Nhà thơ đời Đường là Vương Duy từng viết: "Bão thực bất tu sầu nội nhiệt, đại quan hàn hữu giá tương hàn" (Ăn no xin chớ lo nội nhiệt, quan lớn hãy còn nước mía hàn). Qua đó, có thể thấy tác dụng thanh nhiệt, tiêu cơm, giải độc của mía, đã được người xưa biết đến từ lâu.
Truyền thuyết kể rằng: Nguỵ Văn đế Tào Phi thời Tam Quốc thích ăn mía. Mỗi khi ông ta bàn việc quốc gia đại sự với các đại thần đều sai thuộc hạ để sẵn mía đã rửa sạch, vừa ăn vừa bàn công việc. Bàn việc nước xong, khi bãi triều ông ta lại cầm cây mía làm gậy chống để đi. Trong dân gian Trung Quốc còn lưu truyền tập tục ngày tết đến, họ hàng bà con tặng mía với ý nghĩa từng đốt từng đốt cao lên, năm nay tốt hơn năm trước.
Danh y Vương Thế Hùng đời nhà Thanh đã viết trong cuốn "Tuỳ tức cư ẩm thực phổ" rằng: "Mía ngọt mát, thanh nhiệt, điều hoà chức năng dạ dày, nhuận tràng, giã rượu, hạn chế giun đũa, tan đờm, tăng chất dịch, dùng chữa sốt cao, kiết lị do nóng trong, trị ho do nhiệt, ợ hơi, lợi cho hầu họng, mạnh gân cốt, trừ phong, dưỡng huyết, đại bổ âm tì". Trên lâm sàng, Đông y thường dùng mía để điều trị các chứng khô miệng lưỡi, tân dịch thiếu, táo bón, rối loạn tiêu hoá, nôn mửa ợ hơi, khó tiểu tiện, sốt cao. Vì vậy mía được mệnh danh là "phục mạch thang" tự nhiên.
Y học hiện đại qua nghiên cứu cho biết trong mía giàu prôtêin, lipit, canxi, phốtpho, sắt, vitamin, đặc biệt là hàm lượng đường khoảng 18%. Thành phần đường trong mía gồm 3 loại: xacarô, glucô và glucôza dễ được cơ thể hấp thụ, có tác dụng phòng bệnh đái tháo đường, bệnh về răng và phòng ngừa lipit máu tăng. Loại gỉ mật còn có tác dụng hạn chế tế bào ung thư.
Các bài thuốc chữa bệnh bằng mía:
Viêm dạ dày mạn tính: Nước mía 1 cốc, nước gừng một ít, trộn đều, ngày uống hai lần.
Sốt phiền khát: Mía, củ năn vừa đủ dùng: rửa sạch, thái vụn, sắc uống thay nước chè.
Ho do hư nhiệt: Mía vừa đủ dùng cắt vụn, đổ gạo dính vào nấu chè ăn mỗi ngày 2 lần vào buổi sáng- chiều, mỗi lần 1 bát.
Táo bón: Nước mía, mật ong mỗi thứ 1 cốc nhỏ, trộn đều uống lúc đói, ngày 2 lần vào buổi sáng, buổi chiều.
Buồn nôn do thai nghén: Nước mía 1 cốc, nước gừng tươi 1 thìa, ngày uống vài lần.
Trẻ em ra mồ hôi trộm: Ăn mía hoặc uống nước mía vài lần trong ngày.
Khó tiểu tiện: Mía rửa sạch, thái vụn, râu ngô, sa tiền thảo, sắc uống ngày 2 lần (sáng, chiều)
HHT
Theo nguoicaotuoi.org.vn
Thứ Năm, 28 tháng 4, 2011
Phương thuốc từ đu đủ
Như mọi người đều biết đu đủ cho ta loại quả thật là tuyệt, ăn thơm ngon thấm vào tim phổi. Đu đủ có hương vị thơm ngon độc đáo, nên được người Trung Quốc mệnh danh là “Vua quả Lĩnh Nam”.
Quả đu đủ chín có màu vàng tươi, hình dáng đẹp, lại có thể ăn tươi hay chế biến quả xanh thành nhiều món ăn rất ngon. Đặc biệt đu đủ là loại quả chứa nhiều dinh dưỡng và rất giàu dược tính nên còn được sử dụng làm thuốc chữa bệnh.
Cũng vì vậy mà ở Trung Quốc đã có câu chuyện tương truyền rằng vào đời nhà Minh có một viên quan sinh hạ được 3 người con gái, mãi tới năm 42 tuổi vị quan này mới sinh thêm được một cậu con trai đặt tên là Đức Lâm. Cậu ấm được cả phủ quý như một viên ngọc sáng. Nhưng không ngờ cậu ấm tuy được chăm chút rất chu đáo và cẩn trọng mà vẫn gầy còm trông như que củi và cứ quặt quẹo ốm yếu luôn. Do vậy đến tuổi 13 – 14 mà đi vẫn chưa vững, hay buồn nôn, kém ăn, uống rất nhiều thuốc mà sức khỏe vẫn không khá lên được. Sự thế biến chuyển, vào mùa xuân năm ấy đã xảy ra chiến tranh, viên quan đã không chống lại nổi thiên binh vạn mã của quân giặc và đã chết nơi chiến trận.
Lúc này cậu ấm Đức Lâm phải theo mẹ đi lánh nạn dưới vùng Lĩnh Nam khiến cho người mệt, bụng đói làm cho bệnh tình càng thêm nặng. Đêm đến mẹ con đều mệt nhoài, tựa vào nhau ngủ thiếp đi. Về khuya, trăng lên cao, một cơn gió lạnh làm cho phu nhân tỉnh giấc. Bỗng bà thấy trên sườn đồi trước mặt có ánh vàng lấp lánh. Một ông tiên râu tóc bạc phơ cầm gậy, lúc chỉ sang phía đông, lúc lại chỉ sang phía tây. Mấy chục con hạc tiên tỏa ánh bạc long lanh bay lượn trên không trung và biến hóa đội hình theo sự điều khiển cây gậy của ông tiên và chừng nửa giờ sau tự biến mất.
Phu nhân lấy làm lạ và bà suy nghĩ phải chăng thần tiên đang thương tình mách bảo mẹ con bà? Sáng sớm hôm sau phu nhân cố sức cõng con trai về phía quả đồi. Lên đến sườn đồi bà sững sờ ngạc nhiên vì trong thung lũng có tới mấy chục cây lạ chi chít những quả to bằng quả bầu, màu vàng óng. Bên cạnh là một dòng suối trong chảy từ trên cao xuống, xung quanh cỏ hoa tươi tốt um tùm, tỏa ra mùi hương thơm mát chẳng khác nào nơi bồng lai tiên cảnh. Giữa lúc đang đói mệt, bà đặt Đức Lâm xuống rồi lại hái một quả chín vàng ăn. Thấy quả hương vị thơm ngon và lần đầu tiên trong đời được ăn làm cho phu nhân thấy trong người tỉnh táo hẳn lên. Bèn bà đưa một miếng vào miệng con và cứ thế hai mẹ con ăn no nê. Ngày hôm sau bà dựng lều tại đó và hết ăn tươi, lại nấu chín quả ấy để hai mẹ con cùng ăn. Bỗng điều kì lạ, sau 10 ngày bà thấy bệnh của Đức Lâm lui giảm, cậu con khỏe hẳn.
Sau vài ngày nữa ăn đu đủ thì thấy Đức Lâm đã tự leo được lên núi đốn củi giúp mẹ. Cơ thể cậu rắn chắc khỏe mạnh cao lớn hẳn lên. Sự thật chắc hẳn không hoàn toàn như vậy, nhưng dù sao cũng là câu chuyện muốn thông báo với mọi người chúng ta rằng quả đu đủ thật là loại quả có tác dụng bổ dưỡng và chữa trị được nhiều bệnh.
Chính thế mà trong “Trung dược đại từ điển” của Trung quốc có ghi rằng: Đu đủ có chứa một loại kiềm có tác dụng phòng chống ung thư, sát khuẩn. Trong đu đủ có men proteine giúp cho tiêu hóa đạm, chữa rối loạn tiêu hóa và viêm dạ dày mạn tính, chữa mỏi chân gối... Còn nhựa quả đu đủ xanh có thể làm tan các tổ chức mô bị hoại thư. Ngoài ra lá đu đủ giã nát đắp chữa mụn nhọt hay vết thương viêm loét.
Người ta cũng đã phân tích thành phần trong đu đủ thấy có chất proteine chiếm 0,6%, chất béo 0,1%, đường từ 8,3 – 8,5%, các vitamine nhóm B, vitamine C chiếm 60%, ít cũng phải 20%. Vitamine A từ 2.000 – 3.500 UI như vậy so với chuối là gấp 10 lần, với ổi hay quả bơ gấp 5 lần, gần gấp đôi so với xoài.
Chất men papaine có lợi cho tiêu hóa, có tác dụng phá vỡ amine làm mềm xương thịt khi hầm cùng đu đủ. Các nhà khoa học Mỹ còn cho rằng đu đủ có khả năng ngăn ngừa ung thư phổi, cả ung thư dạ dày hay tuyến tiền liệt nhờ phong phú chất lycopene có trong quả đu đủ. Ngoài ra enzyme papaine còn có khả năng thúc đẩy quá trình làm lành vết thương nhất là vết thương do bỏng. Đu đủ lại cho năng lượng thấp nên trở thành thực phẩm lí tưởng cho những người béo phì v.v.
Để tham khảo và áp dụng, sau đây xin giới thiệu những phương thuốc trị bệnh từ đu đủ:
Chữa chứng viêm dạ dày: Đu đủ 30g, táo tây 30g, mía 30g. Tất cả sắc lấy nước uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.
Chữa tì vị hư nhược: Đu đủ 30g, củ mài 15g, sơn tra 6g, gạo nếp 100g. Tất cả nấu nhừ thành cháo ăn hai lần trong ngày vào buổi sáng và chiều. Cần ăn 10 ngày liền.
Chữa đau lưng mỏi gối: Đu đủ 30g, ngưu tất 15g, hoàng kì 10g, đỗ tương 15g, câu kỉ tử 10g, cam thảo 3g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần. Cần uống 10 ngày liền.
Chữa ho do phế hư: Đu đủ 100g, đường phèn 20 – 30g, hầm nhừ ăn ngày 1 lần. Cần ăn 5 đến 7 ngày liền.
Chữa mụn nhọt: Lấy lá đu đủ giã nát đắp rịt vào nơi mụn nhọt ngày 1 lần.
Đu đủ hầm đường phèn: Đây là món ăn mà người Quảng Đông Trung Quốc rất thích. Món ăn này nếu ăn thường xuyên vào mùa xuân hè có tác dụng thanh tâm nhuận phế, giải nhiệt, giải độc. Nếu ăn vào mùa thu đông lại có tác dụng nhuận táo, ấm dạ dày, bổ tì vị, dưỡng gan, giảm ho, nhuận phổi, tan đờm. Là một món ăn có hương vị thơm ngon đặc trưng có thể sử dụng cho mọi lứa tuổi như già, trẻ, người lớn ăn quanh năm đều được. Cách chế biến rất dễ: Lấy 1 quả đu đủ chín vàng, gọt bỏ vỏ, thái miếng cho vào bát to, tra đường phèn vào vừa đủ, sau đặt bát vào nồi hầm cách thủy sau 1 giờ lấy ra ăn cả nước lẫn cái, ngày ăn 1 lần, có thể ăn 2 lần trong 1 ngày cũng được.
B.S HOÀNG XUÂN ĐẠI
Nguồn: http://nguoicaotuoi.org.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=6&ID=738
Quả đu đủ chín có màu vàng tươi, hình dáng đẹp, lại có thể ăn tươi hay chế biến quả xanh thành nhiều món ăn rất ngon. Đặc biệt đu đủ là loại quả chứa nhiều dinh dưỡng và rất giàu dược tính nên còn được sử dụng làm thuốc chữa bệnh.
Cũng vì vậy mà ở Trung Quốc đã có câu chuyện tương truyền rằng vào đời nhà Minh có một viên quan sinh hạ được 3 người con gái, mãi tới năm 42 tuổi vị quan này mới sinh thêm được một cậu con trai đặt tên là Đức Lâm. Cậu ấm được cả phủ quý như một viên ngọc sáng. Nhưng không ngờ cậu ấm tuy được chăm chút rất chu đáo và cẩn trọng mà vẫn gầy còm trông như que củi và cứ quặt quẹo ốm yếu luôn. Do vậy đến tuổi 13 – 14 mà đi vẫn chưa vững, hay buồn nôn, kém ăn, uống rất nhiều thuốc mà sức khỏe vẫn không khá lên được. Sự thế biến chuyển, vào mùa xuân năm ấy đã xảy ra chiến tranh, viên quan đã không chống lại nổi thiên binh vạn mã của quân giặc và đã chết nơi chiến trận.
Lúc này cậu ấm Đức Lâm phải theo mẹ đi lánh nạn dưới vùng Lĩnh Nam khiến cho người mệt, bụng đói làm cho bệnh tình càng thêm nặng. Đêm đến mẹ con đều mệt nhoài, tựa vào nhau ngủ thiếp đi. Về khuya, trăng lên cao, một cơn gió lạnh làm cho phu nhân tỉnh giấc. Bỗng bà thấy trên sườn đồi trước mặt có ánh vàng lấp lánh. Một ông tiên râu tóc bạc phơ cầm gậy, lúc chỉ sang phía đông, lúc lại chỉ sang phía tây. Mấy chục con hạc tiên tỏa ánh bạc long lanh bay lượn trên không trung và biến hóa đội hình theo sự điều khiển cây gậy của ông tiên và chừng nửa giờ sau tự biến mất.
Phu nhân lấy làm lạ và bà suy nghĩ phải chăng thần tiên đang thương tình mách bảo mẹ con bà? Sáng sớm hôm sau phu nhân cố sức cõng con trai về phía quả đồi. Lên đến sườn đồi bà sững sờ ngạc nhiên vì trong thung lũng có tới mấy chục cây lạ chi chít những quả to bằng quả bầu, màu vàng óng. Bên cạnh là một dòng suối trong chảy từ trên cao xuống, xung quanh cỏ hoa tươi tốt um tùm, tỏa ra mùi hương thơm mát chẳng khác nào nơi bồng lai tiên cảnh. Giữa lúc đang đói mệt, bà đặt Đức Lâm xuống rồi lại hái một quả chín vàng ăn. Thấy quả hương vị thơm ngon và lần đầu tiên trong đời được ăn làm cho phu nhân thấy trong người tỉnh táo hẳn lên. Bèn bà đưa một miếng vào miệng con và cứ thế hai mẹ con ăn no nê. Ngày hôm sau bà dựng lều tại đó và hết ăn tươi, lại nấu chín quả ấy để hai mẹ con cùng ăn. Bỗng điều kì lạ, sau 10 ngày bà thấy bệnh của Đức Lâm lui giảm, cậu con khỏe hẳn.
Sau vài ngày nữa ăn đu đủ thì thấy Đức Lâm đã tự leo được lên núi đốn củi giúp mẹ. Cơ thể cậu rắn chắc khỏe mạnh cao lớn hẳn lên. Sự thật chắc hẳn không hoàn toàn như vậy, nhưng dù sao cũng là câu chuyện muốn thông báo với mọi người chúng ta rằng quả đu đủ thật là loại quả có tác dụng bổ dưỡng và chữa trị được nhiều bệnh.
Chính thế mà trong “Trung dược đại từ điển” của Trung quốc có ghi rằng: Đu đủ có chứa một loại kiềm có tác dụng phòng chống ung thư, sát khuẩn. Trong đu đủ có men proteine giúp cho tiêu hóa đạm, chữa rối loạn tiêu hóa và viêm dạ dày mạn tính, chữa mỏi chân gối... Còn nhựa quả đu đủ xanh có thể làm tan các tổ chức mô bị hoại thư. Ngoài ra lá đu đủ giã nát đắp chữa mụn nhọt hay vết thương viêm loét.
Người ta cũng đã phân tích thành phần trong đu đủ thấy có chất proteine chiếm 0,6%, chất béo 0,1%, đường từ 8,3 – 8,5%, các vitamine nhóm B, vitamine C chiếm 60%, ít cũng phải 20%. Vitamine A từ 2.000 – 3.500 UI như vậy so với chuối là gấp 10 lần, với ổi hay quả bơ gấp 5 lần, gần gấp đôi so với xoài.
Chất men papaine có lợi cho tiêu hóa, có tác dụng phá vỡ amine làm mềm xương thịt khi hầm cùng đu đủ. Các nhà khoa học Mỹ còn cho rằng đu đủ có khả năng ngăn ngừa ung thư phổi, cả ung thư dạ dày hay tuyến tiền liệt nhờ phong phú chất lycopene có trong quả đu đủ. Ngoài ra enzyme papaine còn có khả năng thúc đẩy quá trình làm lành vết thương nhất là vết thương do bỏng. Đu đủ lại cho năng lượng thấp nên trở thành thực phẩm lí tưởng cho những người béo phì v.v.
Để tham khảo và áp dụng, sau đây xin giới thiệu những phương thuốc trị bệnh từ đu đủ:
Chữa chứng viêm dạ dày: Đu đủ 30g, táo tây 30g, mía 30g. Tất cả sắc lấy nước uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.
Chữa tì vị hư nhược: Đu đủ 30g, củ mài 15g, sơn tra 6g, gạo nếp 100g. Tất cả nấu nhừ thành cháo ăn hai lần trong ngày vào buổi sáng và chiều. Cần ăn 10 ngày liền.
Chữa đau lưng mỏi gối: Đu đủ 30g, ngưu tất 15g, hoàng kì 10g, đỗ tương 15g, câu kỉ tử 10g, cam thảo 3g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần. Cần uống 10 ngày liền.
Chữa ho do phế hư: Đu đủ 100g, đường phèn 20 – 30g, hầm nhừ ăn ngày 1 lần. Cần ăn 5 đến 7 ngày liền.
Chữa mụn nhọt: Lấy lá đu đủ giã nát đắp rịt vào nơi mụn nhọt ngày 1 lần.
