thuốc bổ từ sâm. “Nhiều bệnh nhân khi nghe thông báo còn quay lại cự bác sĩ vì họ nghĩ trong nhân sâm không có chất nào độc thì làm sao bị ngộ độc. Họ không biết rằng ngay cả với sâm quý, lạm dụng cũng có thể gây nguy hiểm”, bác sĩ Nguyễn Quốc Khánh, giám đốc Bệnh viện 115, cho biết.
Ghi nhận của bệnh viện Nhi Đồng 1 và Nhi Đồng 2 từ đầu năm đến nay cũng cho thấy số trẻ bị ngộ độc nhân sâm và các chế phẩm nhân sâm thời gian qua rất phổ biến. Hầu hết các trường hợp do gia đình nghe theo lời đồn trong dân gian, cho trẻ uống nhân sâm để không biếng ăn, chậm lớn và để trẻ thông minh, khoẻ mạnh. Nhưng hậu quả là nhân sâm làm trẻ rối loạn tiêu hoá, thần kinh có biểu hiện không bình thường.
Bác sĩ Nguyễn Xuân Mai, phó viện trưởng Viện Vệ sinh y tế công cộng (thuộc Bộ Y tế), cho biết nhân sâm rất tốt cho sức khỏe. Nhân sâm chứa hơn 15 yếu tố vi lượng nên có tác dụng chống mỏi mệt, tăng sức đề kháng, thúc đẩy công năng tuyến sinh dục nam và nữ, tăng khả năng ghi nhớ và năng lực phân tích, trị các chứng như ra mồ hôi, lo lắng, đại tiểu tiện không tự chủ…
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể dùng sâm, nhất là với trẻ nhỏ. “Các nghiên cứu đã cho thấy nếu người lớn uống khoảng 200ml rượu sâm nồng độ 3% sẽ có biểu hiện trúng độc, bị mẩn đỏ toàn thân, ngứa, chóng mặt, đau đầu, thân nhiệt tăng, huyết áp hạ. Uống liên tục mỗi ngày 0,3g bột sâm củ có thể mất ngủ, trầm uất, giảm cân. Trẻ đang bú mẹ nếu uống nước sắc 0,03 – 0,06g từ sâm sẽ bị co giật, thở gấp, tim đập chậm, tiếng tim mờ, nôn”, bác sĩ Mai cho biết. Cũng theo ông, Viện Y học cổ truyền Trung ương từng ghi nhận trường hợp tử vong vì uống 500ml nhân sâm/ngày.
Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm, phó viện trưởng viện Dinh dưỡng quốc gia, một số người dùng nhân sâm và chế phẩm từ sâm với liều quá cao hoặc quá dài ngày nên đã dẫn đến ngộ độc.
“Có người dùng nước nhân sâm thay cho nước uống, có người ăn nhân sâm như ăn kẹo. Như thế rất nguy hiểm, nhất là với người cao tuổi, bị xơ cứng động mạch, huyết áp, bởi trong nhân sâm có chứa chất chống phân giải chất béo, sẽ làm tăng lượng mỡ", bà Lâm nhấn mạnh.
Cũng theo bà, đối với trẻ phát triển bình thường, không bị mắc các bệnh lý thì không cần dùng nhân sâm bởi sâm chỉ được dùng cho trẻ suy dinh dưỡng, còi xương, thiếu máu. Nếu tuỳ tiện dùng có thể làm kích thích quá trình phát triển, khiến trẻ phát dục sớm. Tốt nhất khi muốn sử dụng nhân sâm nên theo đúng chỉ định của bác sĩ.
Lưu ý khi dùng nhân sâm
Người bị cảm mạo, phát sốt, bị bệnh gan mật cấp tính, viêm dạ dày và ruột cấp tính, bị nôn mửa, đau bụng đi ngoài, bị giãn phế quản, lao, ho, ra máu, cao huyết áp, bị di tinh, ban đỏ, mụn nhọt, viêm khớp, phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 14 tuổi được khuyến cáo không nên tự ý dùng nhân sâm.
Các loại củ cải và hải sản đều tuyệt đối bị cấm sau khi uống hoặc ăn nhân sâm. Vì củ cải và hải sản là đại hạ khí, còn nhân sâm là đại bổ khí, hai thứ triệt nhau nếu dùng chung dễ dẫn đến tử vong.
(theo Viện Y dược học dân tộc)
Theo lời kể của gia đình, bệnh nhân trị bệnh xơ gan bằng cách uống nhân sâm cùng một số vị thuốc bắc đều đặn hằng ngày từ hơn ba tháng qua theo chỉ định của một ông thầy người Hoa ở khu Chợ Lớn. Những lần trước thì không sao, nhưng đến gần đây thì bệnh nhân bị xây xẩm, nôn ói, huyết áp tăng. Kết quả xét nghiệm cho thấy bệnh nhân bị ngộ độc nhân sâm nghiêm trọng.
Khoa thận của Bệnh viện 115 cũng đang điều trị nhiều trường hợp suy thận mà kết quả điều tra lâm sàng liên quan đến ăn sâm tươi, uống rượu nhân sâm hay dùng các loại thuốc bổ từ sâm. “Nhiều bệnh nhân khi nghe thông báo còn quay lại cự bác sĩ vì họ nghĩ trong nhân sâm không có chất nào độc thì làm sao bị ngộ độc. Họ không biết rằng ngay cả với sâm quý, lạm dụng cũng có thể gây nguy hiểm”, bác sĩ Nguyễn Quốc Khánh, giám đốc Bệnh viện 115, cho biết.
Ghi nhận của bệnh viện Nhi Đồng 1 và Nhi Đồng 2 từ đầu năm đến nay cũng cho thấy số trẻ bị ngộ độc nhân sâm và các chế phẩm nhân sâm thời gian qua rất phổ biến. Hầu hết các trường hợp do gia đình nghe theo lời đồn trong dân gian, cho trẻ uống nhân sâm để không biếng ăn, chậm lớn và để trẻ thông minh, khoẻ mạnh. Nhưng hậu quả là nhân sâm làm trẻ rối loạn tiêu hoá, thần kinh có biểu hiện không bình thường.
