Thứ Tư, 25 tháng 5, 2011

Ghẻ và cách điều trị trong cộng đồng

(Dân trí) - Ghẻ là một bệnh do côn trùng gây nên. Bệnh thường được ghi nhận ở những nơi có quần thể dân cư sống đông đúc, chật chội, điều kiện vệ sinh thấp kém, ăn ở không sạch sẽ... Trẻ con là đối tượng có nhiều nguy cơ bị mắc bệnh ghẻ nhất.



Cái ghẻ và các biểu hiện đặc trưng của bệnh ghẻ (Ảnh:CIMSI)

Đặc điểm của loài ghẻ

Ghẻ có tên khoa học Sarcaptes scabiei gây triệu chứng ngứa trên da người và thường được gọi là bệnh ghẻ. Nhiễm bệnh ghẻ được phát hiện phổ biến và lưu hành khá rộng rãi ở khắp nơi trên toàn cầu.

Ghẻ có kích thước nhỏ khoảng 0,2 - 0,4mm và gần như không thể thấy bằng mắt thường. Trên thực tế, hầu như toàn bộ đời sống của ghẻ ký sinh ở trên da và trong da của con người. Để sinh trưởng, phát triển và đẻ trứng; ghẻ đào những đường ngầm quanh co trong mặt da. Những đường ngầm này mỗi ngày dài thêm khoảng từ 1 - 5mm và có thể nhìn thấy ở trên da những đường xoắn mỏng dài chừng một vài milimét (mm) đến một vài centimét (cm). Thời gian phát triển từ trứng đến ghẻ trưởng thành ít nhất có thể mất khoảng 2 tuần lễ.

Những ghẻ cái có thể sống ký sinh trên cơ thể người từ 1 đến 2 tháng. Nếu rời khỏi cơ thể vật chủ ký sinh, ghẻ chỉ có khả năng sống được vài ngày. Ghẻ có đặc điểm thường ký sinh ở những chỗ da mỏng và có nếp gấp như các kẽ ngón tay, cạnh bàn tay, bàn chân, khuỷu tay, nếp gấp đầu gối, dương vật, vú và bả vai. Ở trẻ con, ghẻ cũng có thể thấy ở mặt và các nơi khác.

Sự lây truyền bệnh và triệu chứng

Ghẻ thường lây truyền trực tiếp do việc tiếp xúc gần gũi giữa con người với con người như những người cùng ngủ chung một giường.

Hầu hết sự lây truyền bệnh ghẻ xảy ra mang tính chất gia đình vì nếu một thành viên trong nhà bị bệnh ghẻ thì khả năng những người khác trong gia đình sẽ bị mắc bệnh ghẻ theo.

Khi bị mắc bệnh ghẻ, triệu chứng ban đầu xuất hiện chỉ là một vết đỏ, hơi nhô lên và ngứa dữ dội. Tiếp theo là sự hình thành các nốt, bọng nước nhỏ, rồi các nốt và bọng nước nhỏ này bị vỡ ra ở trên bề mặt của da. Do ngứa nên người bị mắc bệnh ghẻ thường phải gãi ngứa dẫn đến chảy máu và dịch trong các bọng ghẻ, làm ghẻ có điều kiện phát tán.

Việc gãi ghẻ nhiều, thường xuyên và triền miên gây ra sự bội nhiễm hay nhiễm trùng thứ phát như nhọt đầu đinh, nhọt mủ, eczema. Một đợt ghẻ xâm nhập ào ạt điển hình gây nên dị ứng có thể phát triển ở trên những vùng của cơ thể mà thông thường không bị nhiễm ghẻ như vùng mông, xung quanh thắt lưng, bả vai.

Khi mới bị nhiễm ghẻ, triệu chứng ngứa và lan rộng chưa rõ ràng, sau khoảng từ 4 - 6 tuần thì triệu chứng lâm sàng mới xuất hiện rõ. Đối với những người mới bị nhiễm ghẻ lần đầu tiên thì sự phát triển lan rộng có thể chỉ vài ngày.

Phương pháp thông thường xác định sự nhiễm ghẻ là dùng mũi dao nhọn, nhỏ để cạy phá vài chỗ da bị nhiễm bệnh, lấy bệnh phẩm chuyển sang một phiến lam kính và soi trên kính hiển vi để phát hiện. Có thể dùng dầu mỏ để thu thập và kiểm tra sự nhiễm ghẻ. Một phương pháp khác là dùng mực viết bôi vào vùng da bị nhiễm bệnh và sau đó rửa sạch đi, kiểm tra sẽ phát hiện ra các hang ghẻ ký sinh.

Cách điều trị bệnh ghẻ

Gần đây, thuốc Ivermectin, một loại thuốc dùng để điều trị nang sán và giun chỉ bạch huyết được phát hiện cũng có tác dụng điều trị đối với bệnh ghẻ. Thuốc được điều trị bằng liều độc nhất 100 đến 200µg cho 1 kg trọng lượng cơ thể.

Phương pháp điều trị quy ước là sử dụng các loại hóa chất diệt côn trùng thông thường như Benzyl benzoat 10% dạng nước xức, Lindane 10% dạng nước xức, Crotamiton 10% dạng kem và Permethrin 5% dạng kem. Permethrin là loại hóa chất hiện tại được khuyến cáo sử dụng để điều trị bệnh ghẻ vì nó có tác dụng tốt và ít tác dụng phụ.

Sau khi điều trị thành công, đôi khi triệu chứng ngứa vẫn còn tiếp tục xảy ra nhưng rồi cuối cùng sẽ hết hoàn toàn. Các loại hóa chất có thể sử dụng để xức trên da ở tất cả các phần của cơ thể từ cổ trở xuống, không chỉ ở những chỗ bị ngứa.

Nguyên tắc sử dụng để có hiệu quả là sau khi xức hóa chất, ngày hôm sau mới được rửa đi. Người được điều trị có thể mặc áo quần khoảng sau 15 phút để hóa chất có thời gian khô đi. Hầu hết những phương pháp điều trị đều cho đáp ứng tốt, bệnh có thể khỏi hoàn toàn nhưng đôi khi cũng cần điều trị đợt hai cách một thời gian sau đó khoảng từ 2 - 7 ngày.

Một điều cần thận trọng là không nên điều trị bằng thuốc hóa chất diệt côn trùng quá nhiều vì sẽ bị ảnh hưởng bởi độ độc của một số hợp chất. Vì ghẻ là một bệnh lây lan có tính chất gia đình nên việc điều trị cho cả nhà là vấn đề cần thiết để ngăn ngừa sự tái nhiễm bệnh ghẻ.

BS. Nguyễn Võ Hinh
GĐ TT Phòng chống Sốt rét-KST-CT Thừa Thiên Huế

Bệnh ghẻ và thuốc chữa



Bệnh ghẻ do ký sinh trùng Sarcoptes Scabiei gây nên, hay gặp vào mùa xuân hè. Ở những nước kém phát triển, điều kiện dinh dưỡng và vệ sinh kém, bệnh có thể lây thành dịch địa phương. Ở nước ta, bệnh vẫn còn lưu hành khắp các vùng trong cả nước. Ngay cả những thành phố lớn, bệnh ghẻ vẫn tồn tại.

Con cái ghẻ có kích thước từ 0.3 - 0.5 mm. Cái ghẻ xâm nhập vào đường biểu bì da, đào hầm và đẻ trứng. Chúng đẻ từ 2 - 3 trứng/ngày và đẻ liên tục trong 4 - 6 tuần liền. Ghẻ đực chết ngay sau khi hoàn thành nghĩa vụ phối giống và ghẻ cái cũng chết sau khi đã đẻ hết số trứng của mình. Trứng nở thành ấu trùng và phát triển thành con trưởng thành chỉ trong vòng 3 - 4 ngày.

Bệnh ghẻ lây qua tiếp xúc trực tiếp với người bị ghẻ, nằm chung giường, mặc chung quần áo, dùng chung khăn tắm, tổn thương ghẻ thường ở vùng da mỏng có nhiều nếp nhăn. Chính vì vậy mà bệnh ghẻ được xếp vào nhóm bệnh lây truyền qua đường tình dục. Cái ghẻ có thể sống ngoài cơ thể được 2 - 3 ngày.

Khi bị ghẻ, người bệnh có các triệu chứng: ngứa nhiều về đêm, ngứa tăng khi trời nóng, lao động, thể thao. Mụn nước ở vị trí đặc hiệu, kẽ ngón tay, lằn chỉ cổ tay, nếp gấp bàn tay, vùng thắt lưng, cạp quần, bẹn đùi, sinh dục, nách, núm vú ở phụ nữ. Điều đặc biệt là ghẻ không thấy ở mặt, đầu và 1/3 trên lưng. Đối với trẻ em dưới 2 tuổi, ghẻ có thể bị toàn thân. Có thể dùng kính lúp soi bắt được cái ghẻ nằm ở cuối đường hầm trong da.

Thuốc chữa ghẻ có nhiều loại:

- Đông y thường dùng lá cây ba gạc, lá đào đun nước tắm, nhựa cây máu chó bôi tại chỗ, tắm nước muối, tắm biển...

- Tây y có thể dùng một trong những loại thuốc sau:

D.E.P. (dietyl phtalat) là thuốc chống muỗi vắt đốt nhưng có tác dụng diệt cái ghẻ nhanh và rẻ tiền, ít độc tính. Bôi ngày 2 - 3 lần. Thuốc không nên dùng cho trẻ nhũ nhi và không bôi vào bộ phận sinh dục.

Benzyl benzoat (Ascabiol, scabitox, zylate) là thuốc rất tốt, độ an toàn cao. Bôi, xịt ngày 2 lần cách nhau 15 phút. 24 giờ sau, tắm gội giặt quần áo.

Eurax (crotamintan) 10%, thuốc bôi có tác dụng chống ngứa và diệt cái ghẻ. Cứ 6 - 10 giờ bôi 1 lần thuốc an toàn có thể bôi vào sinh dục và trẻ nhũ nhi.

Permethrin cream 5% (Elimite) là thuốc chữa ghẻ ít độc tính nhất có thể dùng cho trẻ em và phụ nữ có thai.

Lindane (gamma – benzen hexachlorid, kwell) xịt thuốc vào toàn bộ da từ cổ xuống chân. Sau 8 - 12 giờ, tắm rửa thay quần áo, xịt thuốc 2 lần/1 tuần thuốc chứa ghẻ nhanh nhưng độc với thần kinh nên không dùng cho trẻ nhỏ và phụ nữ có thai.

Đối với ghẻ vảy, ngoài thuốc bôi tại chỗ còn phải dùng thêm thuốc uống như ivermactin (đây là thuốc được dùng để điều trị giun chỉ từ năm 1987 nhưng lại rất hiệu quả và an toàn trong điều trị ghẻ, đặc biệt là ghẻ vảy).

Lưu ý khi điều trị ghẻ, phải điều trị cho cả những người sống chung trong gia đình hoặc trong cùng đơn vị, ký túc xá sinh viên, tẩy uế quần áo, ga gối. Trong mùa hè phơi quần áo, ga, gối 3 - 4 nắng. Quần áo giặt để 1 tuần sau mặc lại.

ThS. Đỗ Xuân Khoát

Bệnh sởi (3 bài)

Bài 1. Phòng và điều trị bệnh sởi


Bệnh sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính đường hô hấp, rất dễ lây, thường gặp ở trẻ em. Bệnh biểu hiện bằng tình trạng viêm long ở kết mạc mắt, niêm mạc đường hô hấp, đường tiêu hóa và phát ban đặc hiệu ngoài da.

Tác nhân gây bệnh là virus thuộc nhóm RNA paramyxovirus. Virus sởi xâm nhập niêm mạc đường hô hấp trên, vào máu, sinh sản ở hệ lưới mô bào. Virus có mặt ở họng và máu bệnh nhân từ cuối thời kỳ ủ bệnh cho đến sau khi ban mọc một thời gian; và có thể tồn tại trong không khí ít nhất 34 giờ, nhưng không chịu được khô hanh.

Trẻ ốm làm lây bệnh mạnh nhất trong thời gian trước khi ban mọc. Mọi trẻ chưa có miễn dịch với sởi đều có thể nhiễm virus sởi, song lứa tuổi mắc nhiều nhất là 2-6 tuổi. Suy dinh dưỡng làm trẻ dễ mắc sởi, nhưng rồi bệnh sởi lại là thủ phạm gây suy dinh dưỡng hoặc làm cho tình trạng suy dinh dưỡng nặng thêm.

Bệnh sởi lây rất nhanh, 90% số trẻ tiếp xúc với trẻ mắc sởi sẽ bị lây bệnh. Virus sởi có thể theo nước bọt người bệnh bắn ra ngoài truyền trực tiếp cho người khác trong phạm vi bán kính 1,2 m mỗi khi ho, hắt hơi, nói chuyện; hoặc theo những giọt nhỏ li ti lơ lửng trong không khí, sau đó xâm nhập niêm mạc đường hô hấp trẻ khác.

Bệnh có thể gặp ở mọi nơi và quanh năm nhưng mùa mưa nhiều hơn mùa nắng, dễ bùng lên thành dịch theo chu kỳ 2-4 năm một lần.

Ở thể thường, bệnh lành tính. Thời kỳ ủ bệnh chừng 10-12 ngày, có khi ngắn hơn (7 ngày), có khi dài hơn (20 ngày), thường không có biểu hiện gì. Trong một số trường hợp sau khi tiếp xúc với trẻ ốm, trẻ sốt nhẹ trong 5-6 ngày rồi khỏi, và 3-4 ngày sau mới sốt cao và chảy nước mắt nước mũi, hoặc đi tướt, trớ. Trẻ sơ sinh có thể bị xuống cân mặc dù trẻ vẫn bú bình thường.

Tiếp đến là thời kỳ khởi phát, dài 4-5 ngày. Hai triệu chứng nổi bật là sốt và viêm long. Trẻ đột ngột sốt cao 39-39,5 độ C, vẻ mệt mỏi, kèm theo nhức đầu, đau cơ, khớp; chảy nước mũi, chảy nước mắt, mắt đỏ, ho nhiều, ho khan, có khi bị tiêu chảy.

Sang ngày thứ hai, các triệu chứng trên nặng thêm. Trẻ ho nhiều, ho khan, đôi khi ho từng cơn, khàn giọng. Có khi bệnh bắt đầu bằng những cơn thở rít (do viêm thanh quản): trẻ chỉ hơi sổ mũi, ban đêm bỗng nổi cơn ho, vùng dậy mê hoảng tưởng như nghẹt thở, nhưng rồi cơn lui dần và trẻ lại nằm ngủ; có khi gần sáng lại lên cơn nữa và khi hết hẳn thì bắt đầu mọc sởi. Lúc này, khám miệng thấy trên nền đỏ thẫm của niêm mạc má có những chấm trắng nhỏ độ 1mm hơi nổi gợn lên (dấu hiệu Koplik). Có khi chỉ có 2-3 nốt ở phần niêm mạc má đối diện với răng hàm số 1. Các nốt này chỉ tồn tại 24-48 giờ và thường lặn hết sau khi sởi mọc 1 ngày.

Thời kỳ mọc sởi (5-7 ngày)

Các triệu chứng nặng hẳn lên, thân nhiệt tăng vọt, trẻ có thể sốt tới 40 độ C, ho liên tục, co giật, mê sảng... rồi đến đêm thì mọc sởi. Phần nhiều ban mọc ở sau tai, chân tóc rồi lan dần theo trình tự: mặt, cổ, lưng, bụng và chân tay.