Đu đủ hầm đường phèn: Đây là món ăn mà người Quảng Đông Trung Quốc rất thích. Món ăn này nếu ăn thường xuyên vào mùa xuân hè có tác dụng thanh tâm nhuận phế, giải nhiệt, giải độc. Nếu ăn vào mùa thu đông lại có tác dụng nhuận táo, ấm dạ dày, bổ tì vị, dưỡng gan, giảm ho, nhuận phổi, tan đờm. Là một món ăn có hương vị thơm ngon đặc trưng có thể sử dụng cho mọi lứa tuổi như già, trẻ, người lớn ăn quanh năm đều được. Cách chế biến rất dễ: Lấy 1 quả đu đủ chín vàng, gọt bỏ vỏ, thái miếng cho vào bát to, tra đường phèn vào vừa đủ, sau đặt bát vào nồi hầm cách thủy sau 1 giờ lấy ra ăn cả nước lẫn cái, ngày ăn 1 lần, có thể ăn 2 lần trong 1 ngày cũng được.
B.S HOÀNG XUÂN ĐẠI
Nguồn: http://nguoicaotuoi.org.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=6&ID=738
Quả dâu, dưỡng huyết an thần
Quả dâu (còn gọi là quả dâu ta) khi chín màu đỏ đậm hoặc tím đen. Quả dâu giàu chất dinh dưỡng, ăn mềm, chua ngọt, nhiều nước, có thể ăn tươi, nấu rượu, làm nước giải khát, làm mứt, làm vị thuốc... đều tốt, được mọi người ưa chuộng. Toàn bộ cây dâu đều là những vị thuốc, từng được các thầy thuốc, nhà văn trong lịch sử đánh giá cao.
Quả dâu đã được sách vở từ đời Đường thừa nhận có công hiệu bổ can thận, dưỡng huyết, trừ phong, đỡ tiêu khát, lợi ngũ tạng, khớp xương, thông huyết khí, giải độc rượu, uống mâu ngày sẽ an thần, thính tai, tinh mắt, kéo dài tuổi thọ. Quả dâu thường được dùng chữa can thận hư, váng đầu mất ngủ, ù tai, mờ mắt, tiêu khát, táo bón, bệnh tràng nhạc, viêm khớp dạng thấp...
Lá dâu vị đắng ngọt, tính hàn, có công hiệu mát gan sáng mắt, thư phong tán nhiệt, lợi ngũ tạng, thông các khớp xương, làm mượt tóc, dưỡng tân dịch, dùng chữa cảm sốt, do, đau đầu, chóng mặt, đau sưng họng, mắt đau sưng đỏ, xuất huyết do chấn thương, rết cắn, chân phù... Cành dâu vị đắng tính bình, có tác dụng trừ phong, thông kinh lạc, lợi tiểu tiện, dùng chữa các bệnh ho hen, do phế nhiệt, phù chân, khó tiểu tiện. Những năm gần đây còn dùng chữa cao huyết áp, đái tháo đường... Y học hiện đại qua nghiên cứu đã chứng minh trong quả dâu có chứa nhiều đường glucô, glucôza, axit axetic, chất nhu toan và các loại vitamin A, B1, B2, C... Quả dâu được chế thành phù tang, bảo đơn, mứt dâu dùng điều trị suy nhược thần kinh, mất ngủ, can thận âm hư, huyết hư, tân dịch thiếu, táo bón... có công hiệu bổ huyết an thần, nhuận tràng. Viên thuốc tễ tang mạt hoàn được chế từ quả dâu, lá dâu, vừng đen có tác dụng điều trị nhất định đối với chứng bạc tóc sớm, dùng lâu ngày tóc trắng chuyển thành đen, tóc rụng sẽ mọc lại. Vì thế, người ta còn đánh giá dâu là vị thuốc trường thọ.
Một số bài thuốc chữa bệnh bằng dâu:
Mất ngủ: Quả dâu tươi 60 gam, hoặc quả dâu khô 30 gam, sắc uống ngày 2 lần vào hai buổi sáng, chiều.
Táo bón do huyết hư: Quả dâu nấu thành cao, ngày 2 lần, mỗi lần dùng 20gam.
Bạc tóc sớm: Quả dâu nấu thành cao, ngày 3 lần, mỗi lần 20 gam.
Viêm khớp: Dâu quả 250 gam, cành dâu 150 gam, tầm gửi cây dâu 100 gam, ngâm rượu uống.
Ho lâu ngày do phế hư: Quả dâu 150 gam, lá dâu 100 gam, vừng đen 100 gam, giã nát, đun thành loại nước đặc sền sệt, tra 500 gam đường, nấu thành cao. Mỗi ngày dùng 3 lần, mỗi lần 15 gam.
Chữa say rượu: Quả dâu cho vào cải trắng sạch, bóp lấy nước uống vài lần.
HHT
Nguồn: http://nguoicaotuoi.org.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=6&ID=723
Quả dâu đã được sách vở từ đời Đường thừa nhận có công hiệu bổ can thận, dưỡng huyết, trừ phong, đỡ tiêu khát, lợi ngũ tạng, khớp xương, thông huyết khí, giải độc rượu, uống mâu ngày sẽ an thần, thính tai, tinh mắt, kéo dài tuổi thọ. Quả dâu thường được dùng chữa can thận hư, váng đầu mất ngủ, ù tai, mờ mắt, tiêu khát, táo bón, bệnh tràng nhạc, viêm khớp dạng thấp...
Lá dâu vị đắng ngọt, tính hàn, có công hiệu mát gan sáng mắt, thư phong tán nhiệt, lợi ngũ tạng, thông các khớp xương, làm mượt tóc, dưỡng tân dịch, dùng chữa cảm sốt, do, đau đầu, chóng mặt, đau sưng họng, mắt đau sưng đỏ, xuất huyết do chấn thương, rết cắn, chân phù... Cành dâu vị đắng tính bình, có tác dụng trừ phong, thông kinh lạc, lợi tiểu tiện, dùng chữa các bệnh ho hen, do phế nhiệt, phù chân, khó tiểu tiện. Những năm gần đây còn dùng chữa cao huyết áp, đái tháo đường... Y học hiện đại qua nghiên cứu đã chứng minh trong quả dâu có chứa nhiều đường glucô, glucôza, axit axetic, chất nhu toan và các loại vitamin A, B1, B2, C... Quả dâu được chế thành phù tang, bảo đơn, mứt dâu dùng điều trị suy nhược thần kinh, mất ngủ, can thận âm hư, huyết hư, tân dịch thiếu, táo bón... có công hiệu bổ huyết an thần, nhuận tràng. Viên thuốc tễ tang mạt hoàn được chế từ quả dâu, lá dâu, vừng đen có tác dụng điều trị nhất định đối với chứng bạc tóc sớm, dùng lâu ngày tóc trắng chuyển thành đen, tóc rụng sẽ mọc lại. Vì thế, người ta còn đánh giá dâu là vị thuốc trường thọ.
Một số bài thuốc chữa bệnh bằng dâu:
Mất ngủ: Quả dâu tươi 60 gam, hoặc quả dâu khô 30 gam, sắc uống ngày 2 lần vào hai buổi sáng, chiều.
Táo bón do huyết hư: Quả dâu nấu thành cao, ngày 2 lần, mỗi lần dùng 20gam.
Bạc tóc sớm: Quả dâu nấu thành cao, ngày 3 lần, mỗi lần 20 gam.
Viêm khớp: Dâu quả 250 gam, cành dâu 150 gam, tầm gửi cây dâu 100 gam, ngâm rượu uống.
Ho lâu ngày do phế hư: Quả dâu 150 gam, lá dâu 100 gam, vừng đen 100 gam, giã nát, đun thành loại nước đặc sền sệt, tra 500 gam đường, nấu thành cao. Mỗi ngày dùng 3 lần, mỗi lần 15 gam.
Chữa say rượu: Quả dâu cho vào cải trắng sạch, bóp lấy nước uống vài lần.
HHT
Nguồn: http://nguoicaotuoi.org.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=6&ID=723
Xoa bóp mắt nâng cao thị lực
Người cao tuổi đi đâu cũng kè kè mang theo cặp kính lão, đôi khi cảm thấy bất tiện và vướng víu. Có cách gì khắc phục không? Tôi xin đóng góp phương pháp phục hồi chức năng mắt qua kinh nghiệm bản thân. Áp dụng phương pháp xoa bóp, tôi đã làm một cuộc “cách mạng” về đôi mắt từ chỗ thị lực chỉ còn 2/10 mà nay tăng lên 11/10 với đôi mắt tinh tường như thời trai trẻ.
Tôi xin kể lại cách làm thiện ý với các bậc cao tuổi giải phóng được “nạn” lúc nào cũng kè kè cặp kính lão và có hoài bão mách bảo với các bậc phụ huynh hãy tập cho các cháu, đẩy lùi chứng bệnh “cận thị học đường” đang lũng đoạn tuổi học trò.
Năm 50 tuổi, tôi phải mang kính 1,5 độ. Giữa năm 1992, tôi bị hiện tượng “ruồi bay” trước mắt phải đi điều trị ở Trung tâm nhiễm khoa TP, bác sĩ xác định bị bong võng mạc và thuỷ tinh thể... Điều trị nửa tháng, khi xuất viện thị lực chỉ 2/10 và bác sĩ dặn 3 điều: không được xem ti vi, xem sách báo hoặc viết lách liên tục vài giờ; không được uống rượu, bia dù cho mỗi ngày chỉ một ly nhỏ; không được ngồi xe ô tô đường dài trên 200km, để tránh bị sóc. Nếu để sóc vết thương cũ bị bong thì không chữa được. Hồi ấy tôi thấy hơi bi quan vì mình sống về nghề thiết kế mà bị cấm tiếp xúc sách báo, cấm viết lách, hay vẽ liên tục một hai giờ thì khó khăn quá.
Thời kì đầu, một phần vì hăng say chuyên môn, phần vì các cháu đi làm cả, ở nhà một mình đâm buồn nên tôi cũng vẽ vời và đọc sách báo. Đúng là có ảnh hưởng vì sau những lần như vậy, tôi thấy mắt mình lại bị mờ đi, tuy đã có kính vì bị cồm cộm nên rất khó chịu. Thế là tôi ép mình phải nghiêm chỉnh chấp hành chỉ dẫn của bác sĩ.
Nhưng rồi tai nạn ập đến, tháng 12 - 1995 tôi lại bị hiện tượng “ruồi bay” và phải đi điều trị ở Bệnh viện Quân đội 175 thành phố Hồ Chí Minh. Khi xuất viện thị lực còn 2/10 và đeo kính 3 độ.
Bất ngờ năm 1996, khi ra Hà Nội, tôi được môt đồng chí hướng dẫn xoa bóp và day hai bên thái dương để phục hồi thị lực. Nói thật lúc đầu tôi cũng không tin lắm nhưng vì ở vào thế đường cùng nên cứ thực hiện xem sao đã.
Từ đó các buổi sáng trước khi tập thể dục, tôi vuốt hai mắt và day hai bên thái dương mỗi bên 60 lần (đồng chí hướng dẫn nói phải 40 lần mới có kết quả)
Bất ngờ sau hơn một năm đôi mắt sáng ra, tôi bỏ kính 3 độ mà chỉ còn dùng loại 1,5 độ. Tiếp tục như vậy, sau hơn một năm thì không phải đeo kính nữa, còn chuyện tự xỏ kim để khâu mà không cần kính thì là chuyện nhỏ.
Sau đó khoảng năm 1998-1999, tôi ghé vào bệnh viện 175 để thử kiểm tra thị lực. Nữ bác sĩ Đức (người điều trị cũ cho tôi) kiểm tra lần 1, thị lực 11/10, bác sĩ không tin cho kiểm tra lại lần 2, vẫn thị lực 11/10. Bác sĩ Đức rất ngạc nhiên hỏi tôi: “khi xuất viện là 2/10 mà sao cách có mấy năm, thị lực giờ lại tốt thế?”. Tôi liền thuật lại quá trình tập luyện, nữ bác sĩ tán đồng: “Ồ đúng! Chân lí là ở chỗ đó”
Giữa năm 2001, quận tổ chức cho cán bộ hưu trí đi tham quan Tây Nguyên, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai bằng ô tô. Ngày đầu tiên xuất phát là đến chỗ xa nhất rồi cuốn chiếu quay về. Ngồi một ngày từ Sài Gòn đến Kon Tum với chừng trên 600km nhưng mắt vẫn bình thường. Đây là lần thứ nhất.
Đến giữa năm 2004, nhân kỉ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi cùng đoàn các chiến sĩ Điện Biên Phủ phía nam được công ty Mai Linh tổ chức cho đi tham quan. Đi xe hơi từ Hà Nội lên Điện Biên, quãng đường khoảng 500km.
Lần đi Tây Bắc này khá vất vả vì đường đèo, ổ gà nhiều nhưng mắt tôi vẫn bình thường.
Động tác tập
Dùng ba ngón tay vuốt mi mắt (mi trên) từ sống mũi ra đuôi mắt, vuốt nhẹ nhàng. Sau đó, dùng các ngón tay xoa tròn hai bên đuôi mắt theo chiều ngược kim đồng hồ.
Số lần tập, vuốt và xoa hai mắt ít nhất là 40 lần trở lên thì mới có tác dụng. Tập liên tục hàng ngày tránh khi tập khi nghỉ thì sẽ kém hiệu quả.
Trong quá trình tập, cần giữ gìn đôi mắt nên cần tránh đọc sách nơi thiếu ánh sáng, xem sách báo ngoài trời nắng, không để sách báo gần mắt quá khi đọc, cầm cách khoảng tối thiểu là 40 cm. Khi tập xong nên rửa mặt và mắt bằng nước ấm thì tác dụng phục hồi thị lực sẽ mau hơn.
Nguyễn Sơn Hà
(ĐT: 0169.5568372)
Theo nguoicaotuoi.org.vn
Tôi xin kể lại cách làm thiện ý với các bậc cao tuổi giải phóng được “nạn” lúc nào cũng kè kè cặp kính lão và có hoài bão mách bảo với các bậc phụ huynh hãy tập cho các cháu, đẩy lùi chứng bệnh “cận thị học đường” đang lũng đoạn tuổi học trò.
Năm 50 tuổi, tôi phải mang kính 1,5 độ. Giữa năm 1992, tôi bị hiện tượng “ruồi bay” trước mắt phải đi điều trị ở Trung tâm nhiễm khoa TP, bác sĩ xác định bị bong võng mạc và thuỷ tinh thể... Điều trị nửa tháng, khi xuất viện thị lực chỉ 2/10 và bác sĩ dặn 3 điều: không được xem ti vi, xem sách báo hoặc viết lách liên tục vài giờ; không được uống rượu, bia dù cho mỗi ngày chỉ một ly nhỏ; không được ngồi xe ô tô đường dài trên 200km, để tránh bị sóc. Nếu để sóc vết thương cũ bị bong thì không chữa được. Hồi ấy tôi thấy hơi bi quan vì mình sống về nghề thiết kế mà bị cấm tiếp xúc sách báo, cấm viết lách, hay vẽ liên tục một hai giờ thì khó khăn quá.
Thời kì đầu, một phần vì hăng say chuyên môn, phần vì các cháu đi làm cả, ở nhà một mình đâm buồn nên tôi cũng vẽ vời và đọc sách báo. Đúng là có ảnh hưởng vì sau những lần như vậy, tôi thấy mắt mình lại bị mờ đi, tuy đã có kính vì bị cồm cộm nên rất khó chịu. Thế là tôi ép mình phải nghiêm chỉnh chấp hành chỉ dẫn của bác sĩ.
Nhưng rồi tai nạn ập đến, tháng 12 - 1995 tôi lại bị hiện tượng “ruồi bay” và phải đi điều trị ở Bệnh viện Quân đội 175 thành phố Hồ Chí Minh. Khi xuất viện thị lực còn 2/10 và đeo kính 3 độ.
Bất ngờ năm 1996, khi ra Hà Nội, tôi được môt đồng chí hướng dẫn xoa bóp và day hai bên thái dương để phục hồi thị lực. Nói thật lúc đầu tôi cũng không tin lắm nhưng vì ở vào thế đường cùng nên cứ thực hiện xem sao đã.
Từ đó các buổi sáng trước khi tập thể dục, tôi vuốt hai mắt và day hai bên thái dương mỗi bên 60 lần (đồng chí hướng dẫn nói phải 40 lần mới có kết quả)
Bất ngờ sau hơn một năm đôi mắt sáng ra, tôi bỏ kính 3 độ mà chỉ còn dùng loại 1,5 độ. Tiếp tục như vậy, sau hơn một năm thì không phải đeo kính nữa, còn chuyện tự xỏ kim để khâu mà không cần kính thì là chuyện nhỏ.
Sau đó khoảng năm 1998-1999, tôi ghé vào bệnh viện 175 để thử kiểm tra thị lực. Nữ bác sĩ Đức (người điều trị cũ cho tôi) kiểm tra lần 1, thị lực 11/10, bác sĩ không tin cho kiểm tra lại lần 2, vẫn thị lực 11/10. Bác sĩ Đức rất ngạc nhiên hỏi tôi: “khi xuất viện là 2/10 mà sao cách có mấy năm, thị lực giờ lại tốt thế?”. Tôi liền thuật lại quá trình tập luyện, nữ bác sĩ tán đồng: “Ồ đúng! Chân lí là ở chỗ đó”
Giữa năm 2001, quận tổ chức cho cán bộ hưu trí đi tham quan Tây Nguyên, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai bằng ô tô. Ngày đầu tiên xuất phát là đến chỗ xa nhất rồi cuốn chiếu quay về. Ngồi một ngày từ Sài Gòn đến Kon Tum với chừng trên 600km nhưng mắt vẫn bình thường. Đây là lần thứ nhất.
Đến giữa năm 2004, nhân kỉ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi cùng đoàn các chiến sĩ Điện Biên Phủ phía nam được công ty Mai Linh tổ chức cho đi tham quan. Đi xe hơi từ Hà Nội lên Điện Biên, quãng đường khoảng 500km.
Lần đi Tây Bắc này khá vất vả vì đường đèo, ổ gà nhiều nhưng mắt tôi vẫn bình thường.