Bác sĩ Nguyễn Xuân Mai, phó viện trưởng Viện Vệ sinh y tế công cộng (thuộc Bộ Y tế), cho biết nhân sâm rất tốt cho sức khỏe. Nhân sâm chứa hơn 15 yếu tố vi lượng nên có tác dụng chống mỏi mệt, tăng sức đề kháng, thúc đẩy công năng tuyến sinh dục nam và nữ, tăng khả năng ghi nhớ và năng lực phân tích, trị các chứng như ra mồ hôi, lo lắng, đại tiểu tiện không tự chủ…
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể dùng sâm, nhất là với trẻ nhỏ. “Các nghiên cứu đã cho thấy nếu người lớn uống khoảng 200ml rượu sâm nồng độ 3% sẽ có biểu hiện trúng độc, bị mẩn đỏ toàn thân, ngứa, chóng mặt, đau đầu, thân nhiệt tăng, huyết áp hạ. Uống liên tục mỗi ngày 0,3g bột sâm củ có thể mất ngủ, trầm uất, giảm cân. Trẻ đang bú mẹ nếu uống nước sắc 0,03 – 0,06g từ sâm sẽ bị co giật, thở gấp, tim đập chậm, tiếng tim mờ, nôn”, bác sĩ Mai cho biết. Cũng theo ông, Viện Y học cổ truyền Trung ương từng ghi nhận trường hợp tử vong vì uống 500ml nhân sâm/ngày.
Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm, phó viện trưởng viện Dinh dưỡng quốc gia, một số người dùng nhân sâm và chế phẩm từ sâm với liều quá cao hoặc quá dài ngày nên đã dẫn đến ngộ độc.
“Có người dùng nước nhân sâm thay cho nước uống, có người ăn nhân sâm như ăn kẹo. Như thế rất nguy hiểm, nhất là với người cao tuổi, bị xơ cứng động mạch, huyết áp, bởi trong nhân sâm có chứa chất chống phân giải chất béo, sẽ làm tăng lượng mỡ", bà Lâm nhấn mạnh.
Cũng theo bà, đối với trẻ phát triển bình thường, không bị mắc các bệnh lý thì không cần dùng nhân sâm bởi sâm chỉ được dùng cho trẻ suy dinh dưỡng, còi xương, thiếu máu. Nếu tuỳ tiện dùng có thể làm kích thích quá trình phát triển, khiến trẻ phát dục sớm. Tốt nhất khi muốn sử dụng nhân sâm nên theo đúng chỉ định của bác sĩ.
Lưu ý khi dùng nhân sâm
Người bị cảm mạo, phát sốt, bị bệnh gan mật cấp tính, viêm dạ dày và ruột cấp tính, bị nôn mửa, đau bụng đi ngoài, bị giãn phế quản, lao, ho, ra máu, cao huyết áp, bị di tinh, ban đỏ, mụn nhọt, viêm khớp, phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 14 tuổi được khuyến cáo không nên tự ý dùng nhân sâm.
Các loại củ cải và hải sản đều tuyệt đối bị cấm sau khi uống hoặc ăn nhân sâm. Vì củ cải và hải sản là đại hạ khí, còn nhân sâm là đại bổ khí, hai thứ triệt nhau nếu dùng chung dễ dẫn đến tử vong.
(theo Viện Y dược học dân tộc)
Thứ Hai, 21 tháng 2, 2011
Những người nên tránh nhân sâm, mật ong
Nhân sâm, mật ong đều là những dược thực phẩm bổ dưỡng, hữu ích với sức khỏe. Tuy nhiên, nếu uống nhân sâm, mật ong để tăng cường thể lực thì chỉ thích hợp với những người không có bệnh tật gì.
Dưới đây là những nhóm người không nên dùng nhân sâm mật ong.
1. Trẻ em (dưới 15 tuổi)
Không ít phụ huynh khi trẻ em chưa trong 1 năm tuổi đã cho trẻ em uống nhân sâm mật ong, hi vọng con cái sau này có trí lực siêu phàm, có cơ thể mạnh khoẻ cường tráng hơn người.
Trẻ học tiểu học, trung học cũng được các bậc cha mẹ cho uống nhân sâm mật ong để kỳ vọng con cái của họ luôn đứng đầu bảng trong học tập. Nhưng kết quả lại trái với ý nguyện.
Sự thật là trẻ em mà uống nhân sâm mật ong chỉ nhận được một sự “trưởng thành giả tạo” về giới tính chứ không có một chút lợi ích nào như mong đợi. Trưởng thành quá sớm về giới tính thường sẽ mang lại “nỗi khổ” cho trẻ cùng như phiền toái cho bố mẹ.
2. Phụ nữ có thai
Phụ nữ có thai tuyệt đối không được bị nhân sâm “mê hoặc”. Nhân sâm chủ yếu bổ khí, rất dễ nóng trong, mật ong kích thích tử cung co lại, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của thai nhi.
3. Người bị bệnh huyết áp thấp và đường trong máu thấp
Trong mật ong chứa một chất giống như là Acetylcholine, có tác dụng giảm huyết áp. Người có mức đường huyết thấp uống nhân sâm và mật ong dễ gặp biến chứng, vì vậy “kỵ” sử dụng.
4. Người vừa mới phẫu thuật xong
Người mới phẫu thuật mất máu nhiều, cơ thể rất yếu, nếu hấp thụ quá nhiều chất bổ, dễ làm cho gan chướng, nghẽn khí, gây chảy máu ngũ quan.
5. Người rối loạn chức năng đường ruột
Mật ong có thể làm cho đường ruột co thắt mạnh, dẫn đến rối loạn chức năng đường ruột, gây ra các chứng như đi ngoài, táo bón...
6. Người dễ bị dị ứng
Trong nhân sâm có chứa chất các hợp chất kích thích, mật ong chứa các hợp chất xúc tác, protein có tính chất khác nhau, những người bị dị ứng với thức ăn và thuốc thì nên kiêng sử dụng.
Ngoài ra những người sốt cao, nôn ra máu, chướng gan, vàng mật cũng không nên sử dụng.