Đến ngày thứ ba, ban mọc khắp người, ban mọc dầy nhất ở những nơi hay cọ xát hoặc phơi nắng. Có khi các nốt ban hợp với nhau thành từng vầng. Các nốt sởi hình tròn hoặc bầu dục, có màu đỏ hồng nhạt, sờ vào mịn như nhung, ấn vào biến mất, da xung quanh vẫn bình thường. Khi sởi mọc hết thì trẻ hết sốt và sởi bắt đầu bay. Ban sởi bay cũng theo trình tự như khi mọc, để lại các vết thâm và bong da nhỏ như rắc phấn nom vằn như da hổ. Các vết thâm kéo dài khoảng 1 tuần lễ mới hết. Có thể trẻ vẫn còn đau mắt, sổ mũi, quấy khóc, không chịu ăn.

Thời kỳ hồi phục

Trẻ lại sức dần. Thường sau 1 tuần ban sởi bay hết và chỉ sau 2 tuần trẻ trở lại bình thường.

Trên đây là bệnh cảnh lâm sàng của các trường hợp sởi lành tính. Trong thực tế đôi khi gặp sởi ác tính: ban mọc ít, trẻ sốt cao, mê sảng, xuất huyết, đi tiểu ít... có thể dẫn đến tử vong; hoặc biến chứng do bội nhiễm vi khuẩn gây viêm tai giữa, viêm phế quản - phổi, viêm thanh quản (xảy ra sớm, trong những ngày đầu khi mới mọc sởi), viêm não, sơ nhiễm lao hoặc lao tiến triển, viêm cơ tim, viêm miệng hoại tử, khô loét giác mạc do thiếu vitamin A. Điều đáng quan tâm là sau sởi trẻ dễ bị suy dinh dưỡng nặng.

Về điều trị, hiện chưa có thuốc đặc trị. Chủ yếu là điều trị triệu chứng, chăm sóc, phòng ngừa và điều trị biến chứng. Với thể sởi lành tính, điều trị tại nhà. Cách ly trẻ tại phòng riêng ngay khi trẻ mới sốt và viêm long; bảo đảm thoáng, sáng, tránh gió lùa; không cho tiếp xúc với những trẻ khác. Hằng ngày vệ sinh da dẻ, răng - miệng, mắt để tránh nhiễm khuẩn, lở loét da: rửa mặt, lau mắt, lau người bằng nước ấm; thường xuyên lau miệng bằng khăn sạch, mềm (nhúng nước đã đun sôi để nguội). Với trẻ lớn, cho súc miệng nước muối (pha loãng có độ mặn như nước mắt). Nhỏ mắt, nhỏ mũi thuốc kháng sinh.

Cho ăn nhẹ, đủ chất; cho uống nhiều nước (dung dịch oresol, nước quả tươi) khi trẻ sốt cao, tiêu chảy. Với trẻ đang bú, tiếp tục cho bú mẹ. Trẻ đang ăn bổ sung, ngoài sữa mẹ cần ưu tiên trẻ khẩu phần đủ chất dinh dưỡng nhất là những thực phẩm giàu protid và caroten.

Cho uống thuốc giảm ho. Trẻ sốt cao lau khăn ấm, cho uống paracetamol, thuốc an thần.

Không dùng thuốc kháng sinh cho trẻ bị sởi với mục đích dự phòng biến chứng vì dễ gây loạn khuẩn và dị ứng. Chỉ khi trẻ bị viêm tai giữa, viêm thanh - khí - phế quản, viêm phổi do bội nhiễm vi khuẩn mới cho dùng thuốc kháng sinh; và chỉ dùng khi có chỉ định của thầy thuốc.

Để đề phòng khô mắt do thiếu vitamin A, có thể cho trẻ uống vitamin A 100.000 đơn vị trong hai ngày đầu. Sau khi sởi bay cho uống thêm một liều như thế.

Chú ý theo dõi thân nhiệt hằng ngày, nhất là khi sởi bay có thể xảy ra biến chứng. Khi sởi bay mà trẻ vẫn sốt cần phải nghĩ đến biến chứng và đưa trẻ đi bệnh viện ngay.

Cần tiêm phòng vacxin sởi cho trẻ theo lịch sau:

Mũi 1: Khi trẻ tròn 9 tháng tuổi.

Mũi 2: Tiêm nhắc lại trong chiến dịch tiêm nhắc vacxin sởi.

BS. NGUYỄN LONG CHÂU, Sức khỏe và Đời sống

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

Bài 2. Món ăn - thuốc cho trẻ bị bệnh sởi


Bệnh sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, phát sinh và lây lan thường vào mùa đông-xuân. Bệnh thường gặp ở trẻ em từ 1 – 5 tuổi. Nguyên nhân là do người bệnh bị nhiễm virut gây bệnh sởi. Đông y chia bệnh sởi làm 3 giai đoạn. Sau đây là một số món ăn cho trẻ tùy theo từng giai đoạn của bệnh.

Giai đoạn 1:

Bệnh nhân sốt, hắt hơi, sổ mũi nghẹt mũi, ho, mắt đỏ, chảy nước mắt, ở niêm mạc miệng và khoang miệng, hai gò má xuất hiện các nốt mẩn màu trắng, viền ngoài hơi hồng.

Bài 1: Nước rau mùi: rau mùi tươi 25g. Rau mùi tươi cả rễ rửa sạch cắt nhỏ cho vào nồi thêm 250ml nước, đun sôi kỹ 1 – 2 phút, chắt lấy nước chia 3 lần uống trong ngày, chỉ uống 1 – 2 ngày đầu khi mới mắc bệnh.

Bài 2: Canh đậu phụ

: đậu phụ 1 miếng khoảng 200g, rau mùi non 25g, dầu thực vật bột ngọt, bột gia vị vừa đủ. Đậu phụ cắt miếng nhỏ, rán bằng dầu thực vật cho vàng. Rau mùi rửa sạch cho vào nồi, thêm 250ml nước sôi, đun nhỏ lửa, canh sôi cho đậu phụ, bột ngọt, bột gia vị vào đảo đều, canh sôi lại là được. Cho bệnh nhân ăn ngày 1 lần lúc đói, có thể ăn với cơm, chỉ ăn 1 – 2 ngày đầu mới bị sởi.

Giai đoạn 2:

Bệnh nhân sốt cao kéo dài, ho tăng, nặng tiếng, miệng khát, người khó ở trằn trọc, xuất hiện các nốt mẩn nhỏ màu đỏ gồ cao hơn mặt da, sờ vào thấy gợn ở tay ở đầu, trán, cổ, mặt. Mụn phát triển dày dần lên và lan xuống ngực, bụng, chân tay, long bàn chân bàn tay, cuối giai đoạn này sốt có phần giảm.

Bài 1: Nước cỏ tranh: rễ cỏ tranh 50g, vỏ mía xanh 100g. Rễ cỏ tranh nhặt kỹ rửa sạch, cắt nhỏ. Vỏ mía xanh rửa sạch cắt khúc, cả hai cho vào nồi, thêm 250ml nước đun sôi kỹ chắt lấy nước chia 3 lần uống trong ngày. Chỉ uống 1 – 2 ngày trong giai đoạn sởi mọc có sốt cao và trằn trọc không ngủ được.

Bài 2: Nước củ cải: củ cải 150g, đường phèn 15g. Củ cải rửa sạch ép lấy nước, cho đường phèn vào, hấp cách thủy cho chín và tan hết đường, để nguội chia hai lần uống trong ngày. Cần uống 1 – 2 ngày liền trong thời kỳ sởi mọc, ho có nhiều đờm.

Bài 3: Nước lê tươi: lê tươi 1 quả khoảng 200g, đường phèn 10g. Lê tươi rửa sạch cắt ở phần gần núm tạo thành một cái nắp, khoét bỏ một phần ruột quả, cho đường phèn vào đậy nắp lại, ghim chặt, đem hấp cách thủy. Khi lê chín đem ép lấy nước chia 3 lần uống trong ngày. Uống liền 2 – 3 ngày trong thời kỳ sởi mọc có sốt cao và ho.

Giai đoạn 3

(còn gọi là thời kỳ sởi bay): Các mụn mẩn lặn theo thứ tự từ đầu, mặt, cổ xuống tới chân tay, sốt giảm dần, bệnh nhân ho khan ít đờm, trên mặt da bong rụng dạng như mạt cám, cơ thể thấy thoải mái, người bệnh khỏe dần trở lại.

Bài 1: Cháo kê: kê hạt 50g, hạt sen cả tâm 30g, đường phèn 10g. Hạt kê bỏ vỏ cho vào nồi thêm 250ml nước ninh nhừ thành cháo. Hạt sen bỏ vỏ xanh thành bột mịn, khi cháo kê chín nhừ cho bột hạt sen, đường phèn vào khuấy đều, cháo sôi lại là được. Cho bệnh nhân ăn ngày hai lần lúc đói, cần ăn liền 3 – 4 ngày để phục hồi sức khỏe sau khi sởi bay, giảm trằn trọc, khó ngủ.

Bài 2: Cháo cà rốt: cà rốt 50g, củ mài 25g, lá dâu non 10g, gạo tẻ 50g, đường phèn 15g. Cà rốt rửa sạch. Củ mài, gạo xay nhỏ cho vào nồi thêm 400ml nước đun trên lửa nhỏ. Lá dâu rửa sạch thái nhỏ, khi cháo chín cho lá dâu, đường phèn vào quấy đều, cháo sôi lại là được. Bệnh nhân ăn ngày hai lần lúc đói, cần ăn liền 4 – 5 ngày. Tác dụng: tiệt nọc sởi, loại trừ biến chứng ho kéo dài và đờm khò khè ở cổ.

Chú ý: Khi trẻ mắc bệnh sởi, cha mẹ cần chú ý cho trẻ ăn uống thanh đạm dễ tiêu hóa, giàu dinh dưỡng, ăn nhiều quả tươi, rau xanh. Đặc biệt cần cho bệnh nhân uống đủ nước để góp phần lưu thông tuần hoàn huyết dịch, sởi mọc hết và bay nhanh, xuất hết độc tố của sởi; không cho trẻ ra gió lạnh, tắm rửa bằng nước ấm ở nơi kín gió.

Lương y Đình Thuấn

Theo http://suckhoedoisong.vn, 26/2/2011

Bài 3. Nhận biết sớm và phòng ngừa bệnh sởi


Sởi là một bệnh truyền nhiễm do virut gây ra và dễ bùng phát thành dịch, thường gặp ở trẻ em. Bệnh xảy ra quanh năm và lây truyền theo đường hô hấp. Những trẻ chưa có hoặc không có đủ đáp ứng miễn dịch với sởi thường rất dễ mắc bệnh khi tiếp xúc với nguồn lây. Trẻ em dưới 6 tháng tuổi ít khi mắc sởi vì đang có kháng thể của mẹ truyền qua nhau thai. Sau đó kháng thể của mẹ ở trẻ sẽ giảm dần khi trẻ lớn. Đây là lý do tiêm chủng phòng sởi thường được thực hiện trước 12 tháng.

Các biểu hiện đặc trưng của sởi bao gồm viêm long ở kết mạc mắt, niêm mạc đường hô hấp và tiêu hóa, sau đó phát ban đặc hiệu ngoài da, thường để lại nhiều biến chứng nặng cho trẻ em nếu không được điều trị kịp thời.

Làm thế nào để nhận biết và phát hiện sớm bệnh sởi?

Nếu trong gia đình có một người bị bệnh thì có đến 90% những người chưa có miễn dịch sẽ bị nhiễm bệnh. Sau khi tiếp xúc với mầm bệnh, người bệnh thường trải qua giai đoạn ủ bệnh kéo dài từ 10 - 12 ngày mà không hề có triệu chứng.

Tiếp theo đó là giai đoạn viêm long đặc trưng bởi sốt mức độ nhẹ đến vừa, ho khan, chảy nước mũi, viêm kết mạc mắt. Những triệu chứng này hầu như luôn luôn xảy ra trước khi nội ban xuất hiện. Nội ban thường xuất hiện ở vòm miệng, là những hạt nhỏ bằng hạt cát, màu trắng ngà, xung quanh có viền đỏ. Hạt thường xuất hiện và biến mất nhanh trong vòng 12 - 24 giờ. Nội ban hay hạt Koplik là dấu hiệu đặc trưng của bệnh, nếu nhìn thấy được hạt Koplik gần như chắc chắn kết luận được bệnh nhân có mắc sởi. Đôi khi giai đoạn này biểu hiện bằng những triệu chứng nặng nề như sốt cao, co giật hoặc thậm chí viêm phổi.

Sau giai đoạn viêm long là giai đoạn phát ban đặc trưng của sởi. Đây là giai đoạn điển hình nhất của bệnh với triệu chứng phát ban tuần tự trên da. Ban thường xuất hiện đầu tiên ở vùng chân tóc phía sau tai, sau đó xuất hiện ở mặt và lan dần xuống phía dưới trong vòng 24 - 48 giờ. Ban sởi là những ban dạng dát - sẩn hơi nổi lên trên bề mặt da, sờ mịn như nhung và không đau, không hoặc ít ngứa, không sinh mủ. Trường hợp nhẹ, ban thường đứng gần nhau nhưng riêng rẽ. Trường hợp nặng, ban có xu hướng hợp với nhau làm thành những ban lớn hơn, thậm chí từng mảng. Khi ban lan đến chân thì sốt cũng đột ngột giảm đi nếu không có biến chứng. Sau đó ban cũng nhạt dần và mất đi đúng theo tuần tự nó đã xuất hiện, nghĩa là cũng từ trên xuống dưới. Sau khi ban mất đi, trên da còn lại những dấu màu sậm lốm đốm thường được gọi là vết vằn da báo. Một số trường hợp bệnh sởi biểu hiện không giống như miêu tả ở trên như trong trường hợp bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, ban có thể không điển hình. Dạng bệnh này thường là bệnh nhân AIDS, hội chứng thận hư, điều trị thuốc ức chế miễn dịch...

Các biến chứng thường gặp do sởi

Các biến chứng thường gặp là viêm phổi, viêm tai giữa, viêm thanh quản, viêm não, cam tẩu mã, viêm ruột kéo dài dẫn đến tình trạng tiêu chảy liên tục, loét giác mạc, suy dinh dưỡng.

Phòng bệnh như thế nào?

Khi phát hiện có trẻ mắc sởi, cần cách ly trẻ bệnh với các trẻ lành. Người chăm sóc trẻ bệnh phải rửa tay trước và sau mỗi lần tiếp xúc, rồi mới được tiếp xúc với trẻ lành.

Hiện nay có vaccin tam liên sởi - quai bị - rubella tiêm phòng cho trẻ mũi đầu khi trẻ được 9 tháng tuổi, mũi thứ hai lúc trẻ lên 4 - 6 tuổi.

Trong trường hợp đã có tiếp xúc nguồn lây, việc sử dụng globulin miễn dịch có thể phòng ngừa bệnh hoặc làm giảm mức độ nặng của sởi. Tuy nhiên đây là phương thức phòng ngừa đắt tiền và ít phổ biến.

ThS. Nguyễn Thanh Lâm

Theo http://suckhoedoisong.vn, 26/9/2010

Xem thêm bài trên Bách khoa toàn thư:

http://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%9Fi

Bệnh chân tay miệng (3 bài)

Bài 1. Phát hiện sớm và đúng bệnh chân tay miệng



Tuy mùa dịch bệnh chân tay miệng mới bắt đầu, nhưng đã có nhiều trẻ em nhập viện với biến chứng nặng. Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và vaccin phòng bệnh, nên cần phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Virut đường ruột là nguyên nhân chính gây bệnh

Virut Entero 71 được xác định gây bệnh chân tay miệng là một loại virut đường ruột, gây bệnh chủ yếu lây nhiễm qua đường tiêu hóa, trực tiếp phân - miệng hoặc gián tiếp qua nước, thực phẩm, tay bẩn... bị ô nhiễm phân người bệnh. Một số ít trường hợp được ghi nhận lây lan qua đường hô hấp.









Sau khi xâm nhập, virut đến cư trú tại họng và đoạn dưới của ống tiêu hóa. Trong vòng 24 giờ, chúng sẽ xâm nhập vào các hạch bạch huyết tại chỗ và tăng sinh tại đây. Giai đoạn này, virut được tìm thấy trong dịch cổ họng và trong phân của bệnh nhân.