Động tác tập
Dùng ba ngón tay vuốt mi mắt (mi trên) từ sống mũi ra đuôi mắt, vuốt nhẹ nhàng. Sau đó, dùng các ngón tay xoa tròn hai bên đuôi mắt theo chiều ngược kim đồng hồ.
Số lần tập, vuốt và xoa hai mắt ít nhất là 40 lần trở lên thì mới có tác dụng. Tập liên tục hàng ngày tránh khi tập khi nghỉ thì sẽ kém hiệu quả.
Trong quá trình tập, cần giữ gìn đôi mắt nên cần tránh đọc sách nơi thiếu ánh sáng, xem sách báo ngoài trời nắng, không để sách báo gần mắt quá khi đọc, cầm cách khoảng tối thiểu là 40 cm. Khi tập xong nên rửa mặt và mắt bằng nước ấm thì tác dụng phục hồi thị lực sẽ mau hơn.
Nguyễn Sơn Hà
(ĐT: 0169.5568372)
Theo nguoicaotuoi.org.vn
Thứ Tư, 27 tháng 4, 2011
Mùi tây: cây rau gia vị làm đẹp da (2 bài)
Mùi tây được coi là một loại thảo dược có tác dụng chống ung thư, kích thích khả năng sinh sản. Ngoài ra cả cây và hạt mùi tây đều có thể làm đẹp da, chống tàn nhang.
Mùi tây có tên latin là Petroselinum hortense ("Petros" có nghĩa là "đá" và "selinon" có nghĩa là "cần tây"). Mùi tây dường như có nguồn gốc ở phần phía Đông Địa Trung Hải. Từ thời Trung Cổ mùi tây là một trong những loại gia vị nổi tiếng nhất, với tác dụng được ưa thích là làm sạch mùi hơi thở.
Lợi ích của mùi tây
Mùi tây chứa nhiều vitamin C hơn cả cam, chanh hay bất kì loại quả nào khác. Ngoài ra nó còn mang nhiều loại vitamin và khoáng chất khác như: provitamine A, vitamin B, vitamin E, vitamin K, beta-carotene, magiê, phốt pho, sắt, mangan, natri, kali, lưu huỳnh và canxi…
Mùi tây có tác dụng như chất chống oxy hóa (loại bỏ các độc tố và duy trì độ đàn hồi của các mạch máu), đồng thời là một chất kích thích nói chung, lợi tiểu, sát trùng, chống viêm,… Mỗi ngày chỉ cần ăn 25-30mg cần tây là đủ lượng vitamin cho cơ thể, ngoài ra nó còn có lợi cho gan, lá lách, tiêu hoá và các cơ quan nội tiết.
Mùi tây còn được dùng làm một loại rau dùng trong súp, salat… bởi nó kích thích sự thèm ăn. Về mặt y học, mùi tây được coi là một loại thảo dược có tác dụng chống ung thư (ung thư gan, ung thư ruột), chống thấp khớp, kích thích tiêu hóa, loại bỏ độc tố và sỏi thận. Hơn nữa, hạt mùi tây còn kích thích khả năng sinh sản, giúp cai rượu và chống lại các khối u não. Lá mùi tây là một chất bổ trợ vô giá, có lợi cho dạ dày, thận, bàng quang…
Về mặt thẩm mỹ, kể cả cây mùi tây lẫn hạt mùi tây đều có tác dụng làm đẹp. Cây mùi tây có thể làm sạch mặt, loại bỏ các vết tàn nhang. Hoặc lấy hai muỗng hạt mùi tây pha vào 2 ly nước nóng, sau khoảng 1 giờ thì lọc lấy nước trong và uống làm ba lần trước bữa ăn. Lượng vitamin A trong hạt mùi tây giúp đẹp da, viatmin E giúp da có độ đàn hồi tốt.
Cây rau mùi tây được nghiền nát và dùng để đắp vào các vết thương rất tốt, ví dụ như vết thương do muỗi đốt hoặc ngứa. Để đạt hiệu quả như mong muốn, tốt nhất bạn nên đắp hỗn hợp này lên vết thường trong khoảng nửa giờ.
Lưu ý khi dùng mùi tây: Các sản phẩm có chứa mùi tây là không nên dùng trực tiếp cho phụ nữ có thai hoặc những người cho con bú. Tuy nhiên nếu cho vào thức ăn thì vẫn có thể ăn được
Theo http://afamily.vn/suc-khoe
Mùi tây là gia vị quá quen thuộc với các gia đình nhưng ít ai biết nó là loại thảo dược giúp bảo vệ gan, ruột, chống ung thư, thấp khớp, kích thích tiêu hóa, loại bỏ độc tố ...
Lợi ích sức khỏe từ mùi tây
1. Chỉ cần mỗi ngày cung cấp khoảng 25-30 mg mùi tây mỗi ngày là bạn đã đủ để cung cấp một liều lượng vitamin C cần thiết cho cơ thể rồi vì mùi tây có chứa nhiều vitamin C hơn cả quả cam, chanh hoặc bất cứ thứ quả nào khác.
2. Mùi tây cũng giàu các vitamin và khoáng chất khác như: provitamine A, vitamin B, vitamin E, vitamin K, beta-carotene, magiê, phốt pho, sắt, mangan, natri, kali, lưu huỳnh và canxi có lợi cho sức khỏe cơ thể. Nó cũng hoạt động như một chất chống oxy hóa giúp cơ thể loại bỏ các độc tố và duy trì độ đàn hồi của các mạch máu.
3. Mùi tây còn là một chất lợi tiểu, sát trùng, chống lây nhiễm, chống còi xương. Chưa kể tới việc, mùi tây là một chất trung hòa có tác động tích cực đến việc giảm sự phụ thuộc của con người vào rượu hoặc thuốc lá.
4. Mùi tây cũng giúp tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể, có lợi hơn cho gan, lá lách, các cơ quan tiêu hóa và nội tiết.
5. Mùi tây còn được coi là phương pháp làm đẹp hiệu quả. Chúng giúp làm sạch da mặt hoặc loại bỏ các vết tàn nhang.
6. Mùi tây là một loại thảo mộc tuyệt vời giúp điều trị bệnh hen suyễn, thiếu máu, béo phì, thấp khớp, đau răng, chứng khó tiêu, ký sinh trùng đường ruột, rối loạn kinh nguyệt hoặc thậm chí là các khối u. Nó cũng có lợi cho những người có vấn đề về dạ dày, thận, bàng quang...
7. Hơn nữa, hạt mùi tây còn kích thích khả năng sinh sản và ức chế sự hoạt động của các khối u trong não.
Sử dụng mùi tây như thế nào?
Nước hạt mùi tây
Đổ 2 muỗng hạt mùi tây vào 2 ly nước nóng. Sau khoảng một giờ, bạn lọc hỗn hợp này và uống nước hạt mùi tây 3 lần/ ngày trước bữa ăn. Do số lượng vitamin A và vitamin E có trong nước mùi tây giúp làm đẹp da, tăng đàn hồi cho da.
Bột mùi tây
Bạn có thể nghiền hạt mùi tây thành bột mùi tây. Sau đó, bạn nên đổ hỗn hợp này trong một chiếc lọ và đậy kín rùi bảo quản nó trong tủ lạnh.
Mỗi lần bạn nên ăn một nửa thìa mùi tây/ ngày ăn 2 - 3 lần để tận hưởng đầy đủ những lợi ích nó mang lại cho sức khỏe.
Thuốc đắp mùi tây
Rau mùi tây hoặc lá rau mùi tây nghiền cũng được sử dụng như một loại thuốc đắp. Bạn lấy thuốc đắp này để đắp vào những khu vực da bị muỗi đốt hoặc ngứa sẽ có hiệu quả tức thì. Và để thu được hiệu quả mong muốn, bạn cần đắp vào chỗ sưng này trong 30 phút.
Thảo Nguyên(Theo Liveandfeel)
Mùi tây có tên latin là Petroselinum hortense ("Petros" có nghĩa là "đá" và "selinon" có nghĩa là "cần tây"). Mùi tây dường như có nguồn gốc ở phần phía Đông Địa Trung Hải. Từ thời Trung Cổ mùi tây là một trong những loại gia vị nổi tiếng nhất, với tác dụng được ưa thích là làm sạch mùi hơi thở.
Lợi ích của mùi tây
Mùi tây chứa nhiều vitamin C hơn cả cam, chanh hay bất kì loại quả nào khác. Ngoài ra nó còn mang nhiều loại vitamin và khoáng chất khác như: provitamine A, vitamin B, vitamin E, vitamin K, beta-carotene, magiê, phốt pho, sắt, mangan, natri, kali, lưu huỳnh và canxi…
Mùi tây có tác dụng như chất chống oxy hóa (loại bỏ các độc tố và duy trì độ đàn hồi của các mạch máu), đồng thời là một chất kích thích nói chung, lợi tiểu, sát trùng, chống viêm,… Mỗi ngày chỉ cần ăn 25-30mg cần tây là đủ lượng vitamin cho cơ thể, ngoài ra nó còn có lợi cho gan, lá lách, tiêu hoá và các cơ quan nội tiết.
Mùi tây còn được dùng làm một loại rau dùng trong súp, salat… bởi nó kích thích sự thèm ăn. Về mặt y học, mùi tây được coi là một loại thảo dược có tác dụng chống ung thư (ung thư gan, ung thư ruột), chống thấp khớp, kích thích tiêu hóa, loại bỏ độc tố và sỏi thận. Hơn nữa, hạt mùi tây còn kích thích khả năng sinh sản, giúp cai rượu và chống lại các khối u não. Lá mùi tây là một chất bổ trợ vô giá, có lợi cho dạ dày, thận, bàng quang…
Về mặt thẩm mỹ, kể cả cây mùi tây lẫn hạt mùi tây đều có tác dụng làm đẹp. Cây mùi tây có thể làm sạch mặt, loại bỏ các vết tàn nhang. Hoặc lấy hai muỗng hạt mùi tây pha vào 2 ly nước nóng, sau khoảng 1 giờ thì lọc lấy nước trong và uống làm ba lần trước bữa ăn. Lượng vitamin A trong hạt mùi tây giúp đẹp da, viatmin E giúp da có độ đàn hồi tốt.
Cây rau mùi tây được nghiền nát và dùng để đắp vào các vết thương rất tốt, ví dụ như vết thương do muỗi đốt hoặc ngứa. Để đạt hiệu quả như mong muốn, tốt nhất bạn nên đắp hỗn hợp này lên vết thường trong khoảng nửa giờ.
Lưu ý khi dùng mùi tây: Các sản phẩm có chứa mùi tây là không nên dùng trực tiếp cho phụ nữ có thai hoặc những người cho con bú. Tuy nhiên nếu cho vào thức ăn thì vẫn có thể ăn được
Theo http://afamily.vn/suc-khoe
7 lợi ích sức khỏe không ngờ từ mùi tây
Mùi tây là gia vị quá quen thuộc với các gia đình nhưng ít ai biết nó là loại thảo dược giúp bảo vệ gan, ruột, chống ung thư, thấp khớp, kích thích tiêu hóa, loại bỏ độc tố ...
Lợi ích sức khỏe từ mùi tây
1. Chỉ cần mỗi ngày cung cấp khoảng 25-30 mg mùi tây mỗi ngày là bạn đã đủ để cung cấp một liều lượng vitamin C cần thiết cho cơ thể rồi vì mùi tây có chứa nhiều vitamin C hơn cả quả cam, chanh hoặc bất cứ thứ quả nào khác.
2. Mùi tây cũng giàu các vitamin và khoáng chất khác như: provitamine A, vitamin B, vitamin E, vitamin K, beta-carotene, magiê, phốt pho, sắt, mangan, natri, kali, lưu huỳnh và canxi có lợi cho sức khỏe cơ thể. Nó cũng hoạt động như một chất chống oxy hóa giúp cơ thể loại bỏ các độc tố và duy trì độ đàn hồi của các mạch máu.
3. Mùi tây còn là một chất lợi tiểu, sát trùng, chống lây nhiễm, chống còi xương. Chưa kể tới việc, mùi tây là một chất trung hòa có tác động tích cực đến việc giảm sự phụ thuộc của con người vào rượu hoặc thuốc lá.
4. Mùi tây cũng giúp tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể, có lợi hơn cho gan, lá lách, các cơ quan tiêu hóa và nội tiết.
5. Mùi tây còn được coi là phương pháp làm đẹp hiệu quả. Chúng giúp làm sạch da mặt hoặc loại bỏ các vết tàn nhang.
6. Mùi tây là một loại thảo mộc tuyệt vời giúp điều trị bệnh hen suyễn, thiếu máu, béo phì, thấp khớp, đau răng, chứng khó tiêu, ký sinh trùng đường ruột, rối loạn kinh nguyệt hoặc thậm chí là các khối u. Nó cũng có lợi cho những người có vấn đề về dạ dày, thận, bàng quang...
7. Hơn nữa, hạt mùi tây còn kích thích khả năng sinh sản và ức chế sự hoạt động của các khối u trong não.
Sử dụng mùi tây như thế nào?
Nước hạt mùi tây
Đổ 2 muỗng hạt mùi tây vào 2 ly nước nóng. Sau khoảng một giờ, bạn lọc hỗn hợp này và uống nước hạt mùi tây 3 lần/ ngày trước bữa ăn. Do số lượng vitamin A và vitamin E có trong nước mùi tây giúp làm đẹp da, tăng đàn hồi cho da.
Bột mùi tây
Bạn có thể nghiền hạt mùi tây thành bột mùi tây. Sau đó, bạn nên đổ hỗn hợp này trong một chiếc lọ và đậy kín rùi bảo quản nó trong tủ lạnh.
Mỗi lần bạn nên ăn một nửa thìa mùi tây/ ngày ăn 2 - 3 lần để tận hưởng đầy đủ những lợi ích nó mang lại cho sức khỏe.
Thuốc đắp mùi tây
Rau mùi tây hoặc lá rau mùi tây nghiền cũng được sử dụng như một loại thuốc đắp. Bạn lấy thuốc đắp này để đắp vào những khu vực da bị muỗi đốt hoặc ngứa sẽ có hiệu quả tức thì. Và để thu được hiệu quả mong muốn, bạn cần đắp vào chỗ sưng này trong 30 phút.
Thảo Nguyên(Theo Liveandfeel)
Quả nho – viên ngọc trong suốt
Quả nho vỏ mỏng, nhiều nước, vị chua ngọt, nhiều chất bổ. Nho có nhiều loại: đỏ, trắng, xanh, hoa hồng, sữa... Ngoài quả ra, rễ nho, lá nho cũng đều là những vị thuốc. “Thần nông bản thảo kinh”, cuốn sách y học cổ xưa nhất của Trung Quốc từng giới thiệu về công hiệu làm thuốc của nho:
“Nho ích khí, tăng lực, cường trí, làm cho người béo khỏe, chịu đựng được đói khát, phong hàn. Ăn lâu ngày, người sẽ thấy nhẹ nhàng, thoải mái, trẻ mãi không già”. Các cuốn sách nổi tiếng như “Danh y biệt lục”, “Dược tính luận”, “Bản thảo cương mục”, “Tùy tức cư ẩm thực phả”... đều giới thiệu tác dụng tẩm bổ, kéo dài tuổi thọ của nho. Y học hiện đại đã chứng minh, trong quả nho có đường glucose, glucoza, đường saccaro, đường mộc, các axit, protein, canxi, phốt pho, sắt, caroten, các vitamin B1, B2, C, P... Nước nho ép, rượu nho đều có tác dụng diệt vi-rút, chữa thấp khớp, đái buốt.
Nho khô có tác dụng kiện tì, ích khí, là loại thuốc bổ, người bị suy nhược ăn thường xuyên rất tốt. Việc uống chút ít rượu nho có công hiệu điều trị nhất định đối với người bị viêm dạ dày mãn tính. Lá nho có tác dụng hạ đường huyết, cành nho có tác dụng tiêu viêm, mất máu, rễ nho có thể dùng để điều trị chứng nôn mửa ở phụ nữ mang thai, giúp an thai, cầm máu, tiêu thũng, lợi tiểu và hỗ trợ cho điều trị ung thư ở thực quản, ung thư vú, u tuyến bạch lympha.
Do lượng đường trong nho khá cao nên người bị táo bón không nên ăn nhiều.
Một số bài thuốc chữa bệnh bằng nho:
- Đái ra máu: Rễ nho, đường trắng mỗi loại 15 gam, sắc uống.
- Viêm dạ dày mạn tính: Rượu vang nho mỗi ngày uống 15ml, chia 2-3 lần.
- Chán ăn: Nho khô mỗi lần dùng 9 gam, nhai ăn trước bữa cơm, ngày ba lần.
- Chữa nôn: Nước nho một chén nhỏ, thêm ít gừng, khuấy đều uống.
- Trừ phiền, giảm khát: Nước nho, nước ngó sen lượng bằng nhau, hòa đều uống.
- huyết áp cao: Nước nho, nước rau cần mỗi thứ một chén nhỏ, hòa nước sôi uống, mỗi ngày hai lần.
- Phù thũng khi có thai: Rễ nho 30g sắc uống.
- Mỡ máu cao: Lá nho, sơn tra, hà thủ ô mỗi loại 10 gam sắc uống.
HHT
“Nho ích khí, tăng lực, cường trí, làm cho người béo khỏe, chịu đựng được đói khát, phong hàn. Ăn lâu ngày, người sẽ thấy nhẹ nhàng, thoải mái, trẻ mãi không già”. Các cuốn sách nổi tiếng như “Danh y biệt lục”, “Dược tính luận”, “Bản thảo cương mục”, “Tùy tức cư ẩm thực phả”... đều giới thiệu tác dụng tẩm bổ, kéo dài tuổi thọ của nho. Y học hiện đại đã chứng minh, trong quả nho có đường glucose, glucoza, đường saccaro, đường mộc, các axit, protein, canxi, phốt pho, sắt, caroten, các vitamin B1, B2, C, P... Nước nho ép, rượu nho đều có tác dụng diệt vi-rút, chữa thấp khớp, đái buốt.