Theo health 39/DT
Dưới đây là những nhóm người không nên dùng nhân sâm mật ong.
1. Trẻ em (dưới 15 tuổi)
Không ít phụ huynh khi trẻ em chưa trong 1 năm tuổi đã cho trẻ em uống nhân sâm mật ong, hi vọng con cái sau này có trí lực siêu phàm, có cơ thể mạnh khoẻ cường tráng hơn người.
Trẻ học tiểu học, trung học cũng được các bậc cha mẹ cho uống nhân sâm mật ong để kỳ vọng con cái của họ luôn đứng đầu bảng trong học tập. Nhưng kết quả lại trái với ý nguyện.
Sự thật là trẻ em mà uống nhân sâm mật ong chỉ nhận được một sự “trưởng thành giả tạo” về giới tính chứ không có một chút lợi ích nào như mong đợi. Trưởng thành quá sớm về giới tính thường sẽ mang lại “nỗi khổ” cho trẻ cùng như phiền toái cho bố mẹ.
2. Phụ nữ có thai
Phụ nữ có thai tuyệt đối không được bị nhân sâm “mê hoặc”. Nhân sâm chủ yếu bổ khí, rất dễ nóng trong, mật ong kích thích tử cung co lại, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của thai nhi.
3. Người bị bệnh huyết áp thấp và đường trong máu thấp
Trong mật ong chứa một chất giống như là Acetylcholine, có tác dụng giảm huyết áp. Người có mức đường huyết thấp uống nhân sâm và mật ong dễ gặp biến chứng, vì vậy “kỵ” sử dụng.
4. Người vừa mới phẫu thuật xong
Người mới phẫu thuật mất máu nhiều, cơ thể rất yếu, nếu hấp thụ quá nhiều chất bổ, dễ làm cho gan chướng, nghẽn khí, gây chảy máu ngũ quan.
5. Người rối loạn chức năng đường ruột
Mật ong có thể làm cho đường ruột co thắt mạnh, dẫn đến rối loạn chức năng đường ruột, gây ra các chứng như đi ngoài, táo bón...
6. Người dễ bị dị ứng
Trong nhân sâm có chứa chất các hợp chất kích thích, mật ong chứa các hợp chất xúc tác, protein có tính chất khác nhau, những người bị dị ứng với thức ăn và thuốc thì nên kiêng sử dụng.
Ngoài ra những người sốt cao, nôn ra máu, chướng gan, vàng mật cũng không nên sử dụng.
Theo health 39/DT
Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011
Uống quá nhiều thuốc bổ dễ làm hỏng thận
Muốn con có chiều cao như ý, nhiều bà mẹ đã liên tục cho trẻ uống thêm thuốc bổ chứa vitamin và canxi. Nếu uống quá nhiều, canxi sẽ tích tụ khiến thận bị vôi hóa.
Gần đây, Bệnh viện Nhi Đồng 1 TP HCM tiếp nhận nhiều trẻ nước tiểu có cặn đục trắng, kết quả xét nghiệm cho thấy có oxalat canxi. Theo bác sĩ Huỳnh Thoại Loan, Trưởng khoa Thận, chất này có trong nước tiểu chứng tỏ trẻ bị thừa chất canxi do ăn uống hoặc dùng thuốc. Một số bà mẹ mới thừa nhận, chỉ vì muốn trẻ cao hơn mà họ đã tự ý cho trẻ uống rất nhiều canxi.
Bác sĩ Nguyễn Bích Phượng, khoa Thận Bệnh viện Nhi Đồng 1, nhận định, đúng là canxi có trong phác đồ điều trị cho những trẻ lùn do thiếu hoóc môn tăng trưởng hoặc do thể tạng. Tuy nhiên, dù là thuốc bổ thì canxi vẫn phải được dùng đúng liều lượng chứ không phải uống bao nhiêu tùy thích. Trẻ uống quá nhiều canxi sẽ bị táo bón, tăng canxi trong máu. Ngoài ra, khi cơ thể hấp thu quá nhiều canxi, thận sẽ phải làm việc nhiều để thải lượng dư thừa, lâu ngày sẽ bị vôi hóa thận. Còn trẻ uống quá nhiều vitamin D sẽ bị lên cơn co giật.
Nhiều bà mẹ thấy con mình lùn hơn so với các bạn cùng lứa đã hỏi bác sĩ xem có loại thuốc nào uống để cao lên không. Theo bác sĩ Bích Phượng, nhiều trẻ bị lùn do di truyền hoặc do mắc một số bệnh như loạn sản sụn xương, có bất thường về nhiễm sắc thể, bệnh đường tiêu hóa, tim mạch, gan thận, huyết học, tiểu đường, suy tuyến giáp, thiếu hormone tăng trưởng...
Với những trẻ bị lùn do bệnh lý, nếu phát hiện sớm nguyên nhân và điều trị kịp thời thì có thể cải thiện chiều cao. Trong trường hợp trẻ bị lùn do thiếu hoóc môn tăng trưởng, bác sĩ giúp trẻ tăng chiều cao bằng cách chích thêm hoóc môn. Ngay cả những trẻ không mắc bệnh lý gì mà có chiều cao thấp hơn so với biểu đồ tăng trưởng, nếu gia đình chấp thuận điều trị, bác sĩ sẽ chích hoóc môn tăng trưởng để giúp trẻ cao thêm.
Bác sĩ Bích Phượng nhấn mạnh, những trường hợp này được điều trị càng sớm càng tốt vì trẻ còn quỹ thời gian dài, hồi phục chiều cao tốt. Còn khi gần đến tuổi 18 mới đến bác sĩ thì xương đã đóng, dù điều trị tích cực đến mấy cũng khó thay đổi được chiều cao.
Bác sĩ thường khuyên các bậc cha mẹ nên có thói quen đưa con đi kiểm tra sức khỏe định kỳ để theo dõi cân nặng cũng như chiều cao của trẻ. Trẻ dưới 2 tuổi nên đi khám mỗi tháng một lần, trẻ trên 2 tuổi có thể đi khám sức khỏe định kỳ 3-6 tháng/lần. Khi biểu đồ tăng trưởng có vấn đề bất thường, các bác sĩ sẽ phát hiện sớm, tìm nguyên nhân và điều trị để nâng chiều cao cho trẻ.