Bệnh thường xảy ra vào mùa hè thu và gần như quanh năm ở các nước nhiệt đới, có thể gặp ở mọi lứa tuổi, phổ biến ở trẻ dưới 4 tuổi. Hội chứng này mới được chú ý ở Việt Nam trong vài năm gần đây và thường bùng phát thành dịch mạnh ở các tỉnh phía Nam, ít gặp hơn ở các tỉnh phía Bắc.

Biến chứng viêm não có thể dẫn đến tử vong

Bệnh tay chân miệng do virut Entero 71 gây ra có những triệu chứng ban đầu như sốt nhẹ, sưng miệng, nổi bong bóng nước to khoảng đầu đũa, màu xám, đỏ hình ô van ở vùng mông, gối, lòng bàn tay, lòng bàn chân và thường ấn không đau. Bong bóng nước còn xuất hiện trong miệng, khi vỡ ra gây những vết loét trong miệng. Một số trẻ có kèm nôn ói, tiêu chảy ngay khi nổi bóng nước hay khi bóng nước đã xẹp. Những triệu chứng này khiến nhiều bác sĩ chẩn đoán nhầm là bệnh thủy đậu, nhiễm khuẩn da hay dị ứng...

Sau khi xâm nhập vào cơ thể, đến ngày thứ 3, virut từ các hạch theo máu đến gây tổn thương tại da, niêm mạc, tiếp tục sinh sản rồi gây những triệu chứng đầu tiên.

Các tế bào dưới da và niêm mạc phình to, chứa nhiều dịch tiết, gây hoại tử, phù trong tế bào và quanh tế bào. Tổn thương chủ yếu ở các vùng miệng, tay và chân. Sau khi gây tổn thương da, niêm mạc, virut không nhân lên nữa, cơ thể xuất hiện kháng thể và hiện tượng nhiễm virut chấm dứt.

Ở một số trường hợp, virut từ da, niêm mạc trở vào máu lần thứ 2 để đến hệ thần kinh trung ương gây viêm não, viêm màng não, liệt. Đồng thời, cơ thể sản xuất kháng thể và virut ở da, niêm mạc biến mất. Tuy nhiên, virut ở đường ruột có thể hiện diện kéo dài đến 17 tuần.

Trẻ nhỏ có thể có ban dạng sẩn vùng mông, nơi quấn tã lót. Trong giai đoạn diễn tiến, khi virut gây bệnh xâm nhập hệ thần kinh trung ương, trẻ sẽ xuất hiện triệu chứng rối loạn tri giác như lơ mơ, ly bì, mê sảng hay co giật, có nhiều trường hợp trẻ có mạch nhanh nhưng không sốt cao, yếu tay chân, méo miệng. Bệnh nhi có thể tử vong hoặc phục hồi sau một thời gian điều trị, nhưng vẫn còn những rối loạn tâm thần kinh kéo dài.

Phòng bệnh là biện pháp cơ bản

Nếu bệnh do các virut lành tính gây ra, bóng nước tự xẹp đi, bệnh có thể tự khỏi sau 5-7 ngày. Nhưng nếu bệnh do virut Entero 71 gây ra thì có thể bị biến chứng rất nguy hiểm là viêm não, viêm cơ tim, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết rất dễ dẫn tới tử vong.

Trẻ mắc hội chứng chân - tay - miệng thường khỏi trong vòng 1 tuần nếu được điều trị đúng cách, không có biến chứng. Nếu không được điều trị đúng cách hoặc diễn tiến nặng, bệnh sẽ gây những biến chứng rất nặng.

Có những trường hợp mắc bệnh tay chân miệng nhưng rất ít các triệu chứng hoặc không có các biểu hiện dễ nhận thấy như nổi bóng nước, nên nếu thấy trẻ có những triệu chứng bất thường kể trên cần nhanh chóng đưa trẻ đến bệnh viện. Gia đình phải theo dõi sát sao trẻ ít nhất trong 8 ngày sau triệu chứng đầu tiên để phát hiện ngay các dấu hiệu biến chứng và đưa trẻ đến bệnh viện để được điều trị kịp thời.

Do đa số bệnh tay - chân - miệng sẽ tự khỏi nên đối với trường hợp không có dấu hiệu của biến chứng có thể điều trị tại nhà bằng thuốc giảm đau, cho trẻ ăn thức ăn lỏng, dễ tiêu, cố gắng cho trẻ ăn thành nhiều bữa.

Hiện nay bệnh tay - chân - miệng chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vaccin phòng ngừa nên cách phòng bệnh tốt nhất là bảo đảm vệ sinh trong ăn uống, cá nhân cho trẻ thật tốt. Cho trẻ ăn uống đầy đủ dưỡng chất, uống nhiều nước. Không cần kiêng gió và ánh sáng. Nên cho trẻ mắc bệnh nghỉ học và không cho tiếp xúc với trẻ khác để tránh lây lan bệnh.

Theo Sức khỏe & Đời sống
Copy từ http://giadinh.net.vn, đăng 6/5/2008

Bài 2. Bệnh chân tay miệng và biến chứng



Bệnh chân tay miệng là căn bệnh thường gặp ở trẻ em và rất nguy hiểm nếu không biết cách phát hiện, phòng tránh và điều trị kịp thời. Nguy hiểm hơn là bệnh có thể để lại biến chứng gây nên viêm màng não, viêm cơ tim… có thể gây tử vong. Vì vậy các gia đình có trẻ nhỏ cần nắm chắc thông tin về căn bệnh này.

Dịch tễ học

Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi và rất ít thấy ở trẻ trên 5 tuổi. Một điểm cần lưu ý là trong một đợt dịch bệnh, trẻ có thể bị mắc bệnh tái đi tái lại nhiều lần cho đến khi được 5 tuổi mới có miễn dịch hoàn toàn với bệnh.

Nguyên nhân gây bệnh

Tác nhân gây bệnh chân tay miệng trước đây được biết là vi-rút Coxsackie. Khảo sát tại bệnh viện nhi đồng đã xác nhận sự hiện diện của Enterovirus 71 và vi-rút Coxsakie trong các đợt dịch bệnh tại TP.HCM.

Sự lây truyền bệnh

Vi-rút gây bệnh có khả năng lây lan rất nhanh qua đường miệng.Trong những đợt dịch, bệnh có thể lây rất nhanh từ trẻ này sang trẻ khác qua các chất tiết mũi miệng, phân hay bọt nước của trẻ bệnh:

Trẻ lành tiếp xúc trực tiếp với trẻ bệnh, bị nhiễm bệnh do nuốt phải nước bọt của trẻ bệnh được văng ra trong lúc ho, hắt hơi

Do trẻ lành cầm nắm đồ chơi, sờ chạm vào sàn nhà bị dây dính nước bọt, chất tiết mũi họng của trẻ bệnh.

Ngoài ra bệnh còn lây cho trẻ qua bàn tay chăm sóc của các cô bảo mẫu.

Vi-rút xâm nhập vào cơ thể qua niêm mạc miệng hay ruột vào hệ thống hạch bạch huyết và từ đó sẽ phát triễn rất nhanh và gây ra các tổn thương ở da và niêm mạc.

Biểu hiện của bệnh

Loét miệng: là các bóng nước có đường kính 2-3 mm Thường khó thấy các bóng nước trên niêm mạc miệng vì nó vở rất nhanh tạo thành những vết loét, trẻ rất đau khi ăn, tăng tiết nước bọt

Bóng nước: từ 2-10 mm, màu xám, hình bầu dục.

Bóng nước vùng mông và gối thường xuất hiện trên nền hồng ban.

Bóng nước lòng bàn tay và lòng bàn chân có thể lồi lên trên da sờ có cảm giác cộn hay ẩn dưới da, thường ấn không đau.

Bệnh có thể biểu hiện không điển hình như: bóng nước rất ít xen kẻ với những hồng ban, một số trường hợp chỉ biểu hiện hồng ban và không có biểu hiện bóng nước hay chỉ có biểu hiện loét miệng đơn thuần.

Diễn tiến và biến chứng của bệnh chân tay miệng

Giai đoạn 1: Các trường hợp ít bóng nước thường có biến chứng

Giai đoạn 2:
Viêm màng não: trẻ cĩ biểu hiện run chi, giật mình nhưng chưa thay đổi tri giác (vẫn tỉnh, không mê).

Viêm não: vật vã, kích thích, chới với, thay đổi tri giác, yếu chi, liệt mặt

Giai đoạn 3:
Giảm chức năng co bóp thất trái trên siêu âm
Phù phế nang, sùi bọt hồng, phù phổi

Giai đoạn 4:
Hồi phục, di chứng hay tử vong

Biến chứng:

Các biến chứng thường gặp là: viêm màng não, viêm não màng não, liệt mềm cấp, viêm cơ tim, phù phổi cấp do thần kinh

Các biến chứng có thể phối hợp với nhau như: viêm não màng não, phù phổi và viêm cơ tim trên cùng 1 bệnh nhân.

Các biến chứng này thường gây tử vong cao và diễn tiến rất nhanh có thể trong 24 giờ.

Theo các nghiên cứu tại Đài loan cho thấy biến chứng nặng thường do Enterovirus 71.

Biểu hiện biến chứng viêm não, viêm màng não

Không có biểu hiện mê sâu

Biểu hiện ban đầu bằng các triệu chứng quấy khóc, ngủ nhiều, hoảng hốt hay giật mình run chi, yếu chi, đứng không vững, đi loạng chọang.

Diễn tiến rất nhanh đến co giật, khó thở, suy hô hấp, rối loạn vận mạch, sốc thần kinh.

Lưu ý: biến chứng viêm não màng não vẫn có thể xuất hiện khi các nốt phỏng nước trên da trẻ đã khô và đóng vảy.

Cần chú ý phát hiện sớm biến chứng viêm vão màng não và đưa trẻ đến bênh viện trong vòng 6 giờ đầu sau khi xuất hiện các biểu hiện của biến chứng để được cấp cứu kịp thời.

Điều trị bệnh chân tay miệng:

Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, việc điều trị bệnh chủ yếu là điều trị triệu chứng. Đưa trẻ đến khám bệnh tại các cơ sở y tế. Nếu trẻ được chỉ định chăm sóc tại nhà, cần thực hiện những điều sau đây :

Vệ sinh răng miệng và thân thể, tránh làm nhiễm trùng các bóng nước

Giảm đau, hạ sốt bằng cách lau mình bằng nước ấm, dùng thuốc hạ sốt Paracetamol.

Nghỉ ngơi hợp lý, hạn chế vận động, tăng cường dinh dưỡng, cho ăn thức ăn lỏng, mềm, uống nhiều nước nhất là nước hoa quả.

Không cạy vỡ các bóng nước để tránh nhiễm trùng.

Theo dõi sát để phát hiện các dấu hiệu: dễ giật mình, hoảng hốt, run chi, gồng tự hết, đi loạng choạng, chới với, co giật, da nổi bông, nôn ói nhiều, sốt cao. Khi có các biểu hiện trên đây cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay.

Phòng bệnh chân tay miệng như thế nào?

Hiện nay vẫn chưa có vắc-xin phòng bệnh nên cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

Rửa tay: thường xuyên rửa tay bằng xà phòng dưới vòi nước chảy, nhất là trước và sau khi nấu ăn, trước khi ăn và sau khi đi tiêu. Nếu có chăm sóc trẻ thì cần lưu ý rửa tay sau mỗi lần thay tả, làm vệ sinh cho trẻ.

Rửa sạch các dụng cụ, vật dụng, đồ chơi, sàn nhà bằng nước và xà phòng, rồi khử trùng bằng cloramin B 5% (có thể mua tại nhà thuốc tây).

Đeo khẩu trang mũi miệng khi hắt hơi hoặc ho.

Cách ly người bệnh tại nhà cho đến khi khỏi bệnh (thường ít nhất là 7 ngày).

Theo http://meyeucon.org/1625/benh-chan-tay-mieng-va-bien-chung/, 11/2/2010

Bài 3. Bệnh tay chân miệng và nguy cơ viêm não do Enterovirus 71



Theo http://meyeucon.org , ngày 20-01-2011

Bệnh tay chân miệng là một loại bệnh nhiễm trùng rất dễ lây, thường gặp ở trẻ em và trẻ nhỏ. Bệnh được gọi tên như vậy vì các nốt ban (đốm đỏ) xuất hiện đồng thời ở cả tay, chân và miệng.

Nguyên nhân của bệnh tay chân miệng là gì? Bệnh có nguy hiểm không?

Nguyên nhân gây bệnh tay chân miệng là các vi rút thuộc các nhóm vi-rút đường ruột (vi-rút Cocsackie, Enterovirus,…), trong đó thường gặp nhất là vi-rút Cocsackie. Theo tài liệu nghiên cứu của BV. Nhi đồng I TP.HCM năm 2005, tỷ lệ gây bệnh của các loại vi-rút này là: 50% do Cocsackie; 44% do vi-rút Entero 71; 6% còn lại do các vi-rút khác.

Vi-rút Cocsackie là một vi-rút rất lành tính. Các bệnh nhân bị bệnh tay chân miệng do vi-rút Cocsackie thường sẽ tự khỏi trong vòng 7-10 ngày mà không cần điều trị và hầu như không có biến chứng gì.

Tuy nhiên nếu tác nhân gây bệnh là Enterovirus 71 thì rất nguy hiểm. Vi-rút này có thể gây biến chứng viêm màng não, hoặc hiếm gặp hơn là biến chứng viêm não, liệt mềm dạng bại liệt. Biến chứng viêm não do Enterovirus 71 rất nặng, có thể dẫn đến tử vong.

Bệnh tay chân miệng lây lan qua đường nào?

Bệnh tay chân miệng là một bệnh rất dễ lây. Bệnh lây lan trực tiếp từ người sang người, do tiếp xúc trực tiếp với phân, dịch tiết mũi họng, nước bọt, đồ chơi hoặc chất dịch trong các nốt bọng nước của người bệnh.

Thời gian “ủ bệnh” của bệnh tay chân miệng là bao lâu? Bệnh biểu hiện bằng các triệu chứng gì?

Thời gian ủ bệnh là thời gian từ lúc bị lây nhiễm đến khi khởi phát bệnh.

Thời gian ủ bệnh của bệnh tay chân miệng là 3-7 ngày. Bệnh tay chân miệng biểu hiện bằng các triệu chứng sau:

- Sốt nhẹ, chán ăn, đau họng, mệt mỏi, khó chịu, quấy khóc.

- Sau khi sốt 1-2 hôm, bệnh nhi xuất hiện các đốm đỏ trong miệng (ở lưỡi, lợi răng, niêm mạc má, niêm mạc họng). Các đốm đỏ này chuyển dần thành các nốt bọng nước, rồi vỡ ra thành các vết loét khiến trẻ đau miệng, bỏ ăn.

- Một hai hôm sau, bệnh nhi xuất hiện các nốt ban phẳng dẹt, màu đỏ ở da lòng bàn tay, lòng bàn chân, vùng mông, vùng gối. Một số các nốt ban này chuyển thành các nốt bọng nước, kích thước từ 2-10 mm, màu xám, hình bầu dục, ấn không đau.

Bệnh tiến triển như thế nào?

Nếu là bệnh tay chân miệng do vi-rút Cocsackie, bệnh sẽ tự khỏi trong vòng 7-10 ngày sau đó. Nhưng nếu nguyên nhân gây bệnh là Enterovirus 71 trẻ có thể có những biến chứng nguy hiểm như viêm màng não, viêm não… Điều nguy hiểm hơn là các biến chứng này rất khó phát hiện sớm nếu thầy thuốc không có kinh nghiệm, người nhà bệnh nhân không chú ý.