Nho khô có tác dụng kiện tì, ích khí, là loại thuốc bổ, người bị suy nhược ăn thường xuyên rất tốt. Việc uống chút ít rượu nho có công hiệu điều trị nhất định đối với người bị viêm dạ dày mãn tính. Lá nho có tác dụng hạ đường huyết, cành nho có tác dụng tiêu viêm, mất máu, rễ nho có thể dùng để điều trị chứng nôn mửa ở phụ nữ mang thai, giúp an thai, cầm máu, tiêu thũng, lợi tiểu và hỗ trợ cho điều trị ung thư ở thực quản, ung thư vú, u tuyến bạch lympha.
Do lượng đường trong nho khá cao nên người bị táo bón không nên ăn nhiều.
Một số bài thuốc chữa bệnh bằng nho:
- Đái ra máu: Rễ nho, đường trắng mỗi loại 15 gam, sắc uống.
- Viêm dạ dày mạn tính: Rượu vang nho mỗi ngày uống 15ml, chia 2-3 lần.
- Chán ăn: Nho khô mỗi lần dùng 9 gam, nhai ăn trước bữa cơm, ngày ba lần.
- Chữa nôn: Nước nho một chén nhỏ, thêm ít gừng, khuấy đều uống.
- Trừ phiền, giảm khát: Nước nho, nước ngó sen lượng bằng nhau, hòa đều uống.
- huyết áp cao: Nước nho, nước rau cần mỗi thứ một chén nhỏ, hòa nước sôi uống, mỗi ngày hai lần.
- Phù thũng khi có thai: Rễ nho 30g sắc uống.
- Mỡ máu cao: Lá nho, sơn tra, hà thủ ô mỗi loại 10 gam sắc uống.
HHT
Thứ Ba, 26 tháng 4, 2011
Hoa thiên lí rau ăn vị thuốc
Hoa thiên lí còn gọi là dạ lí hương, dạ lài hương. Đông y cho rằng hoa thiên lý có vị ngọt tính bình, giải nhiệt, chống rôm sảy, là một vị thuốc an thần, làm ngủ ngon giấc...
Người ta đã phân tích thành phần dinh dưỡng có trong hoa thiên lý như chất xơ là 3%, chất đạm 2,8%, và gồm chất bột đường, các vitamin như C, B1, B2, PP và tiền vi-ta-min A (caroten), cùng các khoáng chất cần cho cơ thể như can-xi, phốt-pho, sắt, đặc biệt là kẽm (Zn) có hàm lượng khá cao, vì vậy cây thiên lí cả lá non, ngọn và hoa đều là thực phẩm quý có tác dụng bổ dưỡng giúp trẻ chóng lớn, lại giúp người già giảm được chứng phì đại tuyến tiền liệt, làm tăng sức đề kháng. Ngoài ra sự có mặt của chất kẽm còn có thể đẩy chì ra khỏi tinh dịch, chữa chứng vô sinh ở nam giới do nhiễm chì bởi thường xuyên tiếp xúc với vật liệu chứa chì như ắc quy, mực in, xăng pha chì, các động cơ có chì... Đông y cho rằng: Hoa thiên lí có vị ngọt tính bình, giải nhiệt, chống rôm sảy, là một vị thuốc an thần, làm ngủ ngon giấc, tư bổ tâm, thận, bớt đi đái đêm, đỡ mệt mỏi đau lưng, có tính chống viêm và làm tan màng mộng, thúc đẩy chóng lên da non, được sử dụng trị liệu trong các chứng như viêm kết mạc cấp và mạn, viêm giác mạc và mờ đục màng mắt, viêm kết mạc do sởi, trị giun kim.
Một số bài thuốc từ cây hoa lí:
- Phòng rôm sảy ngày hè: Hằng ngày nấu canh hoa thiên lí ăn. Với trẻ có thể nghiền lá và hoa thiên lý ra nấu lẫn với bột khi cho trẻ ăn dặm.
- Trị giun kim: Lấy lá thiên lí non nấu canh cho trẻ ăn liền từ 7 - 10 ngày sẽ hiệu quả.
- Làm giảm đau mình mẩy, nhức xương cốt: Hằng ngày lấy hoa thiên lí xào với thịt bò hoặc chấm với muối vừng ăn sẽ tác dụng.
- Làm thư giãn sau các buổi làm việc căng thẳng, người khoan khoái, ngủ dễ ngon giấc, đỡ mệt mỏi, giảm tiểu đêm: Hằng ngày lấy hoa thiên lí nấu canh ăn.
- Chữa đinh nhọt: Lấy lá cây thiên lí 30 - 50g giã nhỏ đắp vào chỗ mụn nhọt, ngày thay 1 lần, vài ba ngày sẽ khỏi.
- Chữa đái buốt, đái ra máu, đái dắt, cặn trắng: Lấy rễ cây thiên lí từ 10 - 20g, sắc lấy nước uống 2 - 3 lần trong ngày.
Chú ý: Không ăn chung hoặc xào nấu cùng thiên lí với các thức ăn giàu chất sắt như gan, tiết, thịt nạc lợn, rau muống... vì chất sắt (Fe) có trong các loại thực phẩm này sẽ đẩy kẽm (Zn) ra khỏi cơ thể.
HHT
Người ta đã phân tích thành phần dinh dưỡng có trong hoa thiên lý như chất xơ là 3%, chất đạm 2,8%, và gồm chất bột đường, các vitamin như C, B1, B2, PP và tiền vi-ta-min A (caroten), cùng các khoáng chất cần cho cơ thể như can-xi, phốt-pho, sắt, đặc biệt là kẽm (Zn) có hàm lượng khá cao, vì vậy cây thiên lí cả lá non, ngọn và hoa đều là thực phẩm quý có tác dụng bổ dưỡng giúp trẻ chóng lớn, lại giúp người già giảm được chứng phì đại tuyến tiền liệt, làm tăng sức đề kháng. Ngoài ra sự có mặt của chất kẽm còn có thể đẩy chì ra khỏi tinh dịch, chữa chứng vô sinh ở nam giới do nhiễm chì bởi thường xuyên tiếp xúc với vật liệu chứa chì như ắc quy, mực in, xăng pha chì, các động cơ có chì... Đông y cho rằng: Hoa thiên lí có vị ngọt tính bình, giải nhiệt, chống rôm sảy, là một vị thuốc an thần, làm ngủ ngon giấc, tư bổ tâm, thận, bớt đi đái đêm, đỡ mệt mỏi đau lưng, có tính chống viêm và làm tan màng mộng, thúc đẩy chóng lên da non, được sử dụng trị liệu trong các chứng như viêm kết mạc cấp và mạn, viêm giác mạc và mờ đục màng mắt, viêm kết mạc do sởi, trị giun kim.
Một số bài thuốc từ cây hoa lí:
- Phòng rôm sảy ngày hè: Hằng ngày nấu canh hoa thiên lí ăn. Với trẻ có thể nghiền lá và hoa thiên lý ra nấu lẫn với bột khi cho trẻ ăn dặm.
- Trị giun kim: Lấy lá thiên lí non nấu canh cho trẻ ăn liền từ 7 - 10 ngày sẽ hiệu quả.
- Làm giảm đau mình mẩy, nhức xương cốt: Hằng ngày lấy hoa thiên lí xào với thịt bò hoặc chấm với muối vừng ăn sẽ tác dụng.
- Làm thư giãn sau các buổi làm việc căng thẳng, người khoan khoái, ngủ dễ ngon giấc, đỡ mệt mỏi, giảm tiểu đêm: Hằng ngày lấy hoa thiên lí nấu canh ăn.
- Chữa đinh nhọt: Lấy lá cây thiên lí 30 - 50g giã nhỏ đắp vào chỗ mụn nhọt, ngày thay 1 lần, vài ba ngày sẽ khỏi.
- Chữa đái buốt, đái ra máu, đái dắt, cặn trắng: Lấy rễ cây thiên lí từ 10 - 20g, sắc lấy nước uống 2 - 3 lần trong ngày.
Chú ý: Không ăn chung hoặc xào nấu cùng thiên lí với các thức ăn giàu chất sắt như gan, tiết, thịt nạc lợn, rau muống... vì chất sắt (Fe) có trong các loại thực phẩm này sẽ đẩy kẽm (Zn) ra khỏi cơ thể.
HHT
Thứ Hai, 25 tháng 4, 2011
Cuối xuân là thời điểm thụ thai lý tưởng
Sự thay đổi của 4 mùa trong năm có ảnh hưởng hết sức rõ rệt đối với chu kỳ: thụ thai, mang thai và sinh đẻ. Việc lựa chọn mang thai theo mùa nào lý tưởng nhất sẽ mang ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng của thai nhi, cũng như đối với sức khoẻ của các bà mẹ.
Theo các chuyên gia, thời điểm lý tưởng nhất để thụ thai là vào cuối xuân (từ tháng 3 – tháng 4) hoặc đầu thu (tháng 9 - 10). Các nhà khoa học của Mỹ tiến hành nghiên cứu, phân tích trên 45.000 tân sinh viên, đã phát hiện ra những đứa trẻ được người mẹ thụ thai vào mùa xuân (hoặc mùa thu) có tỉ lệ thông minh cao hơn 60% so với những đứa trẻ được mẹ thụ thai vào mùa hè. Do thời kỳ đầu mang thai
là giai đoạn hình thành vỏ não của thai nhi, mà nhiệt độ quá cao của mùa hè sẽ khiến cho tình trạng nghén của thai phụ trở nên nghiêm trọng. Từ đó, việc ăn uống của thai phụ không được tốt, lượng protein được hấp thu ít, lượng tiêu hao của cơ thể lại nhiều.
Còn nhiệt độ mùa đông lại quá thấp, làm các loại rau quả tươi khan hiếm và thai phụ thường xuyên ở trong nhà, ít hoạt động. Việc ăn thiếu rau xanh khiến thai phụ rất dễ bị cảm. Thời tiết khắc nghiệt như vậy đều có thể ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất, cũng như trí tuệ của thai nhi sau này.
Cuối xuân là lúc vạn vật sinh sôi nảy nở, tiết trời ôn hòa nên chính là thời điểm mang thai lý tưởng nhất. Hơn nữa, thời điểm này các loại virus gây bệnh truyền nhiễm đường hô hấp, cảm cúm ít hoành hành. Vì thế, thai phụ ăn uống dễ dàng, điều hoà hơn, do đó giúp cho thai nhi (ở giai đoạn đầu rất quan trọng) sống trong một môi trường bào thai ổn định, phát triển hoàn hảo, có những tác dụng nhất định trong việc phòng chống tình trạng quái thai xảy ra.
Ánh sáng của mùa xuân cũng là yếu tố hữu ích cho phụ nữ vào thời kỳ mang thai như: Ergosterol dưới làn da của thai phụ khi được ánh sáng mặt trời chiếu vào có thể chuyển hoá thành Vitamin D, tăng cường khả năng hấp thụ canxi và phospho của cơ thể, rất tốt cho sự sinh trưởng - phát triển xương của thai nhi. Ngoài ra, khi ánh sáng chiếu vào da cũng giúp tăng cường tuần hoàn máu, lại giúp khử được các vi khuẩn gây bệnh nên nó cũng có tác dụng rất tốt tới sức khoẻ của thai phụ.
Theo PNO
Theo các chuyên gia, thời điểm lý tưởng nhất để thụ thai là vào cuối xuân (từ tháng 3 – tháng 4) hoặc đầu thu (tháng 9 - 10). Các nhà khoa học của Mỹ tiến hành nghiên cứu, phân tích trên 45.000 tân sinh viên, đã phát hiện ra những đứa trẻ được người mẹ thụ thai vào mùa xuân (hoặc mùa thu) có tỉ lệ thông minh cao hơn 60% so với những đứa trẻ được mẹ thụ thai vào mùa hè. Do thời kỳ đầu mang thai
là giai đoạn hình thành vỏ não của thai nhi, mà nhiệt độ quá cao của mùa hè sẽ khiến cho tình trạng nghén của thai phụ trở nên nghiêm trọng. Từ đó, việc ăn uống của thai phụ không được tốt, lượng protein được hấp thu ít, lượng tiêu hao của cơ thể lại nhiều.
Còn nhiệt độ mùa đông lại quá thấp, làm các loại rau quả tươi khan hiếm và thai phụ thường xuyên ở trong nhà, ít hoạt động. Việc ăn thiếu rau xanh khiến thai phụ rất dễ bị cảm. Thời tiết khắc nghiệt như vậy đều có thể ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất, cũng như trí tuệ của thai nhi sau này.
Cuối xuân là lúc vạn vật sinh sôi nảy nở, tiết trời ôn hòa nên chính là thời điểm mang thai lý tưởng nhất. Hơn nữa, thời điểm này các loại virus gây bệnh truyền nhiễm đường hô hấp, cảm cúm ít hoành hành. Vì thế, thai phụ ăn uống dễ dàng, điều hoà hơn, do đó giúp cho thai nhi (ở giai đoạn đầu rất quan trọng) sống trong một môi trường bào thai ổn định, phát triển hoàn hảo, có những tác dụng nhất định trong việc phòng chống tình trạng quái thai xảy ra.
Ánh sáng của mùa xuân cũng là yếu tố hữu ích cho phụ nữ vào thời kỳ mang thai như: Ergosterol dưới làn da của thai phụ khi được ánh sáng mặt trời chiếu vào có thể chuyển hoá thành Vitamin D, tăng cường khả năng hấp thụ canxi và phospho của cơ thể, rất tốt cho sự sinh trưởng - phát triển xương của thai nhi. Ngoài ra, khi ánh sáng chiếu vào da cũng giúp tăng cường tuần hoàn máu, lại giúp khử được các vi khuẩn gây bệnh nên nó cũng có tác dụng rất tốt tới sức khoẻ của thai phụ.
Theo PNO
Chăm sóc bà bầu suốt thời kỳ mang thai (10 bài)
Bài này tổng hợp từ 10 bài đăng trong Mangthai.vn nhằm giới thiệu cách chăm sóc phụ nữ mang thai từ tháng đầu tiên cho tới 40 tuần.
Xem chi tiết >>
Theo mangthai.vn
Xem chi tiết >>
Theo mangthai.vn
Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2011
Nước vối: giải khát và chữa bệnh
Cây vối, một loại cây quen thuộc của làng quê ở các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ. Từ lâu đời nhân dân ta đã biết sử dụng lá vối hay nụ vối với cách chế biến đơn giản tạo thành loại trà nấu hay hãm lấy nước uống thường ngày. Lá vối cũng có thể dùng tươi hay phơi khô dùng dần. Đặc biệt nó lại giàu dược tính nên được dùng làm thuốc chữa trị nhiều bệnh chứng rất hiệu quả.
Vối được sử dụng có hai loại, một loại lá nhỏ hơn bàn tay, màu vàng xanh gọi là vối kê hay vối nếp; còn loại lá to hơn bàn tay, hình thoi, màu xanh thẫm gọi là vối tẻ. Hoa thành chùm tới hàng trăm nụ đan cài vào nhau và nở vào xuân, quả vối chín có màu đỏ thẫm giống quả bồ quân, ăn hơi chát và vị hơi đắng.
Các kết quả nghiên cứu về vối cho thấy trong lá và nụ vối chứa tanin, khoáng chất và vitamin... khoảng 4% tinh dầu với mùi thơm dễ chịu.
Đặc biệt chứa một số chất kháng sinh có khả năng diệt được nhiều loại vi khuẩn gây bệnh như Streptococcus, Staphylococcus, vi khuẩn bạch hầu, phế cầu, Salmonella, Bacillus subtilis, chính vậy mà lá vối tươi hay khô sắc đặc được coi như một loại thuốc sát khuẩn dùng trị liệu các bệnh ngoài da như ghẻ lở, mụn nhọt hoặc lấy lá vối tươi nấu lấy nước đặc để gội đầu chữa chốc lở rất hiệu nghiệm.
Gần đây người ta còn phát hiện trong nụ vối chứa một hàm lượng polyphenol cao (tương đương 128mg catechin/gam trọng lượng khô) và hoạt chất ức chế men alpha-glucosidase nên có thể hỗ trợ phòng và điều trị chứng tiểu đường. Các kết quả được tiến hành trong phòng thí nghiệm cũng cho thấy nụ vối có khả năng triệt tiêu các gốc tự do, chống ô xy hóa mạnh. Khả năng chống ô xy hóa (antioxydants) của nụ vối đã làm giảm sự hình thành đục thủy tinh thể, bảo vệ sự tổn thương tế bào bê-ta tuyến tụy, phục hồi các men chống ô xy hóa trong cơ thể.
Theo các kết quả nghiên cứu trên động vật, các nhà khoa học của Viện dinh dưỡng quốc gia và Đại học phụ nữ Nhật Bản đã rút ra kết luận: Nụ vối có khả năng hạn chế tăng đường huyết sau ăn và hỗ trợ ổn định đường huyết, hỗ trợ giảm lipid máu, phòng ngừa biến chứng của đái tháo đường khi điều trị lâu dài mà được sử dụng nước nụ vối uống thường xuyên.
Theo Đông y lá vối có tác dụng kiện tỳ, giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt. Chất đắng có trong vối sẽ kích thích tiết nhiều dịch tiêu hóa; mặt khác chất tanin lại bảo vệ niêm mạc ruột, còn chất tinh dầu có tính kháng khuẩn cao nhưng không làm tổn hại đến những loại vi khuẩn có ích cư trú tại ống tiêu hóa.
Kinh nghiệm dân gian cho biết lá vối tươi có công hiệu trị bệnh cao hơn hẳn lá vối đã ủ. Do vậy lá vối nấu nước uống có khả năng trợ giúp chữa trị các bệnh chứng hoặc các tổn thương như bỏng, viêm gan, vàng da, viêm da lở ngứa. Đông y còn dùng vỏ cây vối làm thuốc gọi là hậu phác; được sử dụng để trị đau bụng, đầy trướng ăn không tiêu, nôn mửa...
Song nước vối còn là loại có công hiệu giải khát trong những ngày hè nóng nực, làm mát và lợi tiểu nên còn có công năng đào thải các độc chất trong cơ thể qua đường niệu. Các nghiên cứu còn cho thấy nếu chỉ uống nước lọc hoặc nước trắng thì sau 30 - 40 phút là cơ thể đào thải hết; nhưng nếu uống nước lá vối hoặc nụ vối thì cũng trong thời gian ấy cơ thể chỉ thải loại 1/5 lượng nước đã uống, phần còn lại sẽ được đào thải từ từ sau đó.