Gần đây, Bệnh viện Nhi Đồng 1 TP HCM tiếp nhận nhiều trẻ nước tiểu có cặn đục trắng, kết quả xét nghiệm cho thấy có oxalat canxi. Theo bác sĩ Huỳnh Thoại Loan, Trưởng khoa Thận, chất này có trong nước tiểu chứng tỏ trẻ bị thừa chất canxi do ăn uống hoặc dùng thuốc. Một số bà mẹ mới thừa nhận, chỉ vì muốn trẻ cao hơn mà họ đã tự ý cho trẻ uống rất nhiều canxi.
Bác sĩ Nguyễn Bích Phượng, khoa Thận Bệnh viện Nhi Đồng 1, nhận định, đúng là canxi có trong phác đồ điều trị cho những trẻ lùn do thiếu hoóc môn tăng trưởng hoặc do thể tạng. Tuy nhiên, dù là thuốc bổ thì canxi vẫn phải được dùng đúng liều lượng chứ không phải uống bao nhiêu tùy thích. Trẻ uống quá nhiều canxi sẽ bị táo bón, tăng canxi trong máu. Ngoài ra, khi cơ thể hấp thu quá nhiều canxi, thận sẽ phải làm việc nhiều để thải lượng dư thừa, lâu ngày sẽ bị vôi hóa thận. Còn trẻ uống quá nhiều vitamin D sẽ bị lên cơn co giật.
Nhiều bà mẹ thấy con mình lùn hơn so với các bạn cùng lứa đã hỏi bác sĩ xem có loại thuốc nào uống để cao lên không. Theo bác sĩ Bích Phượng, nhiều trẻ bị lùn do di truyền hoặc do mắc một số bệnh như loạn sản sụn xương, có bất thường về nhiễm sắc thể, bệnh đường tiêu hóa, tim mạch, gan thận, huyết học, tiểu đường, suy tuyến giáp, thiếu hormone tăng trưởng...
Với những trẻ bị lùn do bệnh lý, nếu phát hiện sớm nguyên nhân và điều trị kịp thời thì có thể cải thiện chiều cao. Trong trường hợp trẻ bị lùn do thiếu hoóc môn tăng trưởng, bác sĩ giúp trẻ tăng chiều cao bằng cách chích thêm hoóc môn. Ngay cả những trẻ không mắc bệnh lý gì mà có chiều cao thấp hơn so với biểu đồ tăng trưởng, nếu gia đình chấp thuận điều trị, bác sĩ sẽ chích hoóc môn tăng trưởng để giúp trẻ cao thêm.
Bác sĩ Bích Phượng nhấn mạnh, những trường hợp này được điều trị càng sớm càng tốt vì trẻ còn quỹ thời gian dài, hồi phục chiều cao tốt. Còn khi gần đến tuổi 18 mới đến bác sĩ thì xương đã đóng, dù điều trị tích cực đến mấy cũng khó thay đổi được chiều cao.
Bác sĩ thường khuyên các bậc cha mẹ nên có thói quen đưa con đi kiểm tra sức khỏe định kỳ để theo dõi cân nặng cũng như chiều cao của trẻ. Trẻ dưới 2 tuổi nên đi khám mỗi tháng một lần, trẻ trên 2 tuổi có thể đi khám sức khỏe định kỳ 3-6 tháng/lần. Khi biểu đồ tăng trưởng có vấn đề bất thường, các bác sĩ sẽ phát hiện sớm, tìm nguyên nhân và điều trị để nâng chiều cao cho trẻ.
Cây Đinh Lăng - vị thuốc quý
Cây Đinh Lăng Không chỉ là cây cảnh thông dụng, cây rau được ưa dùng, đinh lăng còn là một vị thuốc nam có tính năng chống dị ứng, giải độc thức ăn, chống mệt mỏi và làm tăng sức dẻo dai của cơ thể.
Đinh lăng còn được gọi là cây gỏi cá. Cây có lá kép, mọc so le, lá 3 lần xẻ lông chim, mép khía có răng cưa. Hoa nhỏ màu trắng, mọc thành tán. Quả dẹt, dài 3-4mm, dày khoảng 1mm. Lá đinh lăng phơi khô, nấu lên có mùi thơm đặc trưng, dân gian gọi nôm na là mùi “thuốc bắc”. Lá tươi không có mùi thơm này.
Trong dân gian, đinh lăng thường dùng để trị ho ra máu, chữa tắc tia sữa, làm mát huyết, lợi tiểu, chữa mẫn ngứa. Lá đinh lăng cũng được dùng để nấu canh với thịt, cá để bồi bổ cho sản phụ, người già hoặc người ốm mới dậy.
Theo y học cổ truyền, rễ đinh lăng có vị ngọt, hơi đắng, tính mát có tác dụng thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết, lá có vị đắng, tính mát có tác dụng giải độc thức ăn, chống dị ứng, chữa ho ra máu, kiết lỵ. Nói chung, ngoài tác dụng lương huyết và giải độc thức ăn, những tính chất khác của đinh lăng gần giống như nhân sâm.
Theo nghiên cứu của Học viện Quân sự Việt Nam, dung dịch cao đinh lăng có tác dụng:
- Tăng biên độ điện thế não, tăng tỉ lệ các sóng alpha, bêta và giảm tỉ lệ sóng delta. Những biến đổi này diễn ra ở vỏ não mạnh hơn so với ở thể lưới.
- Tăng khả năng tiếp nhận của các tế bào thần kinh vỏ não với các kích thích ánh sáng.
- Tăng nhẹ quá trình hưng phấn khi thực hiện phản xạ trong mê lộ.
- Tăng hoạt động phản xạ có điều kiện gồm phản xạ dương tính và phản xạ phân biệt.
Nhìn chung, dưới tác dụng của cao đinh lăng, vỏ não được hoạt hóa nhẹ và có tính đồng bộ, các chức năng của hệ thần kinh về tiếp nhận và tích hợp đều tốt hơn.