Do đó, khi trẻ bị bệnh tay chân miệng cần theo dõi và quan sát trẻ kỹ trong 8 ngày đầu để phát hiện các dấu hiệu nguy cấp như: nôn ói nhiều, cứng gáy hoặc có những biểu hiện hoảng hốt như nói lảm nhảm, chới với, run chi, co giật, để đưa trẻ đến bệnh viện ngay bởi khi trẻ có biến chứng mà không được điều trị đúng và kịp thời, trẻ có thể bị tử vong ngay trong vài giờ.

Điều trị như thế nào?

Hiện không có thuốc điều trị đặc hiệu đối với các vi-rút đường ruột gây nên bệnh tay chân miệng. Việc điều trị bệnh chủ yếu là điều trị triệu chứng: giảm đau, hạ sốt, tăng sức đề kháng cơ thể.

Làm thế nào để phòng ngừa bệnh? Có thể tiêm vắc-xin để phòng bệnh không?

Cho đến nay thế giới chưa có vắc-xin để phòng ngừa bệnh này. Do bệnh lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với phân, dịch tiết mũi họng, dịch của các nốt bọng nước của người bệnh nên cách phòng bệnh tay chân miệng tốt nhất là:

- Tăng cường vệ sinh cá nhân: Các bà mẹ, các cô giáo, cô bảo mẫu trong nhà trẻ và các trường mẫu giáo phải rửa tay thường xuyên cho bản thân mình và cho trẻ sau mỗi lần thay quần áo, tả lót, sau mỗi lần làm vệ sinh cho trẻ, trước và sau khi ăn.

- Thường xuyên rửa sạch các dụng cụ, vật dụng và đồ chơi của trẻ bằng nước xà phòng, rồi khử trùng bằng dung dịch Cloramin B.

- Thực hiện nghiêm chỉnh 100% việc ăn chín, uống sôi.

- Hạn chế tối đa việc tiếp xúc với người bệnh như hôn, dùng chung các vật dụng, đồ chơi…

- Cho trẻ nghỉ học và cách ly tại nhà một tuần khi mắc bệnh theo hướng dẫn của ngành y tế.

- Các khu vui chơi giải trí, các hồ bơi phải thực hiện nghiêm túc các qui định về vệ sinh môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm. Các hồ bơi phải thực hiện việc khử trùng nước theo đúng qui định hiện hành.

- Khi trẻ có dấu hiệu mắc bệnh phải đến báo ngay cho nhân viên y tế tại trường hoặc trạm y tế nơi cư trú để được chăm sóc chữa trị và được hướng dẫn các biện pháp cách ly phòng tránh lây nhiễm bệnh cho người khác.

Lưu ý

Bệnh tay chân miệng lây lan rất nhanh, có thể có các biến chứng nguy hiểm như viêm não, viêm màng não dễ dẫn đến tử vong. Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chưa có văc-xin dự phòng. Do đó cần phải:

- Thực hiện đúng và đầy đủ các biện pháp vệ sinh phòng bệnh để hạn chế lây lan bệnh.

- Khi trẻ bị bệnh tay chân miệng, cần theo dõi trẻ sát, phát hiệm sớm các dấu hiệu cấp cứu để kịp thời đưa trẻ đến bệnh viện.

Kinh nghiệm xoá tan mảng chai cứng nơi tay chân

Có nhiều tên gọi: chai chân, mắt cá, dày sừng, mảng cứng... Tây y gọi Durillon-Cor. Mảng cứng có thể nổi rõ trên mặt da.

Dưới lớp trung, hạ bì, di chuyển, to, dài ra. Người nhiều tuổi, lao động nặng, đơn điệu... dễ bị xơ cứng. Tây y thường cắt bỏ. Ta có thể phòng trị đơn giản, không tái phát, chữa trị tốn kém.

Nguyên nhân

Có nhiều. Ở chân: do đi chân không, đi giầy dép chật, ngồi thiền, giẫm phải gai, sạn lặn sâu trong da thành cục u, tăng sinh lớp sừng có nhân "mắt cá"... Ở tay: do tì, ép, cọ xát, cầm nắm, va đập nhiều... thành chai da. Song, cũng còn tại cơ địa ở người có phản ứng đặc biệt với lớp sừng thượng bì, hoặc cả lớp sâu trung bì, hạ bì.

Vậy là cần kiến thức về "chai" để tự xử lí.

Tác hại

Nhiều mức độ. Nhẹ nhất: trông "vướng mắt" mất thẩm mĩ. Các quý ông, quý bà ngồi thiền nhiều, ở mắt cá nhân, mu bàn chân... nổi cục. Thâm đen từng đám da, coi chừng lâu ngày da... chết, hoại tử... Thật khó chịu với các mảng chai ở lòng bàn tay, bàn chân, ở các đốt các ngón, cạnh móng... Người bệnh gan mật thì trong phần thịt ở đốt đầu ngón tay vô danh (đeo nhẫn) nổi cộm một cục cứng.

Ở chân, nặng thì đi lại khó khăn, không đi được xa, mang vác nặng... nhỡ dẫm phải sỏi, mô đất cục đá thì đau nhói tận óc. Bị biến chứng như mưng mủ thì đau phát sốt, nổi hạch trên bẹn... Có khi không biết bệnh gì.

Đi đứng chậm chạp, kém tự tin, mất phong độ và chất lượng cuộc sống giảm sút.

Cách chữa nguy hiểm

Đừng để "nước đến chân mới nhảy". Nhiều bà con đi rừng bàn chân rỗ như tổ ong. Có người ngồi... buồn lấy gai ở cây có gai, với con dao, cái nhíp-lể, khoét, cậy, bẩy như đánh gốc cây, lấy ra một mắt cá to tròn như hạt ngô, để lại dưới gót chân một lỗ sâu có chỗ rơm rớm máu. Cực kì nguy hiểm bởi dễ bị nhiễm trùng máu, phải cưa cắt chân.

Lại có người lớp chai... lộ thiên, trông "ngứa mắt", lấy dao sắc lạng gọt dần lớp sừng. Đâu là giới hạn chai sừng và thịt mềm khó biết. Chẳng may chạm vào mao mạch, mạng thần kinh bao quanh mảng cứng thì thật nguy hiểm. Nhẹ là nhiễm trùng mưng mủ... Rồi, có người lấy vôi tôi, xà phòng trộn thành một thứ kem hỗn hợp, dùng kim băng trích, trọc tí chút để bôi lên cho nhanh tác dụng thế cũng nguy hiểm lắm!

Kinh nghiệm phòng trừ

Từ kinh nghiệm bản thân, chúng tôi khẳng định trái với một số văn y rằng chai chân không thể giải quyết dứt điểm mà chỉ làm giảm độ dày sừng... Bằng cớ là chừng hơn năm nay tôi bị một mảng cứng cỡ đốt ngón tay, hình dẹt, nổi chính giữa rìa ngoài bàn chân phải, ban đầu ở 1/3 gần ngón chân út, sau chữa, lùi dần xuống gót chân rồi tan. Mảng thứ hai đáng ngại, phát hiện ra khi đi bộ trên máy, thấy gợn gợn, tức tức, sờ tay thấy nó dài gấp rưỡi đốt ngón tay, cộm lên dưới lớp hạ bì, ở giữa - cạnh phần thịt nhô cao dưới gót bàn chân. Nay cả hai đã biến mất sau nửa năm xử lí.

Trị nhiều cách có lẽ mỗi cách đều ít nhiều có tác dụng. Đi trên mặt máy độ ráp nhám cao, cố ý chà xát mạnh bàn chân. Dùng con lăn-dụng cụ mát-xa có gai nhọn lăn sát nhiều lần, ngày ngày, dăm mười phút, kết hợp dùng ngón tay cái, vật tù đầu, day ấn vào mảng cứng. Có sách nói ngâm chân có mảng cứng vào nước ấm pha xà phòng, bồ kết cho mềm chỗ chai, bỏ bớt lớp sừng. Tôi nghiệm: xát nước quả chanh tươi nhiều lần tốt hơn.

Thuốc dạng kem bôi "bạt sừng" nhiều loại, rẻ như Ben-zo-sa-ti của Công ty Dược Tra-pha-co chẳng hạn, tốt. Dân gian có ba bài vị: hạt gấc 10 hạt, xà phòng đóng bánh 100g, vôi bột 50g. Gấc bóc vỏ, sao vàng tán nhỏ. Vôi cho ít nước. Xà phòng giã nhuyễn. Ba thứ luyện đều, nhuyễn thành khối thuốc dẻo, đưa vào nhiệt độ chừng 60 độ C cho mềm. Rửa sạch cả vùng chai, bôi dung dịch thuốc lên mảng chai, tránh vùng da thịt chung quanh kẻo rát bỏng. Mảng cứng nhẹ chỉ 2-3 lần, thuốc ngấm, chai biến mất.

Nhiều dân tộc trên thế giới thường dùng lớp bẹ củ hành tươi lấy băng sạch rịt mảng chai một ngày đêm, phần cứng mềm ra, quanh gốc cứng trắng nhợt, chai tự rụng. Hoặc, trứng gà luộc, bỏ lòng trắng, lòng đỏ bỏ vào muối kim loại đun nóng chảy thành dầu lỏng, nhỏ giọt lên mảng chai vài ngày. Chai tự tiêu. Lại có cách đơn giản, hoà nước muối đặc 15-20%, ngâm chỗ chai 30 phút, 20 lần ngâm sẽ hết chai.

Nhất cử lưỡng tiện

Con người-một "vũ trụ nhỏ", mọi cơ quan bộ phận đều quan hệ đến nhau. Day, bấm, lăn... mảng chai chỗ này lại chữa bệnh chỗ khác. Như nốt chai ở ngón tay vô danh (nói trên phần tác hại), mà da thịt mềm nhẵn trở lại thì gan, mật, trụy, lách cũng giảm hết các triệu chứng đau, có thể khỏi bệnh-như sách của Mỹ đã công bố.

Cái thứ u chai này-một thứ bệnh "chưa chết ai", nên xã hội còn ít quan tâm, vậy mà lại nhiều người bị, thật khó chịu, giảm đi chất lượng cuộc sống vốn có. Quý vị thử "tự làm bác sĩ". Chúng tôi quan niệm phòng trị một bệnh phải chữa toàn thân bằng tập luyện kết hợp với chế độ ăn uống, sinh hoạt, lao động, nghỉ ngơi hợp lí, lối sống lành mạnh, khoa học.

Trịnh Tố Long
Theo nguoicaotuoi.org.vn

Đoán bệnh qua biến đổi màu da

Màu sắc và độ láng bóng của da có thể phản ánh trạng thái sức khỏe của các phủ tạng nằm trong cơ thể, được coi như chiếc "phong vũ biểu" hay tờ "giấy thử màu" đo mức độ sức khỏe của cơ thể con người.
Vì vậy, trong một khoảng thời gian nào đó, màu sắc của da bỗng nhiên bị chuyển gam màu "xám đen", hoặc "trắng bệch" thì phải dè chừng, chú ý loại trừ những nhân tố mang tính toàn thân, thậm chí là bệnh tật...

Nguyên nhân dẫn tới làn da đen sạm có thể là:

1.Trạng thái ngủ và tinh thần: Thức đêm nhiều và kéo dài có thể làm cho cơ bắp nhão, da chùng, xuất hiện mắt thâm quầng, hoặc tình cảm không tốt như tinh thần căng thẳng thời gian dài, tâm tình bị dồn nén ức chế… có thể làm da xám đen, hình thành đốm bã chè…

2.Nhân tố nội tiết: Thời kì mang bầu, kinh nguyệt không đều… có thể làm tăng khả năng tổng hợp sắc tố màu đen trong biểu bì dẫn tới sự lắng đọng sắc tố.

3.Các bệnh mạn tính: Các loại bệnh mạn tính như lây nhiễm, khối u, chứng bệnh về gan, thận… đều có thể làm thay đổi sắc tố của da. Gan là khí quan chuyển hóa của toàn cơ thể, mà sản phẩm của quá trình chuyển hóa được bài thải thông qua thận. Một khi gan hoặc thận xảy ra trục trặc về chức năng thì sẽ ảnh hưởng tới chuyển hóa của toàn thân, độc tố không được bài thải kịp thời, da sẽ trở nên xám xịt, không còn láng bóng.

4.Nhân tố dược phẩm: Uống trường kì các loại thuốc kháng sinh, thuốc giảm đau, dược phẩm chứa asen (As) hoặc tiếp xúc với vật chất thuộc loại dầu cốc (tar) sẽ dẫn tới làm thay đổi sắc tố của da.

5.Ăn uống không hợp lí: Thói quen ăn uống không tốt có thể dẫn tới làm lắng đọng sắc tố (pigmentation) dưới da. Như có người không thích ăn rau xanh, nếu thời gian kéo dài, lượng vitamin trong cơ thể sẽ thiếu hụt nghiêm trọng thì da rất dễ xuất hiện hiện tượng lắng đọng sắc tố. Có người trong một ngày ăn tới 1kg quýt, màu da có thể biến thành màu vàng khè.

Với trường hợp da người bệnh chuyển sang "trắng bệch", nếu đồng thời kèm triệu chứng mệt mỏi rã rời, chán ăn biếng uống, nhất là ở nữ giới, thì trước hết phải nghĩ tới khả năng nghèo máu. Ngoài ra, có người sợ da phơi nắng thành "cô gái lọ lem" không còn như trứng gà bóc, suốt ngày cứ ru rú cấm cung, kết quả là làm cản trở sự hấp thu can-xi, phốt-pho từ đó dễ dẫn tới chứng loãng xương. Hơn nữa, nếu một thời gian dài không tắm nắng thì sự hình thành sắc tố đen (melanin) trong da sẽ giảm thiểu, khả năng chống lại tia tử ngoại của da cũng sẽ yếu đi, khi ra nắng da dễ bị bỏng phồng rộp, làm tăng tỉ lệ phát sinh khối u da.

ThS. Bùi Hữu Cường
(Theo "Sinh mệnh thời báo" -
Hồng Kông, tháng 10 - 2009)

Bí quyết khử mùi cho chân

Đôi chân xinh có thể trở thành môi trường sống lý tưởng cho vi khuẩn. Những sản phẩm do lũ vi khuẩn đáng ghét này thải ra chính là đôi chân “bốc mùi” của mình. Khi mang giày, chân đổ mồ hôi nhiều hơn, kết quả là vi khuẩn càng được “chiêu đãi” lượng thức ăn dồi dào.

Mùi hôi ở chân còn có thể xuất phát từ việc chân bị nhiễm nấm mà không được chữa trị đúng cách. Những người bị tiểu đường hay mắc bệnh tim và những người lớn tuổi thường có xu hướng bị nhiễm trùng ở chân và khiến cho đôi bàn chân “có mùi” vì khả năng lưu thông máu ở chân kém.

Làm gì khi chân “bốc mùi”?

Bạn nên thử áp dụng một số biện pháp sau:

- Rửa chân hàng ngày bằng nước ấm cùng với xà phòng khử mùi hoặc diệt khuẩn.

- Nếu bị bệnh nấm chân hay nấm móng, nên dùng máy sấy tóc để sấy khô đôi chân sau mỗi lần rửa hoặc khi chúng bị ẩm ướt. Điều này giúp phòng tránh được nguy cơ nhiễm trùng cũng như hạn chế độ ẩm ở chân.

- Rắc phấn bột lên chân trước khi mang vớ hoặc giày. Phấn bột sẽ hấp thu mồ hôi, vốn là nguyên nhân gây mùi hôi.

- Thay vớ hàng ngày và luôn sử dụng vớ sạch. Vớ sau khi thay ra phải được giặt sạch, phơi nắng và để nơi thoáng khí trước khi mang trở lại. Loại vớ làm bằng chất liệu cotton có khả năng thấm hút mồ hôi tốt hơn, giúp chân được thoáng, không bị bí hơi và “tỏa” mùi.

- Chọn những đôi giày có lưới, thoáng hoặc sandal để chân được “thở”.