Dưới đây là vài phương thuốc trị liệu có dùng vối.
Trị đau bụng đi ngoài: Lá vối 3 cái, vỏ ổi rộp 8g, núm quả chuối tiêu 10g. Cùng thái nhỏ phơi khô sắc với 400ml nước, còn 100ml chia 2 lần uống trong ngày, dùng liền 2 - 3 ngày.
Chữa đầy bụng, không tiêu: Vỏ thân cây vối 6 - 12g, sắc kỹ lấy nước đặc uống 2 lần trong ngày.
Hoặc nụ vối 10 - 15g, sắc lấy nước đặc uống 3 lần trong ngày.
Chữa lở ngứa, chốc đầu: Lấy lá vối lượng vừa đủ nấu kỹ lấy nước để tắm, rửa nơi lở ngứa và gội đầu chữa chốc lở.
Giúp giảm mỡ máu: Nụ vối 15 - 20g, hãm lấy nước uống thay trà trong ngày hay nấu thành nước đặc chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống thường xuyên mới hiệu nghiệm.
Hỗ trợ trị tiểu đường: Nụ vối 15 - 20g, sắc lấy nước chia 3 lần uống trong ngày hay hãm uống thay trà. Cần uống thường xuyên.
Theo suckhoedoisong
Vối được sử dụng có hai loại, một loại lá nhỏ hơn bàn tay, màu vàng xanh gọi là vối kê hay vối nếp; còn loại lá to hơn bàn tay, hình thoi, màu xanh thẫm gọi là vối tẻ. Hoa thành chùm tới hàng trăm nụ đan cài vào nhau và nở vào xuân, quả vối chín có màu đỏ thẫm giống quả bồ quân, ăn hơi chát và vị hơi đắng.
Các kết quả nghiên cứu về vối cho thấy trong lá và nụ vối chứa tanin, khoáng chất và vitamin... khoảng 4% tinh dầu với mùi thơm dễ chịu.
Đặc biệt chứa một số chất kháng sinh có khả năng diệt được nhiều loại vi khuẩn gây bệnh như Streptococcus, Staphylococcus, vi khuẩn bạch hầu, phế cầu, Salmonella, Bacillus subtilis, chính vậy mà lá vối tươi hay khô sắc đặc được coi như một loại thuốc sát khuẩn dùng trị liệu các bệnh ngoài da như ghẻ lở, mụn nhọt hoặc lấy lá vối tươi nấu lấy nước đặc để gội đầu chữa chốc lở rất hiệu nghiệm.
Gần đây người ta còn phát hiện trong nụ vối chứa một hàm lượng polyphenol cao (tương đương 128mg catechin/gam trọng lượng khô) và hoạt chất ức chế men alpha-glucosidase nên có thể hỗ trợ phòng và điều trị chứng tiểu đường. Các kết quả được tiến hành trong phòng thí nghiệm cũng cho thấy nụ vối có khả năng triệt tiêu các gốc tự do, chống ô xy hóa mạnh. Khả năng chống ô xy hóa (antioxydants) của nụ vối đã làm giảm sự hình thành đục thủy tinh thể, bảo vệ sự tổn thương tế bào bê-ta tuyến tụy, phục hồi các men chống ô xy hóa trong cơ thể.
Theo các kết quả nghiên cứu trên động vật, các nhà khoa học của Viện dinh dưỡng quốc gia và Đại học phụ nữ Nhật Bản đã rút ra kết luận: Nụ vối có khả năng hạn chế tăng đường huyết sau ăn và hỗ trợ ổn định đường huyết, hỗ trợ giảm lipid máu, phòng ngừa biến chứng của đái tháo đường khi điều trị lâu dài mà được sử dụng nước nụ vối uống thường xuyên.
Theo Đông y lá vối có tác dụng kiện tỳ, giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt. Chất đắng có trong vối sẽ kích thích tiết nhiều dịch tiêu hóa; mặt khác chất tanin lại bảo vệ niêm mạc ruột, còn chất tinh dầu có tính kháng khuẩn cao nhưng không làm tổn hại đến những loại vi khuẩn có ích cư trú tại ống tiêu hóa.
Kinh nghiệm dân gian cho biết lá vối tươi có công hiệu trị bệnh cao hơn hẳn lá vối đã ủ. Do vậy lá vối nấu nước uống có khả năng trợ giúp chữa trị các bệnh chứng hoặc các tổn thương như bỏng, viêm gan, vàng da, viêm da lở ngứa. Đông y còn dùng vỏ cây vối làm thuốc gọi là hậu phác; được sử dụng để trị đau bụng, đầy trướng ăn không tiêu, nôn mửa...
Song nước vối còn là loại có công hiệu giải khát trong những ngày hè nóng nực, làm mát và lợi tiểu nên còn có công năng đào thải các độc chất trong cơ thể qua đường niệu. Các nghiên cứu còn cho thấy nếu chỉ uống nước lọc hoặc nước trắng thì sau 30 - 40 phút là cơ thể đào thải hết; nhưng nếu uống nước lá vối hoặc nụ vối thì cũng trong thời gian ấy cơ thể chỉ thải loại 1/5 lượng nước đã uống, phần còn lại sẽ được đào thải từ từ sau đó.
Dưới đây là vài phương thuốc trị liệu có dùng vối.
Trị đau bụng đi ngoài: Lá vối 3 cái, vỏ ổi rộp 8g, núm quả chuối tiêu 10g. Cùng thái nhỏ phơi khô sắc với 400ml nước, còn 100ml chia 2 lần uống trong ngày, dùng liền 2 - 3 ngày.
Chữa đầy bụng, không tiêu: Vỏ thân cây vối 6 - 12g, sắc kỹ lấy nước đặc uống 2 lần trong ngày.
Hoặc nụ vối 10 - 15g, sắc lấy nước đặc uống 3 lần trong ngày.
Chữa lở ngứa, chốc đầu: Lấy lá vối lượng vừa đủ nấu kỹ lấy nước để tắm, rửa nơi lở ngứa và gội đầu chữa chốc lở.
Giúp giảm mỡ máu: Nụ vối 15 - 20g, hãm lấy nước uống thay trà trong ngày hay nấu thành nước đặc chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống thường xuyên mới hiệu nghiệm.
Hỗ trợ trị tiểu đường: Nụ vối 15 - 20g, sắc lấy nước chia 3 lần uống trong ngày hay hãm uống thay trà. Cần uống thường xuyên.
Theo suckhoedoisong
Thứ Năm, 21 tháng 4, 2011
Vỏ quýt với sức khỏe
Nếu muốn nhanh chóng thoát khỏi tình trạng say xe, nẻ da, ho, phong hàn… thì vỏ quýt tươi (hoặc khô) sẽ là lựa chọn hữu hiệu nhất.
Sau đây là một vài công thức pha chế và sử dụng vỏ quýt hiệu quả dựa trên kinh nghiệm của các thầy thuốc Đông y Trung Quốc.
Trị say xe
Trước khi lên ô -tô, tàu thủy, hay máy bay 1 giờ, nên ngửi trực tiếp vỏ quýt tươi đã được bóp gập làm nhiều lần sao cho dầu hương bay ra. Sau khi lên các loại phương tiện, tiếp tục lặp lại những thao tác trên sao cho ngửi được lượng dầu hương quýt tối đa nhất.
Trong vỏ quýt có chứa loại tinh dầu thơm đặc biệt, có tác dụng hạn chế và ngăn ngừa cảm giác khó chịu, chóng mặt, buồn nôn khi đi xe đường dài.
Trị nứt nẻ da
Sao vỏ quýt cho khô, sau đó nghiền thành bột nhỏ, cho thêm chút dầu thực vật rồi trộn đều.
Dùng hỗn hợp ấy bôi lên vùng da bị nứt nẻ do thời tiết hay thiếu chất dinh dưỡng. Dầu quýt cộng thêm với dầu thực vật có tác dụng bôi trơn vùng da khô nẻ, rạn nứt, đồng thời cung cấp độ ẩm nuôi dưỡng da trong thời gian dài.
Trị viêm phế quản mãn tính
Vỏ quýt tươi từ 5-15 g, bỏ vào nước lọc rồi đun sôi, gạn lấy nước uống hàng ngày.
Thành phần chất đặc biệt trong vỏ quýt có tác dụng làm dịu mát phế quản, thông khí, có thể làm giảm đáng kể tình trạng viêm loét phế quản, nhanh lành vết viêm nhiễm.
Trị ho
Dùng 5g vỏ quýt đã phơi khô, cho thêm 2 cốc nước rồi đun sôi, cho thêm lượng nhỏ gừng tươi và đường đỏ, uống khi còn nóng.
Cũng có thể dùng vỏ quýt tươi, thái nhỏ, dùng đường trắng thay thế bỏ vào đun sôi cũng có tác dụng tiêu đờm và trị ho hiệu quả.
Trị táo bón
Sử dụng 12g vỏ quýt tươi hoặc 6g vỏ quýt khô cho vào nước rồi đun sôi. Nên uống khi còn nóng, uống hàng ngày mới phát huy tác dụng trị táo bón tốt nhất.
Giã rượu
Dùng 30g vỏ quýt tươi, cho thêm chút muối rồi đun sôi có tác dụng giải rượu rất tốt.
Trị nghiến răng khi ngủ
10 phút trước khi đi ngủ, nên ngậm 1 lát nhỏ vỏ quýt. Cứ ngậm như vậy cho đến khi chìm vào giấc ngủ, nếu thấy khó chịu có thể thay thế vỏ quýt khác.
Vị hương nhẹ nhàng của vỏ quýt khiến bạn chìm vào giấc ngủ nhanh hơn, hơn nữa, vỏ quýt cũng là "vật cản" khiến bạn khó có thể nghiến răng khi ngủ.
Trị ghê răng
Mức độ ghê răng khi ăn đồ chua của người già hay những người có hàm răng nhạy cảm là khác nhau. Thực ra, có một cách trị ghê răng khi ăn cam hay quýt chua, đó là dùng vỏ cam, quýt còn thừa thái nhỏ hòa nước uống. Cách làm này vừa hiệu quả lại tận dụng tối đa tác dụng của cả ruột và vỏ quýt.
Trị viêm tuyến sữa
Viêm tuyến sữa thường xuất hiện ở các bà mẹ đang trong thời kì cho con bú. Để điều trị chứng bệnh này hiệu quả, nên dùng cách sau.
Dùng 30g vỏ quýt tươi, 6g cam thảm trộn đều cho nước vào đun sôi, sử dụng hàng ngày (có thể dùng thay cho nước lọc).
Trị chứng hôi miệng
Ngậm một lát vỏ quýt tươi nhỏ trong miệng thường xuyên, từ 5-10 phút/ lần. Hoặc có thể nhai trực tiếp vỏ quýt tươi sẽ rất hữu hiệu trong trị chứng hôi miệng.
Trị ngộ độc do ăn cua, cá
Sử dụng lượng vỏ quýt thích hợp rồi đun sôi, gạn lấy nước uống làm nhiều lần có thể làm chậm quá trình phát tác độc tố do ăn cua hay cá.
Trong trường hợp trúng độc nặng, cần cho uống hỗn hợp trên ngay sau khi phát hiện, rồi nhanh chóng chuyển bệnh nhân tới cơ sở y tế để chữa trị kịp thời.
Trị lạnh bụng, buồn nôn
Cho hỗn hợp vỏ quýt và gừng tươi vào nước rồi đun sôi, uống khi hỗn hợp này còn nóng, có công dụng trị chứng lạnh bụng và buồn nôn.
Trị đầy hơi, thông khí huyết
Dùng vỏ quýt tươi, cho vào nước rồi đun sôi, cho thêm đường trắng nấu thành hỗn hợp canh, uống nóng là tốt nhất. Bài thuốc này có tác dụng trị đầy hơi, thông khí huyết, khô rát họng.
Trị chứng khó tiêu hóa
Ngâm 50g vỏ quýt vào rượu. Loại rượu ngâm này có tác dụng bổ tì vị, trị chứng nôn mửa kéo dài. Đặc biệt khi ăn những thực phẩm nhiều chất béo, nhiều đường có tác dụng tiêu hóa rất tốt.
Tiêu đờm
Cho vỏ quýt đã rửa sạch vào bình chứa rượu trắng, ngâm hỗn hợp này trong khoảng 20 ngày là có thể dùng được. Hỗn hợp này có mùi vị đậm đà, kích thích ngon miệng, lại có tác dụng tiêu đờm hiệu quả.
Trị cảm, phong hàn
Cho vỏ quýt tươi, gừng tươi, đường đỏ nấu sôi nhuyễn thành canh, dùng liên tục cho đến khi khỏi bệnh cảm cúm, phong hàn, ho có đờm, nôn mửa.
Nâng cao tinh thần, kích thích ngon miệng
Vỏ quýt thái lát mỏng, rửa sạch, phơi khô, trộn thêm lá trà xanh(hoặc lá trà đã phơi khô) nấu thành hỗn hợp nước trà thơm ngon, có tác dụng làm cho tinh thần thoải mái và kích thích ngon miệng.
Trị viêm tuyến tụy
Theo nghiên cứu của các chuyên gia sức khỏe hàng đầu Trung Quốc, vỏ quýt là một trong những nguyên liệu có tác dụng ngăn chặn và chữa trị viêm tuyến tụy hiệu quả.
Dùng 30g vỏ quýt, 10g cam thảo, cho nước vào đun sôi uống hàng ngày.
Hoàng Việt (Theo Sina)
Copy từ nguoicaotuoi.org.vn
Sau đây là một vài công thức pha chế và sử dụng vỏ quýt hiệu quả dựa trên kinh nghiệm của các thầy thuốc Đông y Trung Quốc.
Trị say xe
Trước khi lên ô -tô, tàu thủy, hay máy bay 1 giờ, nên ngửi trực tiếp vỏ quýt tươi đã được bóp gập làm nhiều lần sao cho dầu hương bay ra. Sau khi lên các loại phương tiện, tiếp tục lặp lại những thao tác trên sao cho ngửi được lượng dầu hương quýt tối đa nhất.
Trong vỏ quýt có chứa loại tinh dầu thơm đặc biệt, có tác dụng hạn chế và ngăn ngừa cảm giác khó chịu, chóng mặt, buồn nôn khi đi xe đường dài.
Trị nứt nẻ da
Sao vỏ quýt cho khô, sau đó nghiền thành bột nhỏ, cho thêm chút dầu thực vật rồi trộn đều.
Dùng hỗn hợp ấy bôi lên vùng da bị nứt nẻ do thời tiết hay thiếu chất dinh dưỡng. Dầu quýt cộng thêm với dầu thực vật có tác dụng bôi trơn vùng da khô nẻ, rạn nứt, đồng thời cung cấp độ ẩm nuôi dưỡng da trong thời gian dài.
Trị viêm phế quản mãn tính
Vỏ quýt tươi từ 5-15 g, bỏ vào nước lọc rồi đun sôi, gạn lấy nước uống hàng ngày.
Thành phần chất đặc biệt trong vỏ quýt có tác dụng làm dịu mát phế quản, thông khí, có thể làm giảm đáng kể tình trạng viêm loét phế quản, nhanh lành vết viêm nhiễm.
Trị ho
Dùng 5g vỏ quýt đã phơi khô, cho thêm 2 cốc nước rồi đun sôi, cho thêm lượng nhỏ gừng tươi và đường đỏ, uống khi còn nóng.
Cũng có thể dùng vỏ quýt tươi, thái nhỏ, dùng đường trắng thay thế bỏ vào đun sôi cũng có tác dụng tiêu đờm và trị ho hiệu quả.
Trị táo bón
Sử dụng 12g vỏ quýt tươi hoặc 6g vỏ quýt khô cho vào nước rồi đun sôi. Nên uống khi còn nóng, uống hàng ngày mới phát huy tác dụng trị táo bón tốt nhất.
Giã rượu
Dùng 30g vỏ quýt tươi, cho thêm chút muối rồi đun sôi có tác dụng giải rượu rất tốt.
Trị nghiến răng khi ngủ
10 phút trước khi đi ngủ, nên ngậm 1 lát nhỏ vỏ quýt. Cứ ngậm như vậy cho đến khi chìm vào giấc ngủ, nếu thấy khó chịu có thể thay thế vỏ quýt khác.
Vị hương nhẹ nhàng của vỏ quýt khiến bạn chìm vào giấc ngủ nhanh hơn, hơn nữa, vỏ quýt cũng là "vật cản" khiến bạn khó có thể nghiến răng khi ngủ.
Trị ghê răng
Mức độ ghê răng khi ăn đồ chua của người già hay những người có hàm răng nhạy cảm là khác nhau. Thực ra, có một cách trị ghê răng khi ăn cam hay quýt chua, đó là dùng vỏ cam, quýt còn thừa thái nhỏ hòa nước uống. Cách làm này vừa hiệu quả lại tận dụng tối đa tác dụng của cả ruột và vỏ quýt.
Trị viêm tuyến sữa
Viêm tuyến sữa thường xuất hiện ở các bà mẹ đang trong thời kì cho con bú. Để điều trị chứng bệnh này hiệu quả, nên dùng cách sau.
Dùng 30g vỏ quýt tươi, 6g cam thảm trộn đều cho nước vào đun sôi, sử dụng hàng ngày (có thể dùng thay cho nước lọc).
Trị chứng hôi miệng
Ngậm một lát vỏ quýt tươi nhỏ trong miệng thường xuyên, từ 5-10 phút/ lần. Hoặc có thể nhai trực tiếp vỏ quýt tươi sẽ rất hữu hiệu trong trị chứng hôi miệng.
Trị ngộ độc do ăn cua, cá
Sử dụng lượng vỏ quýt thích hợp rồi đun sôi, gạn lấy nước uống làm nhiều lần có thể làm chậm quá trình phát tác độc tố do ăn cua hay cá.
Trong trường hợp trúng độc nặng, cần cho uống hỗn hợp trên ngay sau khi phát hiện, rồi nhanh chóng chuyển bệnh nhân tới cơ sở y tế để chữa trị kịp thời.