Một vài đơn thuốc có sử dụng Đinh Lăng
Bồi bổ cơ thể, ngừa dị ứng
Lá đinh lăng tươi từ 150-200 g, nấu sôi khoảng 200 ml nước. Cho tất cả lá đinh lăng vào nồi, đậy nắp lại, sau vài phút, mở nắp và đảo qua đảo lại vài lần. Sau 5-7 phút, chắt ra để uống nước đầu tiên, đổ tiếp thêm khoảng 200 ml nước vào để nấu sôi lại nước thứ hai. Cách dùng lá tươi thuận tiện vì không phải dự trữ, không tốn thời gian nấu lâu, lượng nước ít, người bệnh dễ uống nhưng vẫn đảm bảo được lượng hoạt chất cần thiết.
Chữa tắc tia sữa
Rễ đinh lăng 40 g, gừng tươi 3 lát, đổ 500 ml nước sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống khi thuốc còn nóng.
Chữa nổi mề đay, mẩn ngứa do dị ứng
Lá đinh lăng khô 80 g, đổ 500 ml nước sắc còn 25 0ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày.
Ho suyễn lâu năm
Rễ đinh lăng, bách bộ, đậu săn, rễ cây dâu, nghệ vàng, rau tần dày lá tất cả đều 8 g, củ xương bồ 6 g; Gừng khô 4 g, đổ 600 ml sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống lúc thuốc còn nóng.
Phong thấp, thấp khớp
Rễ đinh lăng 12 g; Cối xay, hà thủ ô, huyết rồng, cỏ rễ xước, thiên niên kiện tất cả 8 g; Vỏ quít, quế chi 4 g (Riêng vị quế chi bỏ vào sau cùng khi sắp nhắc ấm thuốc xuống). Đổ 600 ml nước sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống khi thuốc còn nóng.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
Chất bổ chứa trong cây đinh lăng rất giàu, được ví như cây nhân sâm. Khoa học hiện đại xét nghiệm thấy các thành phần hoá học chứa trong rễ cây đinh lăng có 0,3% glucô và ancaloit, saponin, ta min, các axitamin và vitamin B1.
Bộ phận được dùng để bào chế thuốc trong cây đinh lăng là rễ cây (chỉ nên lấy rễ từ cây 3 năm tuổi trở lên). Thường đào lấy rễ cây đinh lăng vào mùa thu hoặc đã sang đông. Vì thời gian này hoạt chất tập trung ở rễ và rễ cũng mềm hơn.
Sau khi lấy rễ, rửa sạch, băm nhỏ rồi phơi khô hoặc sấy khô. Khi sao có thể tẩm rượu rồi sao. Thân và lá cây đinh lăng cũng có thể dùng làm thuốc. Lá đinh lăng non được dùng ăn sống với nem chua hoặc gỏi cá. Luộc chấm muối vừng ăn như một thứ rau rất ngon, bùi và bổ.
Các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu dùng đinh lăng bào chế ra thuốc tăng lực. Thuốc có tác dụng kích thích ăn ngon miệng, ngủ tốt, lên cân, sức khoẻ được phục hồi nhanh, nhất là sau khi mổ hoặc vừa ốm dậy. Đinh lăng bào chế thành thuốc bột, viên thành viên hoặc ngâm rượu dùng rất an toàn, không có độc tố. Đinh lăng còn có tác dụng an thần, chống sốt rét. Rễ cây đinh lăng còn trị được ho, lợi tiểu, thông sữa chữa kiết lỵ. Đinh lăng giã nát để đắp lên vết thương. Lá đinh lăng pha như pha trà uống hàng ngày rất tốt. Dùng rễ đinh lăng pha như pha trà uống hàng ngày còn tốt hơn, nhiều hoạt chất hơn.
Trong cây đinh lăng, người ta đã tìm thấy được các chất như alcaloit, glucoxit, saponin, tanin, vitamin B1 và 13 loại axit amin, đặc biệt có những axit amin quý không thay thế được như: lyzin, xystei, methionin. Cây trồng lâu năm có đủ giá trị dược dụng (thường cây sống trên 10 năm trở lên). Để có đủ tất cả tính dược lẫn hoạt chất, cây phải sống trên 60 năm. Cây già cổ sống đến hàng trăm năm có đủ linh khí và trở nên quý hiếm. Về mặt dược dụng, toàn cây đều có tác dụng bổ 5 tạng, giải độc, tiêu thực, tiêu sưng viêm, bổ huyết, tăng sữa.
Vị thuốc đinh lăng không gây nghiện và nhờn thuốc, it độ do không làm tăng huyết áp, luôn ổn định được nhịp tim. Rễ có vị ngọt tính bình, chứa nhiều hoạt chất hơn thân và lá. Lá có vị nhạt hơi đắng và cũng có tính bình. Về tính năng, cây đinh lăng là cây thuốc bổ tăng lực, cường tráng, giúp hô hấp tốt, làm tăng sức chịu đựng của cơ thể, giúp mau chóng phục hồi sức lực, chữa kiệt sức làm cho nhịp tim sớm trở lại bình thường (dùng tốt cho những người lao tâm lao lực, luyện tập trong và sau khi thi đấu thể dục thể thao), chống chịu với gia tốc (đi phi thuyền, máy bay, tàu xe..) chịu sức nóng và giúp điều nhiệt (làm việc trong hầm lò, đi thực địa hoặc du khảo ngoài trời, lao động trên công trường, trên độ cao, ngoài đảo xa), chịu áp suất lớn (thợ lặn sâu), tăng sức đề kháng đối với bức xạ siêu cao tần (nhân viên làm việc ở các đài phát thanh, truyền hình, trực ra đa), chống stress, giúp thư giãn và giảm cuồng (trong điều trị bệnh tâm thần). Riêng đối với người bệnh suy mòn, kiệt sức, dùng đinh lăng giúp chóng phục hồi cơ thể, giúp ăn ngon, ngủ tốt, tăng cân. Đối với phụ nữ, làm tăng co bóp tử cung, tăng hưng phấn, giúp thụ thai.