- Giặt sạch những đôi giày thể thao (ít nhất mỗi tháng một lần).

- Để giày ở những nơi có ánh sáng và thông thoáng. Không đặt chúng trong tủ tối, kín bởi vì đây chính là những khu vực mà vi khuẩn rất yêu thích.

- Đặt những chiếc túi thơm có tác dụng khử mùi vào những chiếc giày sạch. Bạn có thể sử dụng loại túi thơm có chứa thảo dược như cây tuyết tùng hoặc chứa hỗn hợp khoáng chất zeolite. Đây là khoáng chất tự nhiên của núi lửa có khả năng hút mùi. Sau khi đặt vào giày, hãy mang những chiếc túi thơm ra phơi nắng trong khoảng 6 giờ để khử hết mùi hôi đã bám vào túi.

- Mua những miếng lót giày có công dụng khử mùi. Thay chúng thường xuyên sau khoảng 3 đến 6 tháng.

- Giặt sạch miếng lót có thể tháo rời ra được của giày sau mỗi lần mang. Điều này cũng giúp cho phần đế bên dưới được khô ráo hơn, không bị đọng mồ hôi.

Một số phương pháp đơn giản để giữ sạch đôi chân:

- Ngâm chân bằng nước trà đen. Cho một ít trà đen vào trong nước sôi, để khoảng 15 phút rồi pha thêm nước sạch vào. Dùng nước này để ngâm chân trong vòng 30 phút. Lượng a-xít tanic dồi dào trong trà đen sẽ giết chết vi khuẩn và làm se khít lỗ chân lông, giúp chân ít đổ mồ hôi hơn.

- Tạo khả năng khử mùi cho chân bằng cách ngâm đôi chân của bạn vào trong chậu nước ấm có pha thêm giấm. Để tăng thêm hiệu quả, bạn nên cho thêm vài giọt tinh dầu cỏ xạ hương vào chậu nước. Loại tinh dầu này có khả năng khử trùng mạnh mẽ nên sẽ tiêu diệt tận gốc những vi khuẩn gây mùi. Hãy dùng loại nước này ngâm chân từ 15 đến 20 phút, mỗi tuần một lần. Tuy nhiên, nếu chân có vết thương hở hoặc vùng da bị tổn thương thì bạn không được áp dụng phương pháp này.

- Tinh dầu hoa oải hương không chỉ mang lại mùi thơm dễ chịu mà còn có tác dụng diệt khuẩn. Trước khi đi ngủ, bạn chỉ cần xoa vài giọt lên chân và massage nhẹ nhàng để tinh dầu thấm vào da. Trước khi áp dụng phương pháp này, nên kiểm tra mức độ kích ứng của da bằng cách thử thoa tinh dầu lên một vùng da nhỏ.

- Hòa 2 tách muối sunfat magierium vào nửa chậu nước ấm. Mỗi ngày hai lần, bạn dùng nước muối này để ngâm chân. Muối sunfat magierium hoạt động như một chất làm se giúp hạn chế việc đổ mồ hôi chân và còn tiêu diệt được vi khuẩn.

- Bột soda cũng có tác dụng trung hòa mùi hôi. Trong khi đó, bột bắp sẽ giúp hấp thu lượng hơi ẩm ở chân.

Theo Bau (CNGĐ)

Bệnh viêm phổi ở người cao tuổi nguyên nhân và phòng tránh

Những người mắc bệnh viêm phổi thường khó thở hoặc thở nhanh kèm theo tiếng kêu khè khè. Một số phương pháp dùng để chẩn đoán bệnh như chụp X quang ngực, thử đờm để phát hiện ra sinh vật gây bệnh, sử dụng kĩ thuật thử test CBC để kiểm tra số lượng tế bào máu trắng, nếu cao là bị bệnh do vi khuẩn....

Thế nào là bệnh viêm phổi?

Bệnh viêm phổi (Pneumonia) hay còn có tên gọi khác là bệnh viêm phổi mang tính tiếp xúc cộng đồng mắc phải(Community-Acquired Pneumonia); bệnh viêm phổi khu trú hay viêm phế quản-phổi (Broncho Pneumonia), đây là căn bệnh viêm nhiễm gây nên bởi các loại sinh vật gây bệnh, như vi khuẩn, virút, nấm và là căn bệnh có tỉ lệ người mắc rất cao, từ nhẹ đến nặng và có thể gây tử vong. Mức độ nặng nhẹ còn phụ thuộc vào các tác nhân gây bệnh, độ tuổi cũng như tình trạng sức khoẻ của mỗi người.

Viêm phổi do vi-rút là dạng bệnh nan y nhất thường gặp ở người cao tuổi và trẻ em, thủ phạm chính là do virút Streptococcus pneumoniae hay còn gọi là vi-rút Pneumococcus. Các loại vi-rút gây bệnh về đường hô hấp là nguyên nhân gây bệnh viêm phổi nhiều nhất ở nhóm trẻ từ 2 đến3 tuổi, đến tuổi đi học trẻ thường bị viêm phổi do vi-rút Mycoplasma pneumoniae gây ra. Trong một số trường hợp, nhất là người già, bệnh viêm phổi thường diễn ra sau khi mắc phải bệnh cúm, cảm lạnh, hoặc bị lây bệnh ngay trong bệnh viện, lí do hệ miễn dịch của cơ thể suy yếu, hoặc cũng có trường hợp viêm nhiễm do khuẩn nhờn thuốc.

Dấu hiệu và triệu chứng lâm bệnh viêm phổi

- Ho kèm theo đờm xanh hoặc đôi khi có máu;

- Sốt run rẩy;

- Đau tức ngực nhất là khi thở sâu hay ho;

- Thở gấp,thở nhanh và khó thở;

- Ngoài ra còn xuất hiện một số triệu chứng như đau đầu, ra nhiều mồ hôi, da tái nhợt, ăn không ngon miệng, mệt mỏi và nếu là người già thường xuất hiện tình trạng lộn xộn, đờ đẫn.

Cách chẩn đoán và điều trị

Những người mắc bệnh viêm phổi thường khó thở hoặc thở nhanh kèm theo tiếng kêu khè khè. Một số phương pháp dùng để chẩn đoán bệnh như chụp X quang ngực, thử đờm để phát hiện ra sinh vật gây bệnh, sử dụng kĩ thuật thử test CBC để kiểm tra số lượng tế bào máu trắng, nếu cao là bị bệnh do vi khuẩn.Thử máu để kiểm tra hàm lượng ô-xy, thử test bằng kĩ thuật thoracic CT, sử dụng kĩ thuật quét Scan v.v...

Nếu viêm phổi do khuẩn gây ra thì có thể dùng kháng sinh, còn do vi-rút thì thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng,cũng có trường hợp rất khó phát hiện giữa vi-rút và vi khuẩn, trong trường hợp này người ta thường kê đơn kháng sinh. Trường hợp mắc bệnh mạn tính,có các triệu chứng nguy hiểm hoặc có hàm lượng ô-xy trong máu thấp thì nên vào viện điều trị dùng kháng sinh liều cao hoặc áp dụng liệu pháp ô-xy. Trong trường hợp điều trị ở nhà nên tăng cường uống nước để giúp cho việc thở dễ dàng, nghỉ ngơi và làm những việc nhẹ,sử dụng aspirin hoặc acetaminophen để giảm sốt,tuyệt đối không được dùng aspirin cho trẻ nhỏ. Kể cả người lớn lẫn trẻ em đều có thể đưa vào viện để điều trị,nhưng chỉ nên nhập viện trong các trường hợp sau :

- Có các dấu hiệu xấu về đường hô hấp;

- Thở dốc, khó thở, lạnh run, sốt liên tục;

- Thở nhanh và đau ngực;

- Ho nhiều kèm theo đờm xanh đen và có máu;

- Đau ngực nhất là khi ho;

- Ra nhiều mồ hôi vào ban đêm và sút cân không rõ lí do;

- Sức khoẻ hệ miễm dịch suy yếu như người mắc bệnh HIV, sử dụng Steroid dài kì và những người đang trong giai đoạn sử dụng liệu pháp hoá trị liệu.

Cách phòng ngừa

- Thường xuyên rửa tay sạch sẽ bằng xà phòng nhất là khi xì mũi, sau khi đi vệ sinh tiểu đại tiện, trước khi chuẩn bị ăn uống hay chuẩn bị thức ăn.

- Không nên hút thuốc lá vì có thể gây phá huỷ phổi, giảm các chức năng hô hấp vốn có của phổi và làm tăng nguy cơ viêm nhiễm và nhiều chứng bệnh nan y khác.

- Khi làm vệ sinh nhà cửa hoặc những vùng bụi bẩn nên đeo khẩu trang.

Ngoài ra, để ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh viêm phổi nhất là ở trẻ em và người già, người mắc bệnh tiểu đường, hen xuyễn, bệnh tràn dịch phổi, bệnh HIV, ung thư và các loại bệnh mạn tính khác nên tiêm phòng vac-xin như vac-xin viêm phổi Pneumovax và Prevnar, hai loại này có tác dụng phòng chống vi-rút Streptococcus pneumoniae rất tốt.

- Vac-xin cúm có tác dụng phòng ngừa bệnh viêm phổi và các chứng viêm nhiễm gây nên bởi vi-rút cúm influenza. Vac-xin này được tiêm hàng năm vì vi-rút liên tục phát triển.

-Vac-xin Hib có tác dụng phòng ngừa bệnh viêm phổi ở trẻ em,đặc biệt là vi-rút Haemophilus influenzae tuýp b.

Trường hợp đang điều trị tại bệnh viện nên tập cách thở sâu, giúp cho phổi làm việc tốt và nhanh phục hồi nhất là sau khi phẫu thuật. Ngoài ra cũng có thể sử dụng máy thở để hỗ trợ thở sâu. Những người mắc bệnh ung thư, HIV nên tư vấn bác sĩ về cách phòng bệnh viêm phổi cho phù hợp với hoàn cảnh của bản thân.

Khắc Nam

(Theo Net/ARC-4-2009)

Hắt hơi cách nào an toàn nhất?

Hắt hơi là một phản xạ tự nhiên nhằm “tống cổ các vật thể lạ” có ý định xâm nhập vào cơ thể. Vậy phản xạ dùng bàn tay, khuỷu tay hay khăn tay/khăn giấy che miệng sẽ an toàn nhất? Những thực nghiệm thú vị dưới đây sẽ là bằng chứng thuyết phục nhất.

Có 3 cách thường được áp dụng khi hắt hơi là lấy bàn tay che miệng, dùng khuỷu tay che miệng và dùng khăn tay/khăn giấy che miệng. Và thông thường, cách dùng khăn giấy/khăn tay che miệng được xem là an toàn nhất. Tuy nhiên, trong một thực nghiệm tại Mỹ, người tham gia thử nghiệm sẽ mặc toàn đồ màu trắng, uống các dung dịch màu và dùng chất gây hắt hơi, đứng trên 1 mặt phẳng có tính khoảng cách, kết quả hoàn toàn ngược lại:

Thử nghiệm thứ nhất là dùng bàn tay che miệng khi hắt hơi. Kết quả sau 3 lần hắt hơi gần nhau cho thấy các giọt dịch bắn ra từ mũi (đối tượng thử nghiệm đã uống nước nhuộm màu) vươn xa tới 2,5m với rất nhiều giọt dịch nhỏ. Hình ảnh camera quay chậm chỉ rõ, bàn tay không thể ngăn được luồng hơi và dịch bắn ra, theo hướng lên trên và tỏa ra xung quanh. Tất nhiên là bàn tay thì đầy chất dịch cơ thể.

Thử nghiệm thứ hai là dùng khuỷu tay che miệng khi hắt hơi. Hình ảnh camera quay chậm cho thấy không có luồng hơi hay dịch nào thoát ra khỏi khuỷu tay. Chỉ có 2-3 giọt dịch rơi xuống. Các giọt dịch tập trung ở khuỷu tay và hoàn toàn không có ở bàn tay.

Thử nghiệm lần thứ 3 là dùng khăn vải che miệng khi hắt hơi. Mặc dù khăn đã được gập lại nhưng các giọt dịch li ti vẫn bắn xuống đất. Nước mũi ngấm qua khăn dính vào tay của người hắt hơi. Bạn hãy tưởng tượng bạn bỏ chiếc khăn này vào túi và rồi lấy tiền lẻ, lấy điện thoại, bút… và tay thì bám vào nắm đấm cửa, lan can cầu thang… thì vi-rút sẽ lây lan nhanh đến mức nào?

Rõ ràng, trong 3 cách trên thì dùng khuỷu tay che miệng khi hắt hơi luôn là an toàn với chính bạn và những người xung quanh, giảm thiểu được sự lây lan của vi-rút trong những giai đoạn chuyển mùa hay đang có dịch.

Theo Dân trí

Khí công phòng chống viêm phế quản mạn tính

Viêm phế quản mạn tính là một bệnh lí đường hô hấp thường gặp, đang có xu hướng gia tăng, đặc biệt ở những người cao tuổi.

Viêm phế quản mạn tính thể tắc nghẽn, còn gọi là bệnh phổi phế quản tắc nghẽn mạn tính (Bronchite choronique obstructive - COPD) là một thể bệnh nặng, có nhiều biến chứng nguy hiểm, ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ và chất lượng cuộc sống.

Trong y học cổ truyền, viêm phế quản mạn tính thuộc phạm vi các chứng Khái thấu, Đảm ẩm, Suyễn tức... và được trị liệu bằng nhiều biện pháp khác nhau như dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt, sử dụng các món ăn - bài thuốc..., trong đó có việc tập luyện khí công dưỡng sinh. Những công pháp thường dùng để phòng chống căn bệnh này có thể kể ra như sau:

Công pháp 1

Chọn tư thế nằm hoặc ngồi bằng tròn. Nếu nằm thì nằm ngửa ngay ngắn trên giường, đầu hơi cúi về trước, hai mắt nhắm hờ, hai tay duỗi thẳng tự nhiên dọc theo thân mình, lòng bàn tay úp xuống, chân duỗi thẳng, hai gót khép lại, các ngón chân xoè ra tự nhiên. Nếu ngồi thì ngồi ngay ngắn trên ghế, đầu hơi cúi về trước, hai mắt nhắm hờ, ngực nhô lưng thẳng, hai vai và khuỷu tay thả lỏng, ngón tay duỗi, lòng bàn tay úp xuống đặt trên đùi, hai chân cách nhau cùng tầm với vai, gối gấp vuông góc, bàn chân bám đất. Ý thủ Đan điền (là vị trí tương ứng với huyệt Khí hải, nằm ở trên đường trục giữa cơ thể, dưới rốn 1,5 thốn đồng thân. Khi luyện tập chỉ cần tưởng tượng Đan điền là một vùng tròn to hay một quả cầu bé nằm ở giữa vùng bụng dưới. Theo y học cổ truyền, Đan điền là "sinh khí chi hải" (biển của sinh khí) có vai trò rất quan trọng trong nhân thể). Miệng hơi ngậm, thở bằng mũi, trước tiên hít vào thật sâu rồi ngừng thở giây lát, sau đó từ từ thở ra (hít vào - ngừng thở - thở ra), luân phiên đều đặn như vậy. Phối hợp với niệm câu từ, thông thường bắt đầu bằng câu có 3 chữ (khi hít vào niệm một chữ, khi ngừng thở niệm một chữ và khi thở ra niệm nốt chữ còn lại), sau đó tăng dần lên nhưng không nên quá 9 chữ. Câu gì cũng được nhưng nên chọn những câu có nội dung khoẻ mạnh như: "Tự kỉ tĩnh", "Nội tạng động, đại não tĩnh", "Tự kỉ tĩnh toạ", "Tự kỉ tĩnh toạ thân thể khoẻ", "Kiên trì luyện tập cơ thể sẽ khoẻ mạnh"... Câu từ niệm có tác dụng tập trung tư tưởng, dứt bỏ mọi ý nghĩ tản mạn, thông qua ám thị có thể dẫn đến những hiệu ứng sinh lí tương ứng với câu từ. Cần chú ý khi hít vào thì lưỡi nâng lên chạm hàm ếch, khi thở ra thì lưỡi hạ xuống và khi ngừng thở thì lưỡi bất động.