Trị lạnh bụng, buồn nôn
Cho hỗn hợp vỏ quýt và gừng tươi vào nước rồi đun sôi, uống khi hỗn hợp này còn nóng, có công dụng trị chứng lạnh bụng và buồn nôn.
Trị đầy hơi, thông khí huyết
Dùng vỏ quýt tươi, cho vào nước rồi đun sôi, cho thêm đường trắng nấu thành hỗn hợp canh, uống nóng là tốt nhất. Bài thuốc này có tác dụng trị đầy hơi, thông khí huyết, khô rát họng.
Trị chứng khó tiêu hóa
Ngâm 50g vỏ quýt vào rượu. Loại rượu ngâm này có tác dụng bổ tì vị, trị chứng nôn mửa kéo dài. Đặc biệt khi ăn những thực phẩm nhiều chất béo, nhiều đường có tác dụng tiêu hóa rất tốt.
Tiêu đờm
Cho vỏ quýt đã rửa sạch vào bình chứa rượu trắng, ngâm hỗn hợp này trong khoảng 20 ngày là có thể dùng được. Hỗn hợp này có mùi vị đậm đà, kích thích ngon miệng, lại có tác dụng tiêu đờm hiệu quả.
Trị cảm, phong hàn
Cho vỏ quýt tươi, gừng tươi, đường đỏ nấu sôi nhuyễn thành canh, dùng liên tục cho đến khi khỏi bệnh cảm cúm, phong hàn, ho có đờm, nôn mửa.
Nâng cao tinh thần, kích thích ngon miệng
Vỏ quýt thái lát mỏng, rửa sạch, phơi khô, trộn thêm lá trà xanh(hoặc lá trà đã phơi khô) nấu thành hỗn hợp nước trà thơm ngon, có tác dụng làm cho tinh thần thoải mái và kích thích ngon miệng.
Trị viêm tuyến tụy
Theo nghiên cứu của các chuyên gia sức khỏe hàng đầu Trung Quốc, vỏ quýt là một trong những nguyên liệu có tác dụng ngăn chặn và chữa trị viêm tuyến tụy hiệu quả.
Dùng 30g vỏ quýt, 10g cam thảo, cho nước vào đun sôi uống hàng ngày.
Hoàng Việt (Theo Sina)
Copy từ nguoicaotuoi.org.vn
Thứ Ba, 19 tháng 4, 2011
Táo tốt cho tim
Những phụ nữ ăn táo mỗi ngày cho thấy mức cholesterol toàn phần giảm khoảng 14%
Ăn một hoặc hai quả táo mỗi ngày có thể giúp giảm các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch, một nghiên cứu mới của các nhà khoa học Mỹ vừa cho biết. Theo các nhà nghiên cứu, bên cạnh những lợi ích về tim mạch, táo còn có lợi ích về mặt sức khỏe khác như: giúp điều chỉnh lượng đường trong máu, kiểm soát sự thèm ăn, chống ung thư và bảo vệ phổi.
Kết quả nghiên cứu trên những phụ nữ ăn táo mỗi ngày cho thấy mức cholesterol toàn phần giảm khoảng 14%, trong đó mức LDL (cholesterol có hại cho tim mạch) giảm khoảng 23%. Đặc biệt, mức lipid hydroperoxide, một chất liên quan đến việc hình thành các mảng bám làm tắc nghẽn mạch máu, đã giảm gần 35% khi so sánh giữa hai thời điểm bắt đầu và kết thúc nghiên cứu.
Các nhà khoa học cho biết trong táo chứa nhiều chất xơ hòa tan pectin, giúp ngăn chặn sự hấp thu cholesterol trong ruột và thúc đẩy các cơ quan trong cơ thể sử dụng thay vì dự trữ trong các mô. Ngoài ra, vỏ táo cũng chứa nhiều chất chống oxy hóa polyphenols giúp tế bào chống lại sự tấn công của các gốc tự do./.
Theo Tuổi trẻ
Ăn một hoặc hai quả táo mỗi ngày có thể giúp giảm các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch, một nghiên cứu mới của các nhà khoa học Mỹ vừa cho biết. Theo các nhà nghiên cứu, bên cạnh những lợi ích về tim mạch, táo còn có lợi ích về mặt sức khỏe khác như: giúp điều chỉnh lượng đường trong máu, kiểm soát sự thèm ăn, chống ung thư và bảo vệ phổi.
Kết quả nghiên cứu trên những phụ nữ ăn táo mỗi ngày cho thấy mức cholesterol toàn phần giảm khoảng 14%, trong đó mức LDL (cholesterol có hại cho tim mạch) giảm khoảng 23%. Đặc biệt, mức lipid hydroperoxide, một chất liên quan đến việc hình thành các mảng bám làm tắc nghẽn mạch máu, đã giảm gần 35% khi so sánh giữa hai thời điểm bắt đầu và kết thúc nghiên cứu.
Các nhà khoa học cho biết trong táo chứa nhiều chất xơ hòa tan pectin, giúp ngăn chặn sự hấp thu cholesterol trong ruột và thúc đẩy các cơ quan trong cơ thể sử dụng thay vì dự trữ trong các mô. Ngoài ra, vỏ táo cũng chứa nhiều chất chống oxy hóa polyphenols giúp tế bào chống lại sự tấn công của các gốc tự do./.
Theo Tuổi trẻ
Tự ý nhỏ thuốc corticoid sẽ gây mù vĩnh viễn
Nếu sử dụng tùy tiện trong một thời gian dài, sẽ dẫn đến kháng thuốc, đục thủy tinh thể, gây bệnh cườm nước… biến chứng mù vĩnh viễn.
Mỗi ngày Bệnh viện Mắt TP HCM tiếp nhận khoảng 1.000 trường hợp đến khám. Trong số này, hầu như ngày nào các bác sỹ cũng phải tiếp nhận bệnh nhân bị mù mắt do tự ý mua thuốc trên thị trường về nhỏ.
Chỉ cần mắt có vấn đề, người mua có thể ra hiệu thuốc và được giới thiệu hàng chục loại thuốc nhỏ mắt như: Dung dịch, huyền phù, mỡ hoặc cream... có giá từ 2.000 đồng đến 100.000 đồng.
Theo bác sỹ Phí Duy Tiến, Phó Giám đốc Bệnh viện Mắt TP HCM, thuốc nhỏ mắt có thành phần corticoid chỉ được sử dụng khi có chỉ định của bác sĩ. Thuốc này điều trị rất hiệu quả, nhưng nếu sử dụng tùy tiện trong một thời gian dài, sẽ dẫn đến kháng thuốc, đục thủy tinh thể, gây bệnh cườm nước, thậm chí teo dây thần kinh thị giác và biến chứng mù vĩnh viễn.
Bác sỹ Phí Duy Tiến cảnh báo: Trong số các loại thuốc nhỏ mắt, đáng chú ý nhất là 3 loại: Kháng sinh, các corticoid và các thuốc kháng histamin chống dị ứng. Các loại thuốc này khi sử dụng phải có chỉ định của bác sỹ. Người sử dụng không nên lạm dụng loại hóa chất này. Nếu có vấn đề bất thường về mắt như sưng, đỏ, mờ... thì nên đến bác sỹ chuyên khoa để khám ngay. Nếu mắt bình thường, không nên dùng bất cứ loại thuốc nhỏ mắt nào./.
Theo Lao động
Mỗi ngày Bệnh viện Mắt TP HCM tiếp nhận khoảng 1.000 trường hợp đến khám. Trong số này, hầu như ngày nào các bác sỹ cũng phải tiếp nhận bệnh nhân bị mù mắt do tự ý mua thuốc trên thị trường về nhỏ.
Chỉ cần mắt có vấn đề, người mua có thể ra hiệu thuốc và được giới thiệu hàng chục loại thuốc nhỏ mắt như: Dung dịch, huyền phù, mỡ hoặc cream... có giá từ 2.000 đồng đến 100.000 đồng.
Theo bác sỹ Phí Duy Tiến, Phó Giám đốc Bệnh viện Mắt TP HCM, thuốc nhỏ mắt có thành phần corticoid chỉ được sử dụng khi có chỉ định của bác sĩ. Thuốc này điều trị rất hiệu quả, nhưng nếu sử dụng tùy tiện trong một thời gian dài, sẽ dẫn đến kháng thuốc, đục thủy tinh thể, gây bệnh cườm nước, thậm chí teo dây thần kinh thị giác và biến chứng mù vĩnh viễn.
Bác sỹ Phí Duy Tiến cảnh báo: Trong số các loại thuốc nhỏ mắt, đáng chú ý nhất là 3 loại: Kháng sinh, các corticoid và các thuốc kháng histamin chống dị ứng. Các loại thuốc này khi sử dụng phải có chỉ định của bác sỹ. Người sử dụng không nên lạm dụng loại hóa chất này. Nếu có vấn đề bất thường về mắt như sưng, đỏ, mờ... thì nên đến bác sỹ chuyên khoa để khám ngay. Nếu mắt bình thường, không nên dùng bất cứ loại thuốc nhỏ mắt nào./.
Theo Lao động
Thứ Hai, 18 tháng 4, 2011
“Yêu” - cách tuyệt vời nhất để loại bỏ tế bào chết
(VTCNews) - Làm “chuyện ấy,” một cách tuyệt vời để loại bỏ tế bào chết, bạn đã biết chưa?
Sự có mặt của tế bào chết (cellular) ở một số bộ phận trên cơ thể thường trở thành cơn ác mộng đối với phụ nữ. Ở những phần cơ thể như vùng bụng, đùi và mông, tế bào chết làm da bạn trông giống như những chiếc vỏ cam sần sùi.
Nguyên nhân gây ra tế bào chết?
Một số phụ nữ tin rằng tế bào chết là một quá trình tự nhiên, và không có lý do gì phải cảm thấy khó chịu với những “bí mật của tự nhiên” đó. Tuy nhiên, cũng không phải dễ dàng gì để suy nghĩ đó tồn tại mãi.
Bởi vì tế bào chết không chỉ để lại khiếm khuyết khi bạn trang điểm, mà còn gây các bệnh về da và làm rối loạn trao đổi chất do sự tích tụ của chất lỏng và các chất độc trong các mô liên kết bao quanh tế bào mỡ. Quá trình này làm cho da trông xù xì và thiếu mịn màng, giống như vỏ cam.
Để loại bỏ các tế bào chết trên cơ thể, bạn nên biết thêm về tế bào chết. Đây cũng là cách giúp bạn tươi tắn hơn.
Có nhiều yếu tố gây ra sự xuất hiện của tế bào chết. Stress, chế độ ăn uống kém, rối loạn nội tiết, những thói quen xấu, và thiếu sự chăm sóc cơ thể thích hợp là một nguyên nhân.
Đó là lý do da “vỏ cam” dù có kích thước mỏng nhất nhưng cũng khiến hầu hết phụ nữ cảm thấy muộn phiền. Bạn có thể tin rằng không thể loại bỏ hoàn toàn và vĩnh viễn tế bào chết, nhưng đồng thời lại tìm mọi cách xử lý nó.
Phương pháp điều trị phức tạp để loại bỏ tế bào chết
Để loại bỏ tế bào chết, bạn có thể bắt đầu bằng cách điều chỉnh chế độ ăn uống. Hãy cố gắng tránh những thức ăn có chứa quá nhiều muối, và uống nước nhiều hơn nữa. Nếu quá nhiều muối và quá ít nước trong cơ thể, cơ thể phải làm việc quá nhiều để chuyển hóa nước, tuần hoàn cơ thể không hoàn hảo… đều làm xuất hiện nhiều tế bào chết. Ngoài ra, mặc quần áo quá chặt làm da quá “căng thẳng” cũng gây ra nhiều tế bào chết.
- Chế độ ăn uống nói trên được sử dụng như một giải pháp để "chống lại" tế bào chết. Đó là, bằng cách điều chỉnh chế độ ăn uống, bạn có thể chống lại sự dư thừa các chất béo tích tụ, các gốc tự do.
Để giảm lượng hóa chất độc hại trong thức ăn được đưa vào cơ thể, bạn nên tránh các thức ăn nhanh, thức ăn rán, khoai tây chiên, đồ ăn nhẹ, nước giải khát, xúc xích, sô-cô-la, và rượu.
Nếu bạn không thể chống lại các thói quen hút thuốc, ít nhất là nên bắt đầu sử dụng vitamin. Làm phong phú chế độ ăn uống của bạn bằng nhiều thực phẩm chứa chất xơ như cải bắp, dứa và gạo lứt... Xử lý tế bào chết khi tắm bằng một miếng bọt biển.
- Đừng đánh giá thấp các loại kem chống tế bào chết, thủ tục hứa hẹn giúp bạn loại bỏ đáng kể tế bào chết. Điều quan trọng là khi sử dụng mỹ phẩm là phải kiên nhẫn. Không chỉ đơn giản là mỗi ngày một lần bôi kem ở các vùng bị ảnh hưởng. Điều này đòi hỏi một kế hoạch rõ ràng hơn. Kem sẽ được hấp thu tốt hơn sau khi bạn làm sạch da bằng khăn ẩm.
Theo các chuyên gia sắc đẹp, kem chống tế bào chết hoạt động tốt nhất vào ban đêm. Vì vậy sau khi tắm vào buổi chiều tối, hãy thoa kem sau khi tắm sạch, chà cơ thể sạch bằng khăn từ dưới lên trên theo chiều kim đồng hồ. Thoa kem chống tế bào chết lên da bằng cách xoa bóp cho đến khi da hấp thu được hoàn toàn.
Kem có thể làm tăng tác dụng của xoa bóp bằng tay. Chỉ cần nhớ rằng các động tác phải thực hiện nghiêm chỉnh theo các hướng lưu thông của máu.
- Hoạt động thể chất để chống lại tế bào chết? Trớ trêu thay, phòng tập thể dục khó có thể giúp bạn việc này. Và đó là lý do tại sao không cần phải đổ mồ hôi nhiều giờ tại phòng tập thể dục. Bạn cần đi dạo thư thái và hít thở không gian trong lành ở công viên vào buổi sáng nhiều hơn.
- Sex giúp loại bỏ tế bào chết? Hãy để chúng tôi cung cấp cho bạn thông tin thú vị nhất. Nếu bạn tin rằng kết quả của các nhà khoa học đã cho thấy phụ nữ “yêu” thường xuyên thì ít có tế bào chết trên cơ thế hơn rất nhiều so với người ít hoặc gần như không thích “chuyện ấy,” bạn hẳn sẽ muốn thử, phải không?
ĐH (Theo Vivanews)
Sự có mặt của tế bào chết (cellular) ở một số bộ phận trên cơ thể thường trở thành cơn ác mộng đối với phụ nữ. Ở những phần cơ thể như vùng bụng, đùi và mông, tế bào chết làm da bạn trông giống như những chiếc vỏ cam sần sùi.
Nguyên nhân gây ra tế bào chết?
Một số phụ nữ tin rằng tế bào chết là một quá trình tự nhiên, và không có lý do gì phải cảm thấy khó chịu với những “bí mật của tự nhiên” đó. Tuy nhiên, cũng không phải dễ dàng gì để suy nghĩ đó tồn tại mãi.
Bởi vì tế bào chết không chỉ để lại khiếm khuyết khi bạn trang điểm, mà còn gây các bệnh về da và làm rối loạn trao đổi chất do sự tích tụ của chất lỏng và các chất độc trong các mô liên kết bao quanh tế bào mỡ. Quá trình này làm cho da trông xù xì và thiếu mịn màng, giống như vỏ cam.
Để loại bỏ các tế bào chết trên cơ thể, bạn nên biết thêm về tế bào chết. Đây cũng là cách giúp bạn tươi tắn hơn.
Có nhiều yếu tố gây ra sự xuất hiện của tế bào chết. Stress, chế độ ăn uống kém, rối loạn nội tiết, những thói quen xấu, và thiếu sự chăm sóc cơ thể thích hợp là một nguyên nhân.
Đó là lý do da “vỏ cam” dù có kích thước mỏng nhất nhưng cũng khiến hầu hết phụ nữ cảm thấy muộn phiền. Bạn có thể tin rằng không thể loại bỏ hoàn toàn và vĩnh viễn tế bào chết, nhưng đồng thời lại tìm mọi cách xử lý nó.
Phương pháp điều trị phức tạp để loại bỏ tế bào chết
Để loại bỏ tế bào chết, bạn có thể bắt đầu bằng cách điều chỉnh chế độ ăn uống. Hãy cố gắng tránh những thức ăn có chứa quá nhiều muối, và uống nước nhiều hơn nữa. Nếu quá nhiều muối và quá ít nước trong cơ thể, cơ thể phải làm việc quá nhiều để chuyển hóa nước, tuần hoàn cơ thể không hoàn hảo… đều làm xuất hiện nhiều tế bào chết. Ngoài ra, mặc quần áo quá chặt làm da quá “căng thẳng” cũng gây ra nhiều tế bào chết.
- Chế độ ăn uống nói trên được sử dụng như một giải pháp để "chống lại" tế bào chết. Đó là, bằng cách điều chỉnh chế độ ăn uống, bạn có thể chống lại sự dư thừa các chất béo tích tụ, các gốc tự do.
Để giảm lượng hóa chất độc hại trong thức ăn được đưa vào cơ thể, bạn nên tránh các thức ăn nhanh, thức ăn rán, khoai tây chiên, đồ ăn nhẹ, nước giải khát, xúc xích, sô-cô-la, và rượu.
Nếu bạn không thể chống lại các thói quen hút thuốc, ít nhất là nên bắt đầu sử dụng vitamin. Làm phong phú chế độ ăn uống của bạn bằng nhiều thực phẩm chứa chất xơ như cải bắp, dứa và gạo lứt... Xử lý tế bào chết khi tắm bằng một miếng bọt biển.
- Đừng đánh giá thấp các loại kem chống tế bào chết, thủ tục hứa hẹn giúp bạn loại bỏ đáng kể tế bào chết. Điều quan trọng là khi sử dụng mỹ phẩm là phải kiên nhẫn. Không chỉ đơn giản là mỗi ngày một lần bôi kem ở các vùng bị ảnh hưởng. Điều này đòi hỏi một kế hoạch rõ ràng hơn. Kem sẽ được hấp thu tốt hơn sau khi bạn làm sạch da bằng khăn ẩm.