Trong y học cổ truyền thường dùng làm thuốc bổ, trị suy nhược cơ thể, giải độc, tiêu hóa kém, dùng cho phụ nữ chậm mang thai và dùng sau khi sinh đẻ bị thiếu sữa, sản hậu, huyết xông, nhức mỏi tay chân, hỗ trợ sức khoẻ cho người già, trị bệnh phong thấp và bồi bổ cho trẻ con. Ngoài ra còn được dùng làm thuốc chữa bệnh, chữa ho, ho ra máu, chữa kiết lỵ, thông tiểu. Thân và cành cũng được dùng chữa phong thấp, đau lưng. Lá chữa cảm sốt, mụn nhọt, sưng tấy, viêm vú.
Trong dân gian, lá đinh lăng được dùng để lót gối trải giường cho trẻ em đề phòng kinh giật. Đinh lăng còn được dùng để xông ra mồ hôi do cảm phong hàn và chữa chứng chóng mặt, nhai nuốt với một ít phèn chua để trị hóc xương cá, dùng tươi giã nát đắp ngoài trị viêm thần kinh, thấp khớp, các vết thương trầy xước. Đinh lăng còn làm săn da và dưỡng da mặt.
Cách thu hái và chế biến: vào mùa xuân, thu hái rễ to để lột lấy vỏ hoặc thu toàn bộ rễ nhỏ rửa sạch đất cát, đồ chín, thái nhỏ, phơi hay sấy khô là được. Khi dùng nên tẩm nước gừng tươi 5%, sao qua bằng lửa nhỏ rồi tẩm bột mật ong để sử dụng ngay trong một hai ngày. Lá non dùng làm rau ăn ghém, ăn gỏi. Lá già hãm trà hoặc sắc thuốc uống nóng.
- Chữa chứng nóng sốt lâu ngày, nhức đầu, khát nước, ho, tức ngực, tiểu tiện vàng: đinh lăng 30 g, cam thảo 30 g (có thể thay bằng cam thảo đất – cam thảo nam 30 g), vỏ quýt 10 g, lá tre tươi 20 g, rau má tươi 30 g, me chua đất 20 g rồi cho vào nồi đổ ngập nước sắc còn 250 ml chia uống 3 lần trong ngày (có thể thêm sài hồ: lá, rễ, cành – 20 g). Nếu cần tăng cường thong tiểu nhanh trong khi sắc nên bỏ sài hồ và giảm rau má, me chua đất, thêm 50 g rễ tranh hoặc 100 g mía lau và 20 g mã đề (trong trường hợp cấp cứu, không đào được rễ tranh, có thể dùng lá tre và lá tranh để sắc chung cũng hữu hiệu cấp thời).
- Chữa bệnh mệt mỏi, biếng hoạt động: bột rễ đinh lăng 0,5 g đun với 100 ml nước/uống ngày 3 lần. Thông tia sữa, căng vú: rễ đinh lăng 30 – 40 g sắc với 500 ml còn 25 ml, hâm nóng chia ra uống nhiều lần (5 – 8 lần trong ngày), uống trong 2 – 3 ngày. Giúp tăng sữa: lá tươi 50 – 100 g băm nhuyễn với bong bóng lợn trộn với gạo nếp nấu cháo cho sản phụ ăn sẽ tăng nhiều sữa.
- Chữa vết thương trầy xước: rửa sạch vết thương bằng cồn nhẹ và giã nát một nắm đinh lăng đã rửa sạch bằng nước pha cồn dùng đắp từ ngoài rìa vào trong. Vết trầy mau chóng lành và chóng kéo da non. Ngoài ra, người phụ nữ trước và sau khi mang thai dùng định kỳ các bộ phận của cây đinh lăng sẽ giúp an thai trong thai kỳ, sinh nở dễ dàng, cho nhiều sữa tốt, em bé về sau có hệ cơ và hệ tuần hoàn khoẻ mạnh, góp phần giúp trẻ phát triển trí thông minh (cấm dùng cho phụ nữ đang mang thai).
Tác giả: Ks. Lê Thường
Đinh lăng còn được gọi là cây gỏi cá. Cây có lá kép, mọc so le, lá 3 lần xẻ lông chim, mép khía có răng cưa. Hoa nhỏ màu trắng, mọc thành tán. Quả dẹt, dài 3-4mm, dày khoảng 1mm. Lá đinh lăng phơi khô, nấu lên có mùi thơm đặc trưng, dân gian gọi nôm na là mùi “thuốc bắc”. Lá tươi không có mùi thơm này.
Trong dân gian, đinh lăng thường dùng để trị ho ra máu, chữa tắc tia sữa, làm mát huyết, lợi tiểu, chữa mẫn ngứa. Lá đinh lăng cũng được dùng để nấu canh với thịt, cá để bồi bổ cho sản phụ, người già hoặc người ốm mới dậy.
Theo y học cổ truyền, rễ đinh lăng có vị ngọt, hơi đắng, tính mát có tác dụng thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết, lá có vị đắng, tính mát có tác dụng giải độc thức ăn, chống dị ứng, chữa ho ra máu, kiết lỵ. Nói chung, ngoài tác dụng lương huyết và giải độc thức ăn, những tính chất khác của đinh lăng gần giống như nhân sâm.
Theo nghiên cứu của Học viện Quân sự Việt Nam, dung dịch cao đinh lăng có tác dụng:
- Tăng biên độ điện thế não, tăng tỉ lệ các sóng alpha, bêta và giảm tỉ lệ sóng delta. Những biến đổi này diễn ra ở vỏ não mạnh hơn so với ở thể lưới.
- Tăng khả năng tiếp nhận của các tế bào thần kinh vỏ não với các kích thích ánh sáng.
- Tăng nhẹ quá trình hưng phấn khi thực hiện phản xạ trong mê lộ.
- Tăng hoạt động phản xạ có điều kiện gồm phản xạ dương tính và phản xạ phân biệt.
Nhìn chung, dưới tác dụng của cao đinh lăng, vỏ não được hoạt hóa nhẹ và có tính đồng bộ, các chức năng của hệ thần kinh về tiếp nhận và tích hợp đều tốt hơn.