Cuối cùng, đặt hai bàn tay chồng lên nhau xoa vùng ngực theo chiều kim đồng hồ chừng 30 vòng với một lực vừa phải. Mỗi ngày luyện từ 2 lần, mỗi lần 30 phút.

Công pháp 2

Đứng thẳng ngay ngắn, toàn thân thả lỏng, lưỡi áp lên hàm ếch, ép ngực, thu bụng, hai tay buông thả tự nhiên áp vào hai bên đùi, hai bàn chân mở rộng ngang tầm hai vai, đầu ngón chân hơi quắp vào trong. Thở tự nhiên, tập trung ý nghĩ vào huyệt Dũng tuyền (ở điểm nối 2/5 trước với 3/5 sau của đoạn nối đầu ngón chân 2 và điểm giữa bờ sau gót chân, trong chỗ lõm ở gan bàn chân) trong 3 phút đến khi huyệt vị này có cảm giác nóng ấm thì chuyển sang phép thở khí công: khi hít vào thì dùng ý nghĩ dẫn thận khí từ huyệt Dũng tuyền đi lên, qua huyệt Hội âm (ở trước hậu môn) rồi theo Nhâm mạch (đường trục giữa bụng đi từ Hội âm lên huyệt Thừa tương ở dưới môi dưới) rồi nhập vào huyệt Đan điền. Khi thở ra thì dùng ý nghĩ dẫn khí từ Đan điền thông sang huyệt Mệnh môn (ở chỗ lõm dưới đầu mỏm gai đốt sống thắt lưng 2, đối xứng trước sau với huyệt Đan điền) rồi lại hạ xuống thông qua Hội âm tới Dũng tuyền. Cứ làm như thế nhiều lần để khí trong cơ thể đi lại tuần hoàn.

Công pháp 3

Hai bàn tay đặt trên giường, ưỡn ngực, ngửa đầu, đồng thời hít khí vào đầy lồng ngực, ngừng thở một chút, sau đó thở khí ra, đồng thời cúi gáy, cong lưng, thu lồng ngực lại. Một thở ra, một hít vào là một biến. Tập khoảng 9 đến 18 biến là được.

Công pháp 4

Chọn tư thế ngồi hoặc nằm, lưỡi uốn chạm hàm ếch, thả lỏng toàn thân tuần tự từ đầu, gáy, thân, tay, chân... Tập trung ý nghĩ vào huyệt Đan điền. Tiếp đó, thở sâu bằng bụng theo nguyên tắc "sâu, dài, đều đặn và nhẹ nhàng", có nghĩa là khi hít vào thì bụng phình lên, khi thở ra thì bụng thót lại. Thở ra bằng miệng, hít vào bằng mũi. Thời gian thở ra dài bằng 1 - 2 lần thời gian hít vào. Làm đều đặn mỗi ngày 2 lần vào sáng sớm và chiều tối. Khi mới tập mỗi lần làm 10 biến, sau đó tăng dần lên tuỳ theo tình trạng cụ thể của mỗi người.

Có thể chọn hai trong bốn công pháp nêu trên. Khi luyện tập, cần lựa vị trí cho thích hợp, bảo đảm yên tĩnh, thông thoáng nhưng không bị gió lùa. Trước khi luyện tập 15 - 20 phút cần dừng mọi hoạt động thể lực và trí óc căng thẳng, đi vệ sinh và cởi bớt áo ngoài. Trong thời gian tập nên sinh hoạt điều độ, ăn uống đủ chất, không hút thuốc lá và uống rượu, tránh mọi căng thẳng tình cảm. Sau khi tập xong, không nên vội đứng lên ngay hoặc cử động mạnh, dùng hai bàn tay xoa mặt, vuốt nhẹ hai mắt, sau đó từ từ trở lại hoạt động bình thường. Không nên tập luyện khi quá no hoặc quá đói, khi bị cảm mạo, tiêu chay cấp tính và quá mệt mỏi.

ThS Hoàng Khánh Toàn
http://nguoicaotuoi.org.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=6&ID=5605

Làm sao tăng cường sức mạnh bắp thịt của người lớn tuổi?

Khi tuổi đã xế chiều, cái mà người ta thường hay lo lắng là xương. Những loại bệnh về xương do cao tuổi như loãng xương, phong thấp thường làm chúng ta hay bỏ qua một vấn nạn khác cũng quan trọng không kém là bắp thịt.

Loại bệnh này gọi là sarcopenia, tức là chức năng và khối lượng bắp thịt của người cao tuổi đã thu hẹp và rối loạn.

Rô-bớt Vôn-phơ, giáo sư Y khoa Đại học A-rơ-can-xa cho hay là từ năm 50 tuổi trở lên, bệnh sarcopenia tăng. Ông nói những người chơi thể thao thường xuyên thì ít bị, nhưng những người cao tuổi lại yếu ớt về thể chất sẽ bị ảnh hưởng mạnh. Đối với người già, bắp thịt khỏe mạnh không có nghĩa là to hơn và mạnh hơn, mà là giữ cho bắp thịt không mất khối lượng và sự linh hoạt. Trong các chương trình thử nghiệm ở các nhà dưỡng lão, những người đã 80 tuổi nhưng nếu được hướng dẫn tập luyện dần dần có thể tăng gấp đôi sức khỏe cơ bắp, so với những cụ không chịu luyện tập.

Ngoài ra vấn đề dinh dưỡng của các cụ cũng góp phần quan trọng không kém. Giáo sư Pa-đôn Giôn-nơ thuộc đaị học Y khoa Tếch-dát, cho hay những khẩu phần ăn thiếu prô-tê-in và không đủ ca-lo cho người già sẽ tăng nguy cơ bệnh sarcopenia.

Hiện nay không hề có loại thuốc nào cho chứng sarcopenia. Vì thế các chuyên gia y tế cho là cách hay nhất cho NCT muốn tránh bệnh sarcopenia là hãy tập luyện thể lực thường xuyên và nên ăn uống cho đầy đủ các chất cần thiết.

Hồng Quang
Theo nguoicaotuoi.org.vn

Bệnh chuột rút

Bài 1. Để phòng tránh bệnh “chuột rút”



"Chuột - vọp" không trừ ai

Trong văn y Tây, Đông gọi chứng đau đột ngột này là "co rút cơ bắp", hoặc chứng đau "thời tiết", thường do lạnh nhiều hơn. Song, trong dân gian đúc rút thành ba loại chuột rút cho dễ phân biệt và phòng trị.

1. Ở bắp chân. Hiện tượng thường thấy nhất của chuột rút (CR) chính là ở đây, giữa điểm nổi sau bắp cẳng chân huyệt Thừa sơn, nằm giữa huyệt ủy trung đóng trong khớp phía xương chày và xương đùi với làn ngang chỗ lồi cao hai mắt cá chân. Bị co rút, bắp cơ nổi thường ép sát vào xương chày rất đau kèm theo co quắp lại cả cung bàn chân. Lúc này càng thay đổi tư thế của chân càng đau, đành phải nhẹ nhàng lựa thế để tay tiếp cận bấm mạnh huyệt Thừa sơn và gắng duỗi thẳng cả khớp gối, cổ chân. Day huyệt vài phút, đồng thời bấm mạnh huyệt Công tôn, vừa bấm, vừa gập bàn chân ngược về phía cẳng chân.

Chúng tôi đã một lần hút chết ở nhà khách Công đoàn Bãi Cháy (Quảng Ninh). Sáng sớm ra biển tắm, bơi chỉ còn cách con tầu 3 - 400 mét thì bị chuột rút. Đành nghiến răng chịu đau, cố ở tư thế đứng cho nổi đầu để thở, qua giây lát đau khủng khiếp ban đầu rồi khẽ khàng cử động chân đau. Trường hợp thứ hai, hai ông bà Đồng và Thu ở khu A5, nguyên giảng viên Đại học TDTT Từ Sơn Bắc Ninh hè năm 1997 dự lớp Dưỡng sinh bằng Năng lượng sinh học tại CLB NCT Thanh Xuân Bắc kêu đêm thường bị chuột rút vài lần, mất ngủ cả đêm. Chúng tôi giới thiệu cách phòng: Trước giờ ngủ xoa vuốt hai chân, cuối cùng, ốp hai bàn tay vuốt từ mông háng xuống bàn chân, tới cổ chân trong đầu quán tưởng: "Thông xả tà khí ra bàn chân". Hôm sau hai cụ khoe làm thế mỗi một lần mà hết chuột rút.

Trong sách "Điểm phản xạ nơi bàn chân", hai bác sĩ Mỹ M.Các-tơ và E.Ing-ham cho biết: Sự đánh thức các cơ bắp trong người là rất cần thiết khi đang mệt mỏi hoặc trong trạng thái không vận động, bị lạnh... mà bất chợt phải cử động đột ngột thì các hệ mạch máu nhỏ, thần kinh không kịp được cung cấp đủ các dạng "chất đốt" cần thiết để kích hoạt "cỗ máy" cơ bắp vận hành. Do vậy, để phòng chuột rút, cả cho trường thọ, nhuận sắc, cường lực, kiện não, tốt nhất là thường xuyên tác động vào điểm phản xạ của tuyến yên, nằm giữa phần thịt dưới bụng ngón chân cái 1 - 2 phút. Tuyến này là tướng chỉ huy sẽ thức tỉnh cả "7 chú lùn" hóc-môn nội tiết kích hoạt, điều chỉnh, cân bằng vận động để trao đổi chất.

Lịch sử chạy ma-ra-tông quốc tế từng ghi nhận một nữ vận động viên Trung Quốc trên đường đua bị chuột rút, tưởng bỏ cuộc. Không, chị ngã quỵ, bình tĩnh chịu đau, một tay gỡ chiếc kim cài số áo trên ngực, châm vào chỗ đau (huyệt Thừa sơn) vừa gượng đứng dậy chạy tiếp. Một kì tích, nhưng ý nghĩa ở đây là chuột rút không trừ ai. Kể cả vận động viên thể thao...

2. Nơi bàn tay. Chứng đau này nhẹ thôi, nhưng bị lần đầu dễ… phát hoảng vì bỗng dưng thấy bàn tay co cứng tóp lại, các ngón duỗi thẳng bị ép về một bên. Chủ nhân tự nắn, duỗi, chỉ lát sau co duỗi bình thường. Nguyên nhân trực tiếp là ngồi viết lâu, đánh máy chữ, vi tính, đánh dương cầm, tay điều khiển các máy, thiết bị rung động đều như máy cưa, máy khoan, đào bê tông…, hoặc các thao tác phải đưa tay lên cao thời gian lâu v.v... Thường gặp nhẹ nhất là tê bì hai đầu ngón tay giữa và ngón đeo nhẫn ở bàn tay ít cử động.

Thí nghiệm với người thường có mặt ngoài trời lạnh rất hiệu quả là ở trong nhà, ngâm tay (hoặc chân) vào chậu nước ấm mười phút, ra trời lạnh, lại vào nhà ngâm nước ấm. Luyện dăm ba lần/ ngày, sau 54 lần, nhiệt độ đo được ở đầu ngón tay ngoài trời lạnh tăng tới 7 độ. Do vậy, thói quen ngâm chân, ngâm cả tay, trong nước ấm (có thêm chút muối, gừng tươi) là rất tốt. Nên xoa bàn tay ngày vài lần, day các đầu ngón tay, nơi có các đầu mút của 6 huyệt vị nội tạng thuộc Kinh phế, Đại trường, Tâm bào, Tam tiêu, Tâm, Tiểu trường để kích hoạt tuần hoàn, thần kinh, nội tiết, bồi bổ cơ thể, tăng sức đề kháng thì loại bỏ được chứng tề bì, chuột rút.

3. Cử động trái chiều đột ngột. Quý vị từng bị "chuột rút" cả ở bụng dưới, thường gặp phía bên trái, bên dưới đại tràng xuống, hoặc nữ ở dưới rốn, vùng khung chậu bên phải….chưa? Vậy là "chú chuột tinh ma" luôn "trực chờ rút" gân cơ ta ở mọi nơi "xung yếu" trong cơ thể. Chống chuột, tốt nhất, cần tri thức để tập luyện phòng ngừa.

Phòng chống bằng ăn uống

Nghiên cứu của cơ quan dinh dưỡng Mỹ USDA cho thấy: Nếu cơ thể ta bị mất đi 2/3 lượng chất sắt thì sẽ giảm gần gấp đôi lượng sắt cần có cho nhiệt lượng mỗi ngày. Mà thiếu sắt (Fe) - nhu cầu cần thiết nhất trong dinh dưỡng, sẽ bị thiếu máu gây hoa mắt, chóng mặt, luôn mệt mỏi, tê bì ngón tay, da khô, hồi hộp, lo sợ vô cớ, ngủ gật, vô cảm, co rút cơ bắp - đừng vội "kết tội" chỉ thiếu can-xi, và đó là báo hiệu của bệnh tim mạch... Sắt có nhiều trong các loại rau cải màu xanh đậm, cá, gà, vịt, thịt đỏ (bỏ mỡ)...

Những người nghiện thuốc lá, cà-phê, trà đặc, tưởng rằng mấy thứ này làm "ấm người"? Sự thực, các chất ni-cô-tin, cà-phê-in làm co hẹp mạch máu, máu giảm tốc độ lưu thông, đến các đầu ngón tứ chi chậm và ít sẽ dễ tê bì, co rút…Ngược lại, chất cồn trong bia rượu có thể làm căng trương mạch máu, máu tuần hoàn tốt đấy, nhưng nhanh "thông xả" hết năng lượng ra tay chân. Vậy thì đường còn xa, ở ngoài trời lâu sẽ thật nguy hiểm, nếu định chống rét bằng rượu bia. Ta đã gặp người chết cóng bên đường là vì vậy!

Trịnh Tố Long

Bài 2. Phòng ngừa chuột rút



Đột nhiên bị đánh thức bởi cơn đau dữ dội ở bắp chân, ngón chân hay cơ bắp hai bên vai. Đó là hiện tượng thường xuyên xảy ra đối với người trung niên và người cao tuổi. Y học gọi đó là hiện tượng chuột rút về đêm.

Khi chuột rút xảy ra thường có đặc điểm chân đau không cử động được, chỗ đau có một cục do cơ bị co lại. Ở người già, do đặc điểm của lứa tuổi là khó ngủ và ngủ ít, nên khi gặp chuột rút thì những cơn đau do hiện tượng này gây ra thường khiến họ mất ngủ cả đêm, gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe.

Không chỉ người già mới bị chuột rút, mà ngay cả đối với thanh niên, thậm chí là trẻ em cũng có thể gặp phải hiện tượng này. Theo các bác sĩ, đa phần các trường hợp bị chuột rút là lành tính, tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, nếu thường xuyên gặp hiện tượng này và kèm theo đó là một số triệu chứng như uống nhiều nước, đi tiểu nhiều lần, cơ thể mệt mỏi, sợ lạnh, tăng cân, da xanh xao nhợt nhạt, đau chân khi đi bộ đoạn ngắn... thì rất có thể đó là dấu hiệu tiềm ẩn của một bệnh nào đó.

Cách cắt dứt cơn đau:

- Cố gắng đứng dậy đi hoặc lắc lư chân.

- Kéo căng cơ bắp chân, ngồi thẳng chân và cố gắng gập bàn chân về phía đầu gối.

- Xoa bóp, chườm lạnh bằng túi đá hoặc tắm bằng nước ấm.

Tùy thuộc vào từng nguyên nhân dẫn đến chuột rút, sẽ có biện pháp thích hợp để chữa trị. Ngoài một số biện pháp trên, đối với người già, do đặc điểm lứa tuổi, sẽ có phương pháp phòng ngừa và điều trị chuột rút phù hợp với đặc điểm tâm lý và sức khỏe.