Theo các chuyên gia sắc đẹp, kem chống tế bào chết hoạt động tốt nhất vào ban đêm. Vì vậy sau khi tắm vào buổi chiều tối, hãy thoa kem sau khi tắm sạch, chà cơ thể sạch bằng khăn từ dưới lên trên theo chiều kim đồng hồ. Thoa kem chống tế bào chết lên da bằng cách xoa bóp cho đến khi da hấp thu được hoàn toàn.
Kem có thể làm tăng tác dụng của xoa bóp bằng tay. Chỉ cần nhớ rằng các động tác phải thực hiện nghiêm chỉnh theo các hướng lưu thông của máu.
- Hoạt động thể chất để chống lại tế bào chết? Trớ trêu thay, phòng tập thể dục khó có thể giúp bạn việc này. Và đó là lý do tại sao không cần phải đổ mồ hôi nhiều giờ tại phòng tập thể dục. Bạn cần đi dạo thư thái và hít thở không gian trong lành ở công viên vào buổi sáng nhiều hơn.
- Sex giúp loại bỏ tế bào chết? Hãy để chúng tôi cung cấp cho bạn thông tin thú vị nhất. Nếu bạn tin rằng kết quả của các nhà khoa học đã cho thấy phụ nữ “yêu” thường xuyên thì ít có tế bào chết trên cơ thế hơn rất nhiều so với người ít hoặc gần như không thích “chuyện ấy,” bạn hẳn sẽ muốn thử, phải không?
ĐH (Theo Vivanews)
Công dụng của trái bưởi trong chữa trị bệnh
Việt Nam có nhiều giống bưởi quí như: Bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ), bưởi Diễn, bưởi Phúc Trạch, bưởi Năm Roi, bưởi Thanh Trà… Bưởi là loại quả ngon, dễ ăn và có một điều đặc biệt là cả cây bưởi đều có tác dụng tăng cường sức khỏe. Thường xuyên dùng bưởi trong bữa ăn hàng ngày sẽ là một trong những cách phòng chữa bệnh hiệu quả.
Vào dịp Tết, nhà nào cũng dùng rất nhiều thực phẩm và phần lớn là đồ ăn chứa nhiều chất béo. Vì vậy, ngoài bổ sung thêm rau xanh thì trái cây tươi là thứ không thể thiếu, nhất là bưởi và những quả thuộc họ hàng cam, quýt…
Không chỉ dùng làm đồ tráng miệng, nếu bị đau bụng ăn không tiêu, bạn có thể dùng vỏ bưởi sao vàng 4 -12g, sắc lấy nước uống. Để trừ thấp, tan đờm, trị ho, kém ăn, bạn lấy 500g múi bưởi bóc vỏ, bỏ hạt, bỏ trong bình sứ rồi đổ rượu trắng vừa đủ, đậy kín miệng lọ, ngâm 1 đêm, sau đó cho vào đun đến khi đặc thì cho 250g mật ong trộn đều rồi đem dùng dần, 1 ngày 3 lần và mỗi lần là 1g.
Ngoài múi và vỏ thì từ hạt cho tới lá và rễ bưởi đều có công dụng trị bệnh. Vào ngày hè, bạn chỉ cần lấy khoảng 20 hạt bưởi to, sạch cho vào cốc, rót nước sôi ngập hạt đánh đều khoảng 5 phút rồi lắng lấy nước vào 1 cốc riêng. Bạn làm như vậy trong 3 lần cho đến khi hạt bưởi hết chất nhầy. Dùng nước chế từ hạt bưởi, bạn có thể tránh được táo bón, tiêu hóa tốt, giảm hấp thu chất béo gây béo phì, khống chế tăng đường huyết cho người bị đái tháo đường, các trường hợp chảy máu do bị trĩ, phẫu thuật.
Với lá bưởi, người dân Việt Nam cũng rất quen dùng để xông giúp giải cảm, hay luộc hoặc nướng lá bưởi non rồi đem đắp lên rốn để trị chứng đau bụng…. Xin lưu ý, không nên ăn bưởi nếu bạn bị các chứng bệnh kị chua như đau dạ dày thừa toan, và một số bệnh về răng, miệng (vì bưởi gây xót, mòn men răng...).
Tác giả : Thanh Hương, vtv.vn
Vào dịp Tết, nhà nào cũng dùng rất nhiều thực phẩm và phần lớn là đồ ăn chứa nhiều chất béo. Vì vậy, ngoài bổ sung thêm rau xanh thì trái cây tươi là thứ không thể thiếu, nhất là bưởi và những quả thuộc họ hàng cam, quýt…
Không chỉ dùng làm đồ tráng miệng, nếu bị đau bụng ăn không tiêu, bạn có thể dùng vỏ bưởi sao vàng 4 -12g, sắc lấy nước uống. Để trừ thấp, tan đờm, trị ho, kém ăn, bạn lấy 500g múi bưởi bóc vỏ, bỏ hạt, bỏ trong bình sứ rồi đổ rượu trắng vừa đủ, đậy kín miệng lọ, ngâm 1 đêm, sau đó cho vào đun đến khi đặc thì cho 250g mật ong trộn đều rồi đem dùng dần, 1 ngày 3 lần và mỗi lần là 1g.
Ngoài múi và vỏ thì từ hạt cho tới lá và rễ bưởi đều có công dụng trị bệnh. Vào ngày hè, bạn chỉ cần lấy khoảng 20 hạt bưởi to, sạch cho vào cốc, rót nước sôi ngập hạt đánh đều khoảng 5 phút rồi lắng lấy nước vào 1 cốc riêng. Bạn làm như vậy trong 3 lần cho đến khi hạt bưởi hết chất nhầy. Dùng nước chế từ hạt bưởi, bạn có thể tránh được táo bón, tiêu hóa tốt, giảm hấp thu chất béo gây béo phì, khống chế tăng đường huyết cho người bị đái tháo đường, các trường hợp chảy máu do bị trĩ, phẫu thuật.
Với lá bưởi, người dân Việt Nam cũng rất quen dùng để xông giúp giải cảm, hay luộc hoặc nướng lá bưởi non rồi đem đắp lên rốn để trị chứng đau bụng…. Xin lưu ý, không nên ăn bưởi nếu bạn bị các chứng bệnh kị chua như đau dạ dày thừa toan, và một số bệnh về răng, miệng (vì bưởi gây xót, mòn men răng...).
Tác giả : Thanh Hương, vtv.vn
“Thanh lọc cơ thể” cùng tỏi
Tại chương trình “Thanh lọc cơ thể” phát sóng ngày 1812/2009 trên kênh O2TV – VCTV10, TS. Dược sỹ Hoàng Minh Chung (Trưởng bộ môn Dược – khoa y học cổ truyền) cho biết: Trong tỏi có một số thành phần chính là allicin, allicin được tạo thành bởi aliin trong quá trình chế biến, vì vậy khi sử dụng tỏi người ta thường phải cắt nhỏ tỏi hoặc đập tỏi. Những thành phần đó, đươc coi như một kháng sinh thực vật ở trong tỏi có tác dụng tốt cho cơ thể. Tỏi có thể sử dụng trong các trường hợp như phòng và chống cho những người bị bệnh tim mạch vì trong những thành phần đó có tác dụng làm hạ cholesterol. Hạ cholesterol ở đây có hai nghĩa, nó làm giảm cholesterol có tỉ trọng cao và làm tăng cholesterol có tỉ trọng thấp, vì vậy nó có tác dụng làm chống các xơ vữa động mạch. Ngoài ra tỏi còn có tác dụng hạ huyết áp cho những người tăng huyết áp, có tác dụng làm chống liên kết tiểu cầu.
Trong ẩm thực tỏi có tác dụng như một loại gia vị, dùng tỏi thường xuyên có thể giúp phòng chống một số bệnh như bệnh về tim mạch, bệnh về huyết áp. Nếu như chúng ta dùng tỏi thường xuyên sẽ giúp cho đường tiêu hóa tuy nhiên chúng ta không nên dùng lâu dài và cũng không dùng lượng lớn quá trong hàng ngày. Mỗi ngày chúng ta có thể sử dụng một hoặc hai nhánh tỏi là tốt nhưng nếu dùng kéo dài thì cũng không có lợi cho sức khỏe. Vì vậy với một số trường hợp khi dùng tỏi chúng ta phải lưu ý: Theo Đông y tỏi có vị cay, tính nóng do đó chúng ta phải lưu ý đối với phụ nữ có thai, với những người đang bị nhiệt và bị sốt. Ngoài ra khi sử dụng tỏi chúng ta cũng phải chú ý đến những người bị dị ứng với tỏi hoặc khi sử dụng tỏi để đắp lên mụn nhọt hoặc đắp lên vùng rốn cho đỡ đầy bụng, nếu để trong thời gian dài sẽ gây phỏng rộp da.
Cách sử dụng tỏi tốt nhất để thanh lọc cơ thể là sử dụng tỏi làm một loại gia vị trong các bữa ăn. Tỏi là loại thực phẩm hàng đầu làm giảm cholesterol bám rộng trên thành mạch, từ đó có thể ngăn ngừa một số bệnh như xuất huyết mạch máu não, đau thắt tim hay cao huyết áp. Các nghiên cứu khoa học cho thấy, chỉ với hai nhánh tỏi mỗi ngày tỏi có tác dụng ngang các loại thuốc làm giảm cholesterol và làm thấp khả năng nhiễm mở trong máu và làm giảm lượng cholesterol dư thừa trong cơ thể.
Để làm giảm chứng cao huyết áp, hạ nhịp tim, thở dốc, hay hệ tiêu hóa không ổn định thì chúng ta có thể bóc vài tép tỏi sống ăn sẽ thấy hiệu quả rõ rệt trong vòng hai tuần. Đối với người bệnh tăng mỡ máu thì cần ăn ba đến bốn nhánh tỏi mỗi ngày vì tỏi có tác dụng phòng tắc nghẽn mạch máu nhờ khả năng phân giải và hòa tan một lượng protein dễ gây tắc. Tỏi cũng được xem như một loại kháng sinh của thực phẩm nên có tác dụng kháng khuẩn, kháng virut, diệt ký sinh trùng đường ruột.
Tác giả : VCTV
Nguồn: http://vtv.vn/Article/Get/Thanh-loc-co-the-cung-toi--2ce7a41245.html
Trong ẩm thực tỏi có tác dụng như một loại gia vị, dùng tỏi thường xuyên có thể giúp phòng chống một số bệnh như bệnh về tim mạch, bệnh về huyết áp. Nếu như chúng ta dùng tỏi thường xuyên sẽ giúp cho đường tiêu hóa tuy nhiên chúng ta không nên dùng lâu dài và cũng không dùng lượng lớn quá trong hàng ngày. Mỗi ngày chúng ta có thể sử dụng một hoặc hai nhánh tỏi là tốt nhưng nếu dùng kéo dài thì cũng không có lợi cho sức khỏe. Vì vậy với một số trường hợp khi dùng tỏi chúng ta phải lưu ý: Theo Đông y tỏi có vị cay, tính nóng do đó chúng ta phải lưu ý đối với phụ nữ có thai, với những người đang bị nhiệt và bị sốt. Ngoài ra khi sử dụng tỏi chúng ta cũng phải chú ý đến những người bị dị ứng với tỏi hoặc khi sử dụng tỏi để đắp lên mụn nhọt hoặc đắp lên vùng rốn cho đỡ đầy bụng, nếu để trong thời gian dài sẽ gây phỏng rộp da.
Cách sử dụng tỏi tốt nhất để thanh lọc cơ thể là sử dụng tỏi làm một loại gia vị trong các bữa ăn. Tỏi là loại thực phẩm hàng đầu làm giảm cholesterol bám rộng trên thành mạch, từ đó có thể ngăn ngừa một số bệnh như xuất huyết mạch máu não, đau thắt tim hay cao huyết áp. Các nghiên cứu khoa học cho thấy, chỉ với hai nhánh tỏi mỗi ngày tỏi có tác dụng ngang các loại thuốc làm giảm cholesterol và làm thấp khả năng nhiễm mở trong máu và làm giảm lượng cholesterol dư thừa trong cơ thể.
Để làm giảm chứng cao huyết áp, hạ nhịp tim, thở dốc, hay hệ tiêu hóa không ổn định thì chúng ta có thể bóc vài tép tỏi sống ăn sẽ thấy hiệu quả rõ rệt trong vòng hai tuần. Đối với người bệnh tăng mỡ máu thì cần ăn ba đến bốn nhánh tỏi mỗi ngày vì tỏi có tác dụng phòng tắc nghẽn mạch máu nhờ khả năng phân giải và hòa tan một lượng protein dễ gây tắc. Tỏi cũng được xem như một loại kháng sinh của thực phẩm nên có tác dụng kháng khuẩn, kháng virut, diệt ký sinh trùng đường ruột.
Tác giả : VCTV
Nguồn: http://vtv.vn/Article/Get/Thanh-loc-co-the-cung-toi--2ce7a41245.html
Chẩn đoán trước sinh từ mức độ di truyền tế bào
Khi có thai, không ai có thể chắc chắn thai nhi trong bụng mẹ sẽ hoàn toàn bình thường. Ngay cả với các cặp vợ chồng còn trẻ, khỏe mạnh, đã từng sinh con bình thường cũng vẫn có nguy cơ sinh con dị tật, có điều tỷ lệ này thấp (khoảng 1-2% số trẻ sơ sinh). Vì thế nếu có điều kiện thì nên thực hiện chẩn đoán trước sinh cho mọi trường hợp thai nghén.
Kỹ thuật chuẩn đoán trước sinh bằng kỹ thuật di truyền phân tử được ứng dụng cho những thai phụ có dấu hiệu không bình thường khi mang thai: siêu âm có hình ảnh bất thường hoặc xét nghiệm máu mẹ có nguy cơ cao sinh con bị dị tật do rối loạn về số lượng và cấu trúc nhiễm sắc thể. Các bác sĩ tiến hành lấy 15-18 ml dịch ối dưới hướng dẫn của màn hình siêu âm nhằm giảm thiểu các biến chứng. Yêu cầu khắt khe nhất là thủ thuật phải được đảm bảo vô trùng. Kỹ thuật này thường thực hiện ở tuần thai từ 16-25.
Mẫu dịch ối sau khi được lấy sẽ được chuyển đến khoa di truyền và sinh học phân tử, Bệnh viện Nhi Trung ương để tiến hành phân tích nhiễm sắc thể từ tế bào ối để xác định các bất thường về cấu trúc nhiễm sắc thể. Cho đến nay đã có gần 10 trường hợp thai nhi được xác định có dị tật bẩm sinh nặng: Down, đột biến gien, tăng sản thượng thận bẩm sinh... Các xét nghiệm di truyền phân tử sẽ giúp cho các bác sĩ có thể xác định đựoc một cách chắc chắn các thai nhi có bất thường ở mức độ nào để có thể tiếp tục giữ hay đình chỉ thai nghén. Thực tế cũng đã có rất nhiều sản phụ được chỉ định xét nghiệm chẩn đoán trước sinh do có hình ảnh siêu âm bất thường nhưng sau khi được chẩn đoán bằng kỹ thuật di truyền phân tử, thai nhi vẫn được duy trì, cháu bé sinh ra bình thường.
Ứng dụng các kỹ thuật di truyền tế bào và phân tử trong chẩn đoán trước sinh, đặc biệt kỹ thuật di truyền phân tử là kỹ thuật hiện đại lần đầu tiên được khoa phụ sản Bệnh viện Bạch Mai phối hợp với Khoa Di truyền phân tử Bệnh viện Nhi Trung ương áp dụng ở Việt Nam. Sự phối hợp này đã giúp cho việc chẩn đoán, phát hiện sớm các dị tật bệnh lý do di truyền ở thai nhi đạt được tiến bộ cao nhất: chẩn đoán được 4 bệnh lý trong khi ở những đơn vị chuyên khoa sản khác chỉ xác định được từ 1-2 bệnh lý.
Tác giả : Thanh Hương
Theo vtv.vn, chuyên mục "Đời sống", 8/1/2010
Kỹ thuật chuẩn đoán trước sinh bằng kỹ thuật di truyền phân tử được ứng dụng cho những thai phụ có dấu hiệu không bình thường khi mang thai: siêu âm có hình ảnh bất thường hoặc xét nghiệm máu mẹ có nguy cơ cao sinh con bị dị tật do rối loạn về số lượng và cấu trúc nhiễm sắc thể. Các bác sĩ tiến hành lấy 15-18 ml dịch ối dưới hướng dẫn của màn hình siêu âm nhằm giảm thiểu các biến chứng. Yêu cầu khắt khe nhất là thủ thuật phải được đảm bảo vô trùng. Kỹ thuật này thường thực hiện ở tuần thai từ 16-25.
Mẫu dịch ối sau khi được lấy sẽ được chuyển đến khoa di truyền và sinh học phân tử, Bệnh viện Nhi Trung ương để tiến hành phân tích nhiễm sắc thể từ tế bào ối để xác định các bất thường về cấu trúc nhiễm sắc thể. Cho đến nay đã có gần 10 trường hợp thai nhi được xác định có dị tật bẩm sinh nặng: Down, đột biến gien, tăng sản thượng thận bẩm sinh... Các xét nghiệm di truyền phân tử sẽ giúp cho các bác sĩ có thể xác định đựoc một cách chắc chắn các thai nhi có bất thường ở mức độ nào để có thể tiếp tục giữ hay đình chỉ thai nghén. Thực tế cũng đã có rất nhiều sản phụ được chỉ định xét nghiệm chẩn đoán trước sinh do có hình ảnh siêu âm bất thường nhưng sau khi được chẩn đoán bằng kỹ thuật di truyền phân tử, thai nhi vẫn được duy trì, cháu bé sinh ra bình thường.