Một vài đơn thuốc có sử dụng Đinh Lăng
Bồi bổ cơ thể, ngừa dị ứng
Lá đinh lăng tươi từ 150-200 g, nấu sôi khoảng 200 ml nước. Cho tất cả lá đinh lăng vào nồi, đậy nắp lại, sau vài phút, mở nắp và đảo qua đảo lại vài lần. Sau 5-7 phút, chắt ra để uống nước đầu tiên, đổ tiếp thêm khoảng 200 ml nước vào để nấu sôi lại nước thứ hai. Cách dùng lá tươi thuận tiện vì không phải dự trữ, không tốn thời gian nấu lâu, lượng nước ít, người bệnh dễ uống nhưng vẫn đảm bảo được lượng hoạt chất cần thiết.
Chữa tắc tia sữa
Rễ đinh lăng 40 g, gừng tươi 3 lát, đổ 500 ml nước sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống khi thuốc còn nóng.
Chữa nổi mề đay, mẩn ngứa do dị ứng
Lá đinh lăng khô 80 g, đổ 500 ml nước sắc còn 25 0ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày.
Ho suyễn lâu năm
Rễ đinh lăng, bách bộ, đậu săn, rễ cây dâu, nghệ vàng, rau tần dày lá tất cả đều 8 g, củ xương bồ 6 g; Gừng khô 4 g, đổ 600 ml sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống lúc thuốc còn nóng.
Phong thấp, thấp khớp
Rễ đinh lăng 12 g; Cối xay, hà thủ ô, huyết rồng, cỏ rễ xước, thiên niên kiện tất cả 8 g; Vỏ quít, quế chi 4 g (Riêng vị quế chi bỏ vào sau cùng khi sắp nhắc ấm thuốc xuống). Đổ 600 ml nước sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống khi thuốc còn nóng.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
Cây đinh lăng - thuốc bổ trời cho
Chất bổ chứa trong cây đinh lăng rất giàu, được ví như cây nhân sâm. Khoa học hiện đại xét nghiệm thấy các thành phần hoá học chứa trong rễ cây đinh lăng có 0,3% glucô và ancaloit, saponin, ta min, các axitamin và vitamin B1.
Bộ phận được dùng để bào chế thuốc trong cây đinh lăng là rễ cây (chỉ nên lấy rễ từ cây 3 năm tuổi trở lên). Thường đào lấy rễ cây đinh lăng vào mùa thu hoặc đã sang đông. Vì thời gian này hoạt chất tập trung ở rễ và rễ cũng mềm hơn.
Sau khi lấy rễ, rửa sạch, băm nhỏ rồi phơi khô hoặc sấy khô. Khi sao có thể tẩm rượu rồi sao. Thân và lá cây đinh lăng cũng có thể dùng làm thuốc. Lá đinh lăng non được dùng ăn sống với nem chua hoặc gỏi cá. Luộc chấm muối vừng ăn như một thứ rau rất ngon, bùi và bổ.
Các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu dùng đinh lăng bào chế ra thuốc tăng lực. Thuốc có tác dụng kích thích ăn ngon miệng, ngủ tốt, lên cân, sức khoẻ được phục hồi nhanh, nhất là sau khi mổ hoặc vừa ốm dậy. Đinh lăng bào chế thành thuốc bột, viên thành viên hoặc ngâm rượu dùng rất an toàn, không có độc tố. Đinh lăng còn có tác dụng an thần, chống sốt rét. Rễ cây đinh lăng còn trị được ho, lợi tiểu, thông sữa chữa kiết lỵ. Đinh lăng giã nát để đắp lên vết thương. Lá đinh lăng pha như pha trà uống hàng ngày rất tốt. Dùng rễ đinh lăng pha như pha trà uống hàng ngày còn tốt hơn, nhiều hoạt chất hơn.
Thuốc quý từ cây đinh lăng
Trong cây đinh lăng, người ta đã tìm thấy được các chất như alcaloit, glucoxit, saponin, tanin, vitamin B1 và 13 loại axit amin, đặc biệt có những axit amin quý không thay thế được như: lyzin, xystei, methionin. Cây trồng lâu năm có đủ giá trị dược dụng (thường cây sống trên 10 năm trở lên). Để có đủ tất cả tính dược lẫn hoạt chất, cây phải sống trên 60 năm. Cây già cổ sống đến hàng trăm năm có đủ linh khí và trở nên quý hiếm. Về mặt dược dụng, toàn cây đều có tác dụng bổ 5 tạng, giải độc, tiêu thực, tiêu sưng viêm, bổ huyết, tăng sữa.
Vị thuốc đinh lăng không gây nghiện và nhờn thuốc, it độ do không làm tăng huyết áp, luôn ổn định được nhịp tim. Rễ có vị ngọt tính bình, chứa nhiều hoạt chất hơn thân và lá. Lá có vị nhạt hơi đắng và cũng có tính bình. Về tính năng, cây đinh lăng là cây thuốc bổ tăng lực, cường tráng, giúp hô hấp tốt, làm tăng sức chịu đựng của cơ thể, giúp mau chóng phục hồi sức lực, chữa kiệt sức làm cho nhịp tim sớm trở lại bình thường (dùng tốt cho những người lao tâm lao lực, luyện tập trong và sau khi thi đấu thể dục thể thao), chống chịu với gia tốc (đi phi thuyền, máy bay, tàu xe..) chịu sức nóng và giúp điều nhiệt (làm việc trong hầm lò, đi thực địa hoặc du khảo ngoài trời, lao động trên công trường, trên độ cao, ngoài đảo xa), chịu áp suất lớn (thợ lặn sâu), tăng sức đề kháng đối với bức xạ siêu cao tần (nhân viên làm việc ở các đài phát thanh, truyền hình, trực ra đa), chống stress, giúp thư giãn và giảm cuồng (trong điều trị bệnh tâm thần). Riêng đối với người bệnh suy mòn, kiệt sức, dùng đinh lăng giúp chóng phục hồi cơ thể, giúp ăn ngon, ngủ tốt, tăng cân. Đối với phụ nữ, làm tăng co bóp tử cung, tăng hưng phấn, giúp thụ thai.