Để phòng ngừa chuột rút cần thực hiện:

- Uống đủ nước trong ngày.

- Giới hạn hoặc tránh uống nhiều rượu, bia và cà phê.

- Ăn uống cân bằng, bảo đảm đầy đủ canxi, kali, manhe.

- Tập xe đạp tại chỗ hoặc tập kéo căng cơ bắp chân vài phút trước khi ngủ.

- Nếu bạn đang dùng thuốc để chữa bệnh và bị chuột rút, hãy thông báo với bác sĩ điều trị để tìm nguyên nhân.

- Khi thực hiện các hướng dẫn trên mà chuột rút vẫn xảy ra, cần đi khám ngay để điều trị chứng bệnh này.

Tác giả : Lại Thuỷ

Bài 3. Chuột rút, nên dùng thuốc gì



Chuột rút là sự co cơ không cố ý (tự nhiên hay do lệch tư thế) rất đau đớn, đôi khi chỉ thoáng qua vài giây nhưng có khi kéo dài đến nửa tiếng thậm chí một tiếng.

Lúc đó khối cơ cứng, ngắn lại và đòi hỏi tiêu thụ rất nhiều oxy và glucose.

Bình thường hầu như không gây tác hại gì. Song có khi nguy hiểm nếu xảy ra lúc đang bơi, đi xe, đang vận hành máy móc vì lúc đó sẽ không làm chủ được vận động. 

Có nhiều nguyên nhân gây ra chuột rút (chuột rút) và cách khắc phục theo từng nguyên nhân:

Do thiếu canxi, magie và kali: Nguyên nhân này thường gặp ở người có thai, cho con bú, hay ở trẻ trưởng thành (do trong khẩu phần ăn không đủ các chất này).

Với nguyên nhân đó chỉ cần bổ sung các chất trên là được.

Lưu ý: nên bổ sung từng thứ một. Chẳng hạn nếu thiếu cả canxi và magie thì bổ sung magie trước rồi bổ sung canxi sau vì canxi làm giảm sự hấp thụ magie.

Ngoài ra chuột rút còn do ứ đọng axit lactic (do vận động quá mức, cung cấp thiếu nước hay do dùng thuốc làm cho chuyển hóa bị rối loạn).

Do sự lão hóa hệ thần kinh, hệ cơ hay hệ mạch: Nguyên nhân này thường xảy ra với những người lớn tuổi.

Ở người lớn tuổi, nguyên nhân này lại đi kèm với nguyên nhân trên (vì sự hấp thu các chất trên giảm sút).

Cách khắc phục là vừa bổ sung canxi, magie và kali vừa bổ sung các chất có lợi cho hệ thần kinh cơ và hệ tuần hoàn.

Thường dùng nhất là vitamin B1 uống, liều cao hay vitamin B6 (phối hợp sẵn trong viên magie - B6).

Do hoạt động thái quá của hệ thần kinh cơ bắp: Một số hoạt động kiềm chế hệ thần kinh trung ương bị mất (do quá mệt mỏi hay lạm dụng thông tin phản hồi của cơ bắp).

Chẳng hạn như tập luyện căng thẳng lâu trong một tư thế, trong một điều kiện bắt buộc khác với bình thường (như lạnh đột ngột).

Điều này hay xảy ra với vận động viên và cách phòng chữa chuột rút ở họ cũng có khác:

- Cần có thời gian làm duỗi cơ 5-10 phút trước lúc khởi động, mang trang bị đúng (như dùng loại giày thích hợp), dùng đủ nước (thiếu nước sẽ gây tích lũy axit lactic), khi bơi lội hay bị chuột rút ở ngón chân (nên khởi động cho ấm, vào nước từ từ bằng vận động chậm).

- Khi bị chuột rút thì ngừng ngay hoạt động, nếu được có thể kéo duỗi cơ từ 15-20 giây cho đến khi cơ giãn hoàn toàn.

- Sau khi bị chuột rút nên nghỉ luyện tập khoảng một giờ để cơ bắp và hệ thần kinh trung ương đủ hồi phục.

Xoa dầu, làm nóng vùng chuột rút trong vài phút để làm giãn cơ.

Đương nhiên vận động viên cũng cần có chế độ ăn hay dùng thuốc bổ sung đủ canxi, magie, vitamin như các trường hợp nêu trên và nhu cầu của vận động viên bao giờ cũng cao hơn.

Một thuốc nữa thường dùng trong chuột rút là loại làm bền và giãn mạch.

Chúng làm cho máu lưu thông, cung cấp đủ các chất cho hệ cơ và thần kinh.

Thường có thể dùng cyclo - 3 fort (gồm cao Ruscus alculeatus + hesperdin methyl chacol và vitamin C) hay các loại khác như benzequerein. Thuốc khó dùng, cần có chỉ dẫn của thầy thuốc.
Người bị chuột rút cũng không nên lạm dụng chất kích thích như cà phê.

Y học cổ truyền cho chuột rút là do hàn (lạnh thì co) thuộc phong (gây co cứng) do ẩm (khí huyết ứ trệ).

Thường dùng bài thuốc thư cân hoạt huyết bao gồm tới 12 vị (phòng phong, kinh giới, độc hoạt, đương quy, tục đoạn, thanh bì, hồng hoa, chỉ xác, ngũ gia bì, đỗ trọng, ngưu tất) gia giảm từng vị từ 6-12g.
Sắc uống, mỗi đợt năm ngày. Xét kỹ thì các thuốc trên có cơ chế phòng ngừa chuột rút giống như tân dược.

Bổ sung thức ăn hay dùng thuốc với liều đầy đủ, duy trì cho đến lúc tình trạng bị chuột rút không còn hoặc rất hiếm xảy ra.

Theo SK&ĐS

Cúm H5N1

Triệu chứng:

Ở người, triệu chứng cúm H5N1 lúc mới phát bệnh cũng giống cúm thông thường, gồm sốt, ho, đau họng, đau nhức cơ. Tuy nhiên, bệnh cúm H5N1 có thể diễn tiến nặng lên với viêm phổi và các triệu chứng hô hấp nguy hiểm, có thể dẫn đến tử vong. Hiếm gặp hơn, bệnh nhân cúm H5N1 có thể có triệu chứng viêm kết mạc, vốn không có ở những trường hợp cúm do virus H7.

Đường lây nhiễm:

Các chủng của virus cúm gà có thể xâm nhiễm vào nhiều loại động vật khác nhau như chim, lợn, ngựa, hải cẩu, cá voi và con người. Bệnh cúm gà lây truyền qua không khí và phân bón, nhưng cũng có thể gây nhiễm trên thức ăn, nước, dụng cụ và quần áo. Tuy nhiên, hiện giờ chưa có bằng chứng thực nghiệm nào cho thấy virus cúm gà có thể sống sót trong thức ăn đã được nấu chín.
Thời kỳ ủ bệnh từ 3 đến 5 ngày. Triệu chứng mắc bệnh ở các động vật là khác nhau, nhưng một số biến thể virus có thể dẫn đến tử vong chỉ trong vòng vài ngày.

Xem chi tiết >>

Dùng nước nóng để chữa những bệnh thông thường

Thứ nhất là bệnh đường ruột và dạ dày

Đối với những loại bệnh đường ruột và dạ dày do bị lạnh bụng xuất hiện những triệu chứng như: táo bón, đi ngoài, đầy bụng, đau bụng, không tiêu hóa, trên cơ sở uống thuốc theo hướng dẫn của y bác sĩ ra, có thể lấy khăn mặt bọc bình nước nóng hoặc dùng túi chườm đựng 400 ml nước nóng, chườm lên bụng cho đến khi nước nguội thì thôi, nếu vẫn không đỡ thì lại chườm tiếp. Đồng thời có thể kết hợp biện pháp xoa bóp, hiệu quả cũng rất tốt. Cách này vừa tiện vừa đơn giản, dễ thao tác, người bệnh dễ học và dễ tiếp thu, mà già trẻ, gái trai đều thích hợp. Khi uống thuốc hiệu quả không được nhanh thì biện pháp này lại càng thích hợp.

Xoa bụng có thể lấy bình nước nóng được bọc khăn mặt, căn cứ theo tình hình của người bệnh xoa ngược chiều kim đồng hồ, rồi lại xoa xuôi theo chiều kim đồng hồ, sau đó chườm rốn , hiệu quả rất tốt.

Thứ hai là cảm cúm và mệt mỏi

Trên cơ sở uống thuốc theo sự hướng dẫn của y bác sĩ, có thể lấy gừng thái lát mỏng, nấu nước gừng lau lưng, trọng điểm là sau gáy và dọc hai bên xương sống, cho đến khi lưng đỏ lên, và người bệnh có thể chịu đựng được, phải lau đều tay, không nên quá mạnh. Biện pháp này có tác dụng đánh cảm, đỡ lạnh và lưu thông mạch máu, đồng thời có thể kết hợp châm cứu, xoa bóp v.v, hiệu quả rất tốt, bạn có thể làm thử xem.

Theo CRI, 11/3/2011

Bệnh Rubella khác gì với bệnh sởi

Gần đây, tại nước ta bỗng xuất hiện và lan rất nhanh một bệnh sốt phát ban kiểu mới còn được gọi là Rubella hay bệnh sởi Đức. Vậy Rubella có phải là bệnh sởi mà chúng ta vẫn thường gặp ở trẻ nhỏ?  

Bệnh sởi

Thường gặp ở trẻ từ 1 tuổi trở lên, thời gian nung bệnh từ 7-10 ngày. Bệnh khởi phát trong 2-3 ngày với các triệu chứng: sốt đột ngột từ 38 độ C trở lên, mắt ướt, kèm nhèm, ho, chảy nước mũi, tiêu chảy... Khi bệnh toàn phát thì sốt cao 38,5-39 độ C, li bì, mệt mỏi, các ban sởi dày, mịn, xuất hiện đầu tiên ở sau tai, lan ra mặt, cổ xuống thân mình, tứ chi trong 1-2 ngày. Bệnh sẽ lui khi hết sốt, ban bay dần theo trình tự mọc và để lại vết thâm trên da.

Bệnh sởi hay để lại nhiều biến chứng khi bệnh toàn phát hoặc lui bệnh như: viêm phổi, viêm phế quản... có thể gây tử vong, nhất là ở trẻ dưới 1 tuổi; viêm tai giữa, viêm xoang, viêm răng lợi (nếu nặng bị cam tẩu mã); tiêu chảy có thể gây mất nước dẫn đến tử vong; suy dinh dưỡng; viêm loét giác mạc; lao và các bệnh nhiễm trùng khác.

Bệnh sởi đã có vắc-xin tiêm phòng, đặc biệt trẻ em dưới 1 tuổi đã được tiêm phòng đầy đủ.

Bệnh Rubella

Bệnh Rubella lây nhiễm qua đường hô hấp, có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nung bệnh từ 12-14 ngày, khởi phát với các triệu chứng sốt nhẹ, các dấu hiệu mắt ướt, ho, chảy nước mũi, ỉa lỏng... gần như không thấy.

Khi bệnh toàn phát, các biểu hiện mới thấy rõ: mệt mỏi, sốt nhẹ, chảy nước dãi và rõ ràng nhất là nổi mẩn đỏ trên da giống như bệnh sởi. Trẻ ít khi nằm li bì, xung huyết mắt, da mặt, hạch to ở dọc hai bên cổ, không đau. Các nốt ban trên da dạng chấm đỏ rải rác, mọc không có quy luật và có thể thấy đau khớp. Khi bệnh lui thường hết sốt, ban bay nhanh không theo quy luật, không để lại các dấu vết trên da, hạch trở về bình thường muộn hơn, thường sau 1 tuần.

Các biến chứng của Rubella chủ yếu là đau và sưng khớp, nhất là ở phụ nữ cao tuổi (chiếm 70%), viêm não, xuất huyết giảm tiểu cầu, viêm thần kinh, gây dị dạng thai nhi ở phụ nữ có thai. Phụ nữ mắc bệnh Rubella khi đang mang thai có khả năng sinh con bị các dị tật bẩm sinh như: các bệnh tim bẩm sinh, bệnh đầu nhỏ, chậm phát triển tâm thần, đục thủy tinh thể, điếc, các tổn thương xương dài...

Rubella là một bệnh nhẹ, diễn biến lành tính, tỷ lệ tử vong và biến chứng rất thấp. Tuy nhiên, nó lại đặc biệt nguy hiểm với phụ nữ có thai, nhất là trong 3 tháng đầu. Nó có thể gây sẩy thai, dị tật thai nhi và bệnh Rubella bẩm sinh ở trẻ mới sinh.

Những trẻ mắc Rubella bẩm sinh dễ gặp các biến chứng nặng nề như bại não, tổn thương phổi, mù mắt... Một số nước có quy định bắt buộc phá thai nếu người mẹ mắc Rubella trong 3 tháng đầu của thai kỳ.

Rubella hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Cách chữa chủ yếu vẫn là cho bệnh nhân nghỉ ngơi tĩnh dưỡng và dùng các thuốc nâng cao thể trạng, đặc biệt là vitamin để tăng khả năng chống đỡ của cơ thể.

Phòng ngừa

Cách phòng ngừa đặc hiệu đối với bệnh Rubella là tiêm vắc-xin loại kết hợp phòng cả 3 bệnh rubella, sởi và quai bị. Sử dụng cho trẻ em trên 12 tháng tuổi và người lớn.

Cần khuyến cáo những phụ nữ trong độ tuổi mang thai, hoặc dự định mang thai trong thời gian này nên đi chích ngừa bệnh. Sản phẩm tạo miễn dịch trong thời gian rất dài và tác dụng bảo vệ vẫn còn nếu người phụ nữ chích ngừa mang thai nhiều năm sau đó.

Ngoài ra, có thể phòng bệnh bằng các biện pháp không đặc hiệu khác như mặc đủ ấm, ăn uống đảm bảo dinh dưỡng, cách ly và thực hiện các biện pháp phòng lây lan vì bệnh truyền nhiễm rất nhanh qua đường hô hấp.

Theo TS BÙI MẠNH HÀ
Theo Thanh Niên

Bài 2. Dấu hiệu và triệu chứng


Sau một thời gian ủ bệnh trong vòng 14-21 ngày, sởi Đức sẽ gây ra các triệu chứng tương tự như bệnh cúm. Các triệu chứng ban đầu là phát ban trên mặt, sau đó lan đến mình, tay, chân và thường giảm đi sau ba ngày (đó là lý do tại sao nó thường được gọi là bệnh sởi ba ngày). Các dấu ban thường lặn đi khi bệnh lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể. Các triệu chứng khác bao gồm sốt nhẹ, sưng hạch (ở vùng chẩm và háng), đau khớp, nhức đầu và viêm kết mạc.[7] Sưng hạch bạch huyết và các tuyến có thể kéo dài tới một tuần và sốt hiếm khi tăng lên trên 38oC (100,4oF). Ban của sởi Đức thường có màu hồng hoặc hơi đỏ, gây ngứa và thường kéo dài khoảng ba ngày sau đó biến mất để lại những nốt thâm nhỏ trên da.

Sởi Đức có thể gây bệnh cho bất cứ độ tuổi nào và thường là bệnh nhẹ, hiếm gặp ở trẻ sơ sinh hoặc những người trên 40 tuổi, những người lớn tuổi nếu mắc bệnh thì có những triệu chứng nghiêm trọng hơn.

Xem đầy đủ >>

Cảm lạnh và cách điều trị

Có tới gần 200 căn bệnh được gọi là cảm lạnh.

Nguyên nhân gây bệnh là những vi-rút - những sinh vật sống nhỏ xíu được truyền từ người bệnh sang người khoẻ khi ho, hắt hơi, thậm chí cả khi nói chuyện. Vi-rút thâm nhập vào cơ thể sẽ tấn công bên trong các tế bào đường hô hấp trên và huỷ hoại chúng.