Ứng dụng các kỹ thuật di truyền tế bào và phân tử trong chẩn đoán trước sinh, đặc biệt kỹ thuật di truyền phân tử là kỹ thuật hiện đại lần đầu tiên được khoa phụ sản Bệnh viện Bạch Mai phối hợp với Khoa Di truyền phân tử Bệnh viện Nhi Trung ương áp dụng ở Việt Nam. Sự phối hợp này đã giúp cho việc chẩn đoán, phát hiện sớm các dị tật bệnh lý do di truyền ở thai nhi đạt được tiến bộ cao nhất: chẩn đoán được 4 bệnh lý trong khi ở những đơn vị chuyên khoa sản khác chỉ xác định được từ 1-2 bệnh lý.
Tác giả : Thanh Hương
Theo vtv.vn, chuyên mục "Đời sống", 8/1/2010
Để trẻ không bị cận thị
Đôi mắt giúp trẻ tiếp nhận đến 90% lượng thông tin từ môi trường bên ngoài. Chính vì thế, việc phải đeo cặp kính cận có ảnh hưởng lớn đến khả năng tiếp nhận thông tin và học hỏi của bé...
Một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ học sinh bị cận thị ngày càng cao là do tư thế ngồi học không đúng. Ngoài việc ảnh hưởng đến khả năng tập trung của trẻ, tư thế ngồi học không đúng cũng gây ra rất nhiều tác hại đến phổi, tim, xương sống... Vì vậy ngoài việc phải luyện cho trẻ tư thế ngồi học đúng, các bậc phụ huynh cần chú ý đến cách sắp xếp bàn ghế, bảng viết phù hợp với lứa tuổi con trẻ, đồng thời phải bảo đảm phòng học đủ ánh sáng để trẻ không phải nhìn quá gần hoặc quá xa...
Cùng với một góc học tập hoàn chỉnh cần kết hợp chế độ ăn uống khoa học với những loại thực phẩm tốt cho mắt như: gan gà, gan lợn; các loại trứng, các loại thịt, cá.... hay các loại củ, quả như gấc, cà chua, dưa hấu, hồng, bí đỏ; đu đủ, cà rốt; cùng các loại rau xanh như rau cải, rau ngót, mồng tơi, rau đay...
Lưu ý, khi trẻ không may bị dị vật rơi vào mắt, bạn cần tránh để trẻ dụi mắt vì có thể làm tổn thương biểu mô giác mạc. Thay vào đó, bạn nên sử dụng thuốc nhỏ mắt có chứa các dưỡng chất cùng các chất kháng viêm, kháng khuẩn để nuôi dưỡng đôi mắt bé luôn khỏe đẹp.
Tác giả : Thanh Tân
Theo VTV.vn
Một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ học sinh bị cận thị ngày càng cao là do tư thế ngồi học không đúng. Ngoài việc ảnh hưởng đến khả năng tập trung của trẻ, tư thế ngồi học không đúng cũng gây ra rất nhiều tác hại đến phổi, tim, xương sống... Vì vậy ngoài việc phải luyện cho trẻ tư thế ngồi học đúng, các bậc phụ huynh cần chú ý đến cách sắp xếp bàn ghế, bảng viết phù hợp với lứa tuổi con trẻ, đồng thời phải bảo đảm phòng học đủ ánh sáng để trẻ không phải nhìn quá gần hoặc quá xa...
Cùng với một góc học tập hoàn chỉnh cần kết hợp chế độ ăn uống khoa học với những loại thực phẩm tốt cho mắt như: gan gà, gan lợn; các loại trứng, các loại thịt, cá.... hay các loại củ, quả như gấc, cà chua, dưa hấu, hồng, bí đỏ; đu đủ, cà rốt; cùng các loại rau xanh như rau cải, rau ngót, mồng tơi, rau đay...
Lưu ý, khi trẻ không may bị dị vật rơi vào mắt, bạn cần tránh để trẻ dụi mắt vì có thể làm tổn thương biểu mô giác mạc. Thay vào đó, bạn nên sử dụng thuốc nhỏ mắt có chứa các dưỡng chất cùng các chất kháng viêm, kháng khuẩn để nuôi dưỡng đôi mắt bé luôn khỏe đẹp.
Tác giả : Thanh Tân
Theo VTV.vn
Những loại trà thảo dược nên tránh trong thai kì
Một điều quan trọng chị em cần ghi nhớ là, ngay cả với những loại trà được coi là an toàn cho thời gian thai kỳ thì cũng không nên uống quá nhiều.
Không cần nói ra thì chị em đều biết caffeine và rượu là hai thức uống cần tránh khi mang bầu để giảm thiểu nguy cơ khuyết tật bẩm sinh ở thai nhi. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết có một số loại trà thảo dược cũng nên tránh khi mang thai vì có thể gây hại cho cả mẹ và con, nhất là nếu được uống quá nhiều.
Các loại thảo dược vốn vẫn được coi là một dạng thuốc, có tác dụng như thuốc chữa bệnh. Nhưng các loại thảo dược này chưa được nghiên cứu đầy đủ về tác dụng của chúng đối với em bé chưa sinh.
Một số loại trà thảo dược được coi là tốt trong thời kỳ thai nghén
Khi mang thai, ai cũng rất lo lắng cho sức khỏe của mẹ và con. Những loại trà thảo dược dưới đây được cho là an toàn khi bạn mang thai:
- Trà gừng
- Trà chanh
- Trà húng
- Trà lúa mạch
- Trà bạc hà
Những loại trà không nên dùng khi mang thai
Một số loại thảo mộc nếu uống nhiều có thể kích thích tử cung và vô tình gây ra sẩy thai hoặc các cơn co dạ con. Tốt nhất chị em nên chú ý và hạn chế uống các loại trà từ các loại thảo dược sau:
- Hoa cúc
- Cây ma hoàng
- Rễ cây cam thảo
- Lá mâm xôi
- Hoa hồi
- Cây ngải đắng
- Cây hương thảo
- Cây dâm bụt
- Cây sả
- Cây de vàng
- Cây tầm ma
- Cây thìa là
Trà từ lá cây mâm xôi được cho là có tác dụng giúp kích thích tử cung để chuẩn bị cho cơn co dạ con và sinh nở. Mặc dù chưa được khoa học chứng minh, nhưng trà lá mâm xôi có thể uống được ở thời gian gần cuối của thai kỳ (sau 38 tuần).
Điều đáng lưu ý là hầu hết các loại thảo mộc ở trên vẫn có thể ăn kèm trong các thức ăn. Chỉ có khi được pha thành trà thì các loại thảo mộc này mới cô đặc và nguy hiểm hơn.
Dùng trà xanh khi mang thai
Rất nhiều chị e thắc mắc trà xanh có được uống nhiều khi mang thai. Thực tế thì trà xanh không phải là một loại thảo mộc, nhưng nó có chứa caffein.
Tuy nhiên, vẫn có tranh luận về tác dụng và tác hại của trà xanh khi mang thai. Một số bằng chứng cho thấy trà xanh thực sự có thể làm giảm sự hấp thụ axit folic, trong khi đó, axit folic rất cần thiết trong thai kỳ để giúp ngăn ngừa các khuyết tật ống thần kinh sinh ở em bé.
Trà dành cho phụ nữ mang thai
Trên thị trường ngày nay xuất hiện các loại trà dùng khi mang thai. Các nhà sản xuất của các loại trà này giới thiệu sản phẩm của họ như là một sự trợ giúp cho những người đang mang thai.
Điều quan trọng cần lưu ý ở đây là, mặc dù các loại trà này không nhất thiết phải được chứng minh lâm sàng là an toàn cho thai nhi khi được tiêu thụ với số lượng lớn, nhưng chị em khi mua trà cũng nên chú ý các thành phần được liệt kê trên vỏ hộp hoặc bao bì.
Theo afamily.vn
Không cần nói ra thì chị em đều biết caffeine và rượu là hai thức uống cần tránh khi mang bầu để giảm thiểu nguy cơ khuyết tật bẩm sinh ở thai nhi. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết có một số loại trà thảo dược cũng nên tránh khi mang thai vì có thể gây hại cho cả mẹ và con, nhất là nếu được uống quá nhiều.
Các loại thảo dược vốn vẫn được coi là một dạng thuốc, có tác dụng như thuốc chữa bệnh. Nhưng các loại thảo dược này chưa được nghiên cứu đầy đủ về tác dụng của chúng đối với em bé chưa sinh.
Một số loại trà thảo dược được coi là tốt trong thời kỳ thai nghén
Khi mang thai, ai cũng rất lo lắng cho sức khỏe của mẹ và con. Những loại trà thảo dược dưới đây được cho là an toàn khi bạn mang thai:
- Trà gừng
- Trà chanh
- Trà húng
- Trà lúa mạch
- Trà bạc hà
Những loại trà không nên dùng khi mang thai
Một số loại thảo mộc nếu uống nhiều có thể kích thích tử cung và vô tình gây ra sẩy thai hoặc các cơn co dạ con. Tốt nhất chị em nên chú ý và hạn chế uống các loại trà từ các loại thảo dược sau:
- Hoa cúc
- Cây ma hoàng
- Rễ cây cam thảo
- Lá mâm xôi
- Hoa hồi
- Cây ngải đắng
- Cây hương thảo
- Cây dâm bụt
- Cây sả
- Cây de vàng
- Cây tầm ma
- Cây thìa là
Trà từ lá cây mâm xôi được cho là có tác dụng giúp kích thích tử cung để chuẩn bị cho cơn co dạ con và sinh nở. Mặc dù chưa được khoa học chứng minh, nhưng trà lá mâm xôi có thể uống được ở thời gian gần cuối của thai kỳ (sau 38 tuần).
Điều đáng lưu ý là hầu hết các loại thảo mộc ở trên vẫn có thể ăn kèm trong các thức ăn. Chỉ có khi được pha thành trà thì các loại thảo mộc này mới cô đặc và nguy hiểm hơn.
Dùng trà xanh khi mang thai
Rất nhiều chị e thắc mắc trà xanh có được uống nhiều khi mang thai. Thực tế thì trà xanh không phải là một loại thảo mộc, nhưng nó có chứa caffein.
Tuy nhiên, vẫn có tranh luận về tác dụng và tác hại của trà xanh khi mang thai. Một số bằng chứng cho thấy trà xanh thực sự có thể làm giảm sự hấp thụ axit folic, trong khi đó, axit folic rất cần thiết trong thai kỳ để giúp ngăn ngừa các khuyết tật ống thần kinh sinh ở em bé.
Trà dành cho phụ nữ mang thai
Trên thị trường ngày nay xuất hiện các loại trà dùng khi mang thai. Các nhà sản xuất của các loại trà này giới thiệu sản phẩm của họ như là một sự trợ giúp cho những người đang mang thai.
Điều quan trọng cần lưu ý ở đây là, mặc dù các loại trà này không nhất thiết phải được chứng minh lâm sàng là an toàn cho thai nhi khi được tiêu thụ với số lượng lớn, nhưng chị em khi mua trà cũng nên chú ý các thành phần được liệt kê trên vỏ hộp hoặc bao bì.
Theo afamily.vn
Về việc đi giày cao gót (5 bài)
Bài 1. Chị em có nên đi giày cao gót khi mang thai?
Giày cao gót là một tác nhân khiến tình trạng “đau đớn” trong khi mang thai trở nên trầm trọng hơn, thậm chí gây ảnh hưởng không tốt đến thai nhi.
Mang thai là một giai đoạn rất quan trọng của chị em phụ nữ. Ngoài niềm vui được làm mẹ, chị em phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, phổ biến nhất là đau người và đau lưng. Giày cao gót lại là một tác nhân khiến tình trạng “đau đớn” này trở nên trầm trọng hơn, thậm chí gây ảnh hưởng không tốt đến thai nhi.
Giày cao gót được coi là một biểu tượng thời trang, giữ vài trò quan trọng tạo phong cách của không ít chị em phụ nữ. Tuy nhiên, đáng tiếc là không có nhiều người nhận ra tác hại của việc thường xuyên đi giày cao gót, đặc biệt với những chị em đang trong giai đoạn bầu bí.
Giày cao gót ảnh hưởng tới tư thế bình thường của bàn chân. Gót chân và các ngón chân phải ở tư thế thẳng hàng hợp lý để có thể giữ và nâng đỡ trọng lượng của toàn bộ cơ thể.
Nếu đi giày cao gót, toàn bộ trọng lượng cơ thể sẽ tập trung vào gót chân, gây ra áp lực quá mức cho các cơ ở gót chân, bắp chân và các ngón chân. Lúc này, lực trọng tâm thay đổi từ bàn chân chuyển sang gót chân sẽ dẫn tới sự nguy hiểm, vì nó ảnh hưởng đển các dây thần kinh bên hông.
Các dây thần kinh hông là một trong những dây thần kinh dài nhất trong cơ thể. Nó kéo dài từ cột sống đi xuống đến gót chân. Giày cao gót sẽ trực tiếp gây áp lực lên các dây thần kinh này. Trong thời gian mang thai, phụ nữ đi giày đế bằng nhiều khi cũng cảm thấy bị đau mỏi lưng trầm trọng bởi các dây thần kinh hông từ cột sống bị đẩy và chèn ép do sự phát triển của thai nhi.
Thai nhi càng phát triển to, các dây thần kinh này càng phải chịu áp lực mạnh hơn, dẫn đến những cơn đau lưng khủng khiếp. Do đó, khi đang mang thai, chị em vẫn tiếp tục đi giày cao gót thì nguy cơ đau mỏi lưng còn tăng lên gấp bội phần.
Trong khi mang thai, trọng lượng cơ thể của chị em ngày càng tăng do trọng lượng của thai nhi tăng. Điều này làm tăng thêm áp lực vào chân trong khi di chuyển. Những đôi giày gót cao có thể khiến chị em bị mất thăng bằng, vấp ngã hay trẹo chân. Điều này rất dễ ảnh hưởng tới cơ thể chị em cũng như ảnh hưởng không tốt đến thai nhi. Vì vậy, để có một em bé khỏe mạnh bình thường, chị em nên cố gắng tạm xa rời phong cách thời trang giày cao gót trong khoảng thời gian đang mang thai.
Ngoài ra, theo các nhà nghiên cứu, trong quá trình mang thai, chị em có thể gặp nhiều những vấn đề phát sinh không mong muốn ở các bộ phận trên cơ thể. Ví dụ như các nốt viêm tấy ở các kẽ ngón chân. Nếu tiếp tục đi giày cao gót, những nốt viêm tấy này có thể ngày càng trầm trọng hơn. Do vậy, chị em nên cân nhắc trước khi muốn tiếp tục duy trì sở thích thời trang đi giày cao gót ngay cả trong thời gian bầu bí quan trọng của mình.
Theo afamily.vn
Bài 2. Giày cao gót - mối đe dọa mới cho SKSS và tình dục của chị em
Những đôi giày cao gót trên 5cm, nếu thường xuyên sử dụng, có thể trở thành mối đe dọa cho sinh hoạt tình dục và sinh sản, bộ máy “nội tạng” cũng bị ảnh hưởng tiêu cực.
Chúng ta đều biết, tỷ lệ nữ giới bị chấn thương chân đang ngày càng tăng cao mà thủ phạm không ai khác chính là đôi giày cao gót.
Về mặt mỹ học, giày cao gót giúp phụ nữ có dáng đi uyển chuyển mềm mại, làm cho họ trở nên quyến rũ hơn; chưa kể giày cao gót còn cải thiện đáng kể vóc dáng của những người có chiều cao khiêm tốn. Tuy nhiên, việc làm dáng này lại khiến đôi chân phải gồng gánh quá nhiều rủi ro về sức khỏe, không chỉ ở chân mà thậm chí ảnh hưởng đến cổ tử cung.
Theo y học, cấu trúc vòm của bàn chân giúp chúng ta chịu đựng được trọng lực cơ thể một cách dễ dàng khi đứng thẳng. Việc đi giày cao gót sẽ khiến trọng lực của cơ thể đổ về phía trước, phá vỡ cấu trúc này, áp lực dồn vào các ngón chân dễ dẫn đến đau các ngón chân. Ngoài ra, để giữ được thế thăng bằng khi trọng tâm của các bộ phận ở phần dưới cơ thể hướng về phía trước, các bộ phận phía trên cơ thể sẽ phải duy trì sự cân bằng, làm cho cơ bắp thêm mệt mỏi, dễ ảnh hưởng đến vùng thắt lưng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân phổ biến gây đau lưng, thậm chí đau lưng mãn tính. Mặt khác, gót chân và mắt cá chân luôn trong tình trạng bị thắt chặt lại khi mang giày cao gót có thể dẫn đến tình trạng viêm và đau chân.
Giày cao gót có thể trở thành mối đe dọa cho sinh hoạt tình dục và sinh sản của chị em BS Nguyễn Văn Quang, BV Hồng Đức 3 cho biết, cả Đông y lẫn Tây y đều cảnh báo khi đi giày cao gót, vì khi gót chân ở vị trí cao hơn so với mũi bàn chân, chân phải trực tiếp chịu sức nặng cơ thể, mô mềm gan bàn chân dù có tác dụng như một “đòn” giảm sốc cũng không thể chịu đựng được tải trọng quá lớn một cách thường xuyên. Sự gồng gánh này gây nên tình trạng chấn thương kéo dài. Trường hợp nhẹ thì bàn chân, ngón chân dễ bị chai sạn. Nặng hơn có thể xuất hiện hiện tượng gai xương gót. Ngoài ra, khi mũi chân bị bó hẹp trong mũi giày nhọn ở phần đầu, các ngón chân (nhất là chân cái) sẽ bị vẹo ra ngoài, các ngón khác dễ bị thoái hóa sớm, hoặc biến dạng khoằm xuống, dễ kéo theo các bệnh về móng như móng chân mọc ngược vào thịt, bị nấm móng…
Các phần khác của cơ thể như đầu gối, cẳng chân, bắp đùi cũng là những nơi bị ảnh hưởng xấu. Đi giày cao gót có thể khiến bạn cảm thấy bị chuột rút bởi các cơ bị giãn ra. Phụ nữ dễ bị bệnh phù chân, bị nghẽn mạch máu, thêm vào đó là tình trạng nghẽn tĩnh mạch và bệnh cellulite. Đầu gối còn có thể mắc chứng viêm khớp.
Mới đây, các bác sĩ