Trong y học cổ truyền thường dùng làm thuốc bổ, trị suy nhược cơ thể, giải độc, tiêu hóa kém, dùng cho phụ nữ chậm mang thai và dùng sau khi sinh đẻ bị thiếu sữa, sản hậu, huyết xông, nhức mỏi tay chân, hỗ trợ sức khoẻ cho người già, trị bệnh phong thấp và bồi bổ cho trẻ con. Ngoài ra còn được dùng làm thuốc chữa bệnh, chữa ho, ho ra máu, chữa kiết lỵ, thông tiểu. Thân và cành cũng được dùng chữa phong thấp, đau lưng. Lá chữa cảm sốt, mụn nhọt, sưng tấy, viêm vú.
Trong dân gian, lá đinh lăng được dùng để lót gối trải giường cho trẻ em đề phòng kinh giật. Đinh lăng còn được dùng để xông ra mồ hôi do cảm phong hàn và chữa chứng chóng mặt, nhai nuốt với một ít phèn chua để trị hóc xương cá, dùng tươi giã nát đắp ngoài trị viêm thần kinh, thấp khớp, các vết thương trầy xước. Đinh lăng còn làm săn da và dưỡng da mặt.
Cách thu hái và chế biến: vào mùa xuân, thu hái rễ to để lột lấy vỏ hoặc thu toàn bộ rễ nhỏ rửa sạch đất cát, đồ chín, thái nhỏ, phơi hay sấy khô là được. Khi dùng nên tẩm nước gừng tươi 5%, sao qua bằng lửa nhỏ rồi tẩm bột mật ong để sử dụng ngay trong một hai ngày. Lá non dùng làm rau ăn ghém, ăn gỏi. Lá già hãm trà hoặc sắc thuốc uống nóng.
- Chữa chứng nóng sốt lâu ngày, nhức đầu, khát nước, ho, tức ngực, tiểu tiện vàng: đinh lăng 30 g, cam thảo 30 g (có thể thay bằng cam thảo đất – cam thảo nam 30 g), vỏ quýt 10 g, lá tre tươi 20 g, rau má tươi 30 g, me chua đất 20 g rồi cho vào nồi đổ ngập nước sắc còn 250 ml chia uống 3 lần trong ngày (có thể thêm sài hồ: lá, rễ, cành – 20 g). Nếu cần tăng cường thong tiểu nhanh trong khi sắc nên bỏ sài hồ và giảm rau má, me chua đất, thêm 50 g rễ tranh hoặc 100 g mía lau và 20 g mã đề (trong trường hợp cấp cứu, không đào được rễ tranh, có thể dùng lá tre và lá tranh để sắc chung cũng hữu hiệu cấp thời).
- Chữa bệnh mệt mỏi, biếng hoạt động: bột rễ đinh lăng 0,5 g đun với 100 ml nước/uống ngày 3 lần. Thông tia sữa, căng vú: rễ đinh lăng 30 – 40 g sắc với 500 ml còn 25 ml, hâm nóng chia ra uống nhiều lần (5 – 8 lần trong ngày), uống trong 2 – 3 ngày. Giúp tăng sữa: lá tươi 50 – 100 g băm nhuyễn với bong bóng lợn trộn với gạo nếp nấu cháo cho sản phụ ăn sẽ tăng nhiều sữa.
- Chữa vết thương trầy xước: rửa sạch vết thương bằng cồn nhẹ và giã nát một nắm đinh lăng đã rửa sạch bằng nước pha cồn dùng đắp từ ngoài rìa vào trong. Vết trầy mau chóng lành và chóng kéo da non. Ngoài ra, người phụ nữ trước và sau khi mang thai dùng định kỳ các bộ phận của cây đinh lăng sẽ giúp an thai trong thai kỳ, sinh nở dễ dàng, cho nhiều sữa tốt, em bé về sau có hệ cơ và hệ tuần hoàn khoẻ mạnh, góp phần giúp trẻ phát triển trí thông minh (cấm dùng cho phụ nữ đang mang thai).
Tác giả: Ks. Lê Thường
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Bài đăng phổ biến
-
Ngày 29/11, TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã tuyên phạt Nguyễn Văn Quân (26 tuổi, quê Thanh Hóa) tù chung thân về tội hiếp dâm trẻ em. Nạn nhân ...
-
Thêm một hồi chuông báo động nữa về cách sống buông thả của một bộ phận giới trẻ Ngày hôm qua, một đoạn clip dài hơn 30 giây ghi lại hình ản...
-
Hiện nay, không ít người dân có thói quen dùng thuốc bổ khi cảm giác là mình có vấn đề về sức khoẻ. Hay người ta uống thuốc bổ đơn giản vì n...
-
Thành Lộc và Thúy Hạnh bức xúc khi thí sinh Hoàng Duy Dũng giả gái, uốn éo cợt nhả. Trong vòng loại sân khấu Vietnam's Got Talent mùa t...
-
Heroes Lore: Wind of Soltia là một trò chơi thể loại RPG đỉnh cao trên nền điện thoại di động. Xuất xứ từ Hàn Quốc và đã nổi tiếng tại rất n...
-
50% bà mẹ bị tăng đường huyết trong ba tháng cuối của thai kỳ Ai cũng rõ thai phụ cần được cung cấp nhiều dưỡng chất trong suốt giai đoạn 9 ...
-
Đỗ Xuân Sơn và Dương Trần Nghĩa của đội Thu Minh phải đấu loại trực tiếp. Cặp Sing-off ở đội Trần Lập là Văn Thắng và Thùy Linh. Hương Tràm ...
-
Sau hai lần dùng quyền đưa Bá Lộc đi tiếp, nữ huấn luyện viên quyết định chia tay chàng trai có thân hình mỏng manh ở đêm Liveshow 8 tối 9/1...
-
Đọc một cuốn “bí kíp phòng the” thấy nói đến nghệ thuật kìm xuất tinh để giữ phong độ, anh Thạch (Long Biên, Hà Nội) đã cố luyện theo. Sau m...
-
Top 3 đã lộ diện gồm Thiên Trang, Kha Mỹ Vân và Mai Giang. Họ hoàn toàn xứng đáng với những nỗ lực không ngừng nghỉ suốt chặng hành trình vừ...