Đứng đầu (về tần số và số lượng) trong số những căn bệnh cảm lạnh là bệnh cúm và những chứng bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính và chiếm 95% tất cả những căn bệnh nhiễm trùng. Riêng ở Nga, mỗi năm có từ 27,3 đến 41,2 triệu người mắc bệnh cúm và những chứng bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính khác.

Bệnh cúm kèm theo tỉ lệ tử vong cao, đặc biệt ở trẻ nhỏ và người già. Bệnh cúm và những chứng bệnh giống cúm kéo dài dai dẳng đến gần 1 năm. Trong thời gian này, người bệnh bị sốt, mệt mỏi, đau đầu, bị ngộ độc bởi những prô-tít của vi-rút có độc tố.

Thường xuyên bị cúm và những chứng bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính sẽ làm tổn hại hệ tim mạch, giảm tuổi thọ trung bình của con người đi một vài năm. Sau khi bệnh thuyên giảm, hệ miễn dịch cũng yếu đi, cho nên hàng năm mỗi người có thể bị nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính nào đấy từ 3-4 lần hoặc nhiều hơn. Những dấu hiệu đầu tiên của nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính là sốt (trên 37 độ C), nhiễm độc (suy nhược, uể oải, buồn nôn, đau đầu, đau trong bắp thịt), rồi sau đó tiến tới đau họng, ho, hắt hơi, sổ mũi.

Để bảo đảm khỏi bệnh nhanh, chỉ có cách là bắt đầu điều trị bệnh kịp thời. Không phải lúc nào cũng có thể điều trị khỏi bệnh bằng các phương pháp y học dân tộc, cho nên để giảm nhẹ những triệu chứng cảm lạnh, cần phải uống thuốc. Thực tế cho thấy nếu bệnh không được điều trị đến nơi đến chốn thì không tránh khỏi biến chứng và có thể trở nên khá nguy hiểm.

Cần lựa chọn thuốc dựa vào tính hiệu quả và an toàn cho cơ thể.

Đó là những thuốc không chỉ có tác dụng hạ sốt và giảm đau mà còn có tác dụng kháng viêm và kháng vi-rút. Khi bị cảm lạnh, trước hết phải dùng những thuốc có tác dụng mạnh, ban đầu hãy thử những phương pháp vô hại hơn. Điều này được bắt đầu càng sớm thì triển vọng khỏi bệnh càng lớn.

Ngâm chân trong nước nóng có mù tạc trong vòng 10 phút, uống nước ép củ cải với mật ong, nước sắc hoa tú cầu (1 thìa hoa tú cầu cho vào nước đun sôi nhỏ lửa chừng 10 phút, rồi uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 thìa to) giúp điều trị tốt chứng cảm lạnh. Ngoài ra, súc họng bằng nước hãm cây mẫu thảo, hoa xôn hoặc nước sắc từ hỗn hợp là cây hoa xôn, hoa miên quì rừng và hoa cây cơm cháy vào buổi sáng và ban đêm cũng có tác dụng chữa bệnh.

Để khắc phục chứng sổ mũi, người ta có thể hít bột cà phê đã rang với chất hỗn hợ men-ton, lần lượt cho tia nước vòi hoa sen chảy vào vùng gốc mũi (cứ 5 phút dùng nước nóng, rồi 5 phút nước lạnh) và cuối cùng là tắm nước nóng.

Khi bị ho nặng nên dùng liệu pháp thực vật: hoa cây cơm cháy, hoa cây đay mỗi loại 2 phần, vỏ cây liễu 3 phần, hoa mẫu đơn, rễ cam thảo, hoa mẫu thảo bán trong hiệu thuốc, mỗi loại 1 phần, rồi đem nghiền nhỏ tất cả. Lấy 2 thìa bột hỗn hợp này hoà với 0,5 lít nước đun sôi, hãm chừng 15 phút, sau đó lọc bỏ bã và uống ở dạng ấm trong cả ngày.

Nếu cảm lạnh dẫn đến viêm phế quản thì nhất thiết phải đến bác sĩ khám bệnh. Khi bị cảm lạnh nên ăn tỏi và hành nhiều hơn, buổi tối nên uống trà bạc hà, quả phúc bồn tử đen, trái dâu tây. Đồng thời, uống sữa nóng với mật ong hoặc nước xô đa, nước khoáng cũng rất tốt cho việc điều trị bệnh.

Lê Thu Thủy
(Đại học Y tế cộng đồng)
Theo nguoicaotuoi.orrg.vn

Kinh hoàng công nghệ tẩy trắng tăm xỉa răng

Nhìn những chiếc tăm nhỏ nhắn, quen thuộc với mỗi người sau những bữa ăn, ít ai biết rằng, phía sau đó là công đoạn sản xuất đáng giật mình, đặc biệt là công đoạn tẩy trắng tăm bằng đủ các loại hóa chất, đến người làm cũng phải đeo găng tay, khẩu trang mới dám “xông” vào.

Có dịp đến thăm các xưởng làm tăm tại xã Quảng Phú Cầu (Ứng Hòa – Hà Nội), điều dễ khiến du khách nhận ra là công nghệ sản xuất mặt hàng tăm tre ở đây đã khác xưa rất nhiều. Từ một xã chuyên sản xuất tăm bằng lao động thủ công cách đây vài năm thì nay, việc sản xuất gần như phụ thuộc vào máy móc. Tuy nhiên, có một công đoạn mà không máy móc nào có thể thay thế được và cũng là công đoạn khiến nhiều người dùng tăm lo sợ nhất từ trước tới nay chính là khâu tẩy trắng tăm.


*Xung quanh các bể ngâm tăm là ngổn ngang các can nhựa đựng hóa chất.

Nhiều hộ làm tăm ở Quảng Phú Cầu vẫn đinh ninh, việc dùng các loại hóa chất để tẩy trắng tăm là đương nhiên nếu muốn ra thành phẩm bắt mắt. Hơn nữa, việc này lại không tốn điện, không… độc hại.

Ông T, chủ một xưởng sản xuất tăm tại xã Quảng Phú Cầu cho biết: Cả xã này trước đây rất nhiều người sử dụng các hóa chất để tẩy trắng tăm nhưng giờ chỉ còn một số hộ gia đình vẫn giữ công thức cũ, trong đó có xưởng nhà ông. Theo ông T, việc tẩy trắng và chống mốc cho tăm bằng hóa chất… không ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Để minh chứng, ông dẫn chúng tôi vào khu vực ngâm, ủ tăm để “mục kích”. Tuy nhiên, đến nơi, khái niệm “không độc hại” của ông T dường như không “ăn nhập” gì với những hình ảnh chúng tôi chứng kiến.

* Khu vực dành cho việc tẩy trắng tăm rất đơn giản nhưng kín đáo.

Trong các bể ngâm tăm được xây bằng bê tông dày là thứ nước màu vàng đục đang sủi bọt. Các nhân viên phải bịt kín khẩu trang, đeo gang tay rất cẩn thận trong khi đảo các bó tăm. Xung quanh bể là ngổn ngang các can đựng hóa chất.

Mùi hôi từ các hóa chất trong bể xộc lên khiến chúng tôi cảm thấy xốn xang, tức ngực. Khi chúng tôi muốn nhấc đầu một bó tăm lên để xem tác dụng của chất tẩy trắng, một nhân viên cảnh báo: không đeo gang tay thì đừng sờ vào, kẻo bỏng rộp tay.

Lúc này, ông T mới cho biết: các hóa chất này ông vẫn nhập tại các kho ở phường Đức Giang (Long Biên - Hà Nội). Do quen biết nên mỗi khi mua, chỉ cần bảo lấy chất để ngâm tẩy tăm là họ xuất hàng. Cứ thế mang về, sử dụng theo công thức cố định mà không cần biết đó là… chất gì. “Nông dân như chúng tôi thì không cần phải biết các thành phần của nó đâu”, ông T nói.

*Tăm được ngâm trong hóa chất để tẩy trắng và chống mốc.

Tuy nhiên, theo anh B.Đ – chủ một xưởng sản xuất tăm hương lâu năm trong xã, thì các chất tẩy trắng phần lớn là NAHSO3, H2O2 (oxi đậm đặc). Theo đó, những bó tăm sau khi được tiện tròn ở xưởng sẽ được tẩy trắng và chống mốc rồi cho vào bể ủ khoảng 4 giờ, sau đó tiếp tục cho vào dung dịch xút ngâm thêm 2-3 giờ nữa trước khi vớt ra, phơi khô rồi đóng bó. Nhiều gia đình chỉ gia công đến giai đoạn này là xuất hàng. Nhưng nếu khách có nhu cầu, các xưởng ở đây sẽ tiếp tục thao tác cho ra tăm thành phẩm ở công đoạn cắt, làm trơn bóng tăm và ủ hương liệu quế.

Khi được hỏi các hóa chất đó có gây độc hại cho sức khỏe không, anh B.Đ thừa nhận: "Dung dịch này nếu bắn vào da sẽ làm rát và phồng đỏ, đặc biệt là xút. Mùi của xút cũng khiến người làm choáng váng mỗi khi mang tăm đi phơi dưới trời nắng gắt". Nhưng chốt lại, anh BĐ khẳng định: “Tăm không ngâm hóa chất thì không thể trắng được và rất mau mốc”.

* Sau khi tẩy trắng bằng nước hóa chất, tăm được đưa vào bể khô để ủ trong vòng 10h đồng hồ. Sau đó, theo yêu cầu của khách, tăm sẽ được tiện tròn, và ủ hương quế.

Theo ông Lê Văn Dịu - Phó chủ tịch UBND xã Quảng Phú Cầu: Hiện nay, trong xã chưa có hộ nào đăng ký kinh doanh về việc sản xuất tăm tre nên việc quản lý sản xuất của chính quyền địa phương tới các hộ dân vẫn khó khăn. Việc cấp bách bây giờ là vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng từ việc các hộ gia đình dùng hóa chất tẩy tăm thải thẳng ra môi trường chứ không phải là dùng các hóa chất trong việc tẩy trắng tăm nữa”.

Trong khi đó, trao đổi với phóng viên Giáo Dục Việt Nam, ông Nguyễn Duy Thịnh - Viện Công nghệ thực phẩm, đại học Bách Khoa Hà Nội - cho biết: Bất cứ một loại hóa chất nào khi dùng để tẩy trắng tăm đều có thể gây độc hại, và mức độ độc hại tùy theo nồng độ của các hóa chất. Hiện nay, một số hóa chất như Na2SO3, K2SO3, H2O2 được cho phép sử dụng trong việc tẩy trắng thực phẩm, nhưng theo tôi, dù ở góc độ nào thì cũng không nên sử dụng vì các loại hóa chất này khó bảo quản, trong quá trình vận chuyển có thể “biến chất” thành các hóa chất khác. Mặt khác, khi ngâm hóa chất để tẩy trắng tăm trong thời gian dài, các hóa chất này ngấm sâu vào trong, người tiêu dùng sử dụng sản phẩm vẫn rất nguy hiểm.

(Theo Giáo dục Việt Nam)

Tóc xanh, tóc bạc

Tóc có tác dụng tích luỹ chất độc, cho nên sau khi nạn nhân ăn phải chất ác-sê-nic người ta có thể tìm thấy chất này trong tóc.

Tóc tích luỹ chất độc

Do đó mỗi tháng mọc dài thêm 0,5cm cho nên có thể xem phần độ dài của tóc trong đó có chất ác-sê-nic để tính ngày bị đầu độc. Chỗ tóc có chất độc ác-sê-nic càng xa chân tóc thì ngày càng lâu (còn nếu trong tóc chia thành những đoạn trong đó xen kẽ những đoạn có chất ác-sê-nic và không có chất này, thì có thể kết luận rằng tác dụng của chất ác-sê-nic không liên tục hoặc nạn nhân bị đầu độc nhiều lần ngắt quãng.

Tại sao tóc bạc?

Sợi tóc luôn luôn mọc dài ra. Đó là tóc chết. Chỉ có phần chân tóc là còn sống và sợi tóc mọc dài ra ở phần chân tóc. Chính ở chân tóc có quá trình sinh lí làm cho sợi tóc có màu sắc tuỳ theo giống người, thí dụ như màu đen, màu hung đỏ hay màu bạch kim, và sau đó sợi tóc sẽ giữ mãi mãi sắc màu ban đầu và không thay đổi một cách tự nhiên. Cứ vài năm thì sợi tóc sẽ ngừng mọc dài ra và rụng đi, khi đó sợi tóc mới được mọc ra thay thế. Vì vậy, khi tóc bạc thì đó là vì những sợi tóc mới mọc ra bị mất màu đi. Sự tạo màu sắc do những hoá chất ở chân tóc điều khiển. Đấy là một tiến trình về kích thích tố, thay đổi theo tuổi tác như những tiến trình kích thích tố khác trong cơ thể. Mầu tóc thường bạc vào lúc lớn tuổi, khi trong cơ thể đang diễn ra nhiều thay đổi kích thích tố. Sự thay đổi mầu tóc cũng có thể do những kích động bất ngờ. Con người ở trong một trạng thái kích động thì có thể bạc, nhưng phải mất vài tuần lễ.

Thế cân bằng tế nhị giữa kích thích tố kiểm soát sự tạo mầu sắc cho sợi tóc có thể bị đảo lộn vì những thay đổi khác như bệnh tật. Có một số bệnh tật làm cho tóc bạc sớm. Hiện nay chúng ta chưa biết rõ về tiến trình kiểm soát mầu sắc của sợi tóc. Cách duy nhất để chữa trị tóc bạc vẫn là nhuộm tóc mà thôi.

Sợi tóc, máy đo độ ẩm

Năm 1783, hai nhà vật lí học người Thụy Sĩ là Xớt-nuya và Ghê Lút-xắc đã phát hiện ra sợi tóc có tính có giãn theo độ ẩm. Sau đó, nhà bác học người Nga Xrê-đơ-nhép-xki giải thích được nguyên nhân thay đổi co giãn của sợi tóc.

Khi không khí ẩm ướt thì sợi tóc sẽ giãn dài ra, còn khi lượng hơi ẩm càng ít thì tóc càng co ngắn lại.

Các nhà khoa học cho rằng sợi tóc là một cái máy đo độ ẩm rất tốt. Chỉ cần phóng đại độ co giãn của sợi tóc, là có thể biết ngay được lượng hơi ẩm trong không khí là bao nhiêu mức giới hạn và để biết được thời tiết.

Xuất khẩu tóc

Mỗi năm, Ấn Độ xuất khẩu 3000 tấn tóc. Người cung cấp tóc là các nhà chùa ở miền nam Ấn Độ. Tại đây, từ lâu đời đã có tục lệ “dâng tóc cho trời”. Khách thập phương đến đây thường cắt tóc để lại cúng và họ không biết rằng, bằng hành động này, họ đã góp cho quỹ Nhà nước rất lớn. Với số dân gần một tỉ Ấn Độ có thể cung cấp mỗi năm 500.000 tấn tóc.

Tóc giả ở Mỹ và Nhật Bản

Năm 1989, 3 trong số các cửa hàng bán tóc giả ở Niu Yóoc (Mỹ) đã bán được 20 nghìn bộ tóc giả có búi tó củ hành phương Đông cho các diễn viên, ca sĩ và những người ưa mốt lạ. Cứ 10 người ở Niu Yóoc thì có một người đeo tóc giả.

Hãng Aderans (Nhật Bản) đã chế tạo thành công một loại tóc giả từ tơ nhân tạo, có những tính chất hệt như tóc thật. Người ta có thể gội, sấy khô và uốn chúng như bình thường. Nhờ một phương pháp nhuộn đặc biệt, tóc giả ở Nhật Bản có tới 30 sắc thái màu khác nhau và gần như không bị phai màu trong một thời gian rất dài.

Chính Nhân

Bài đăng phổ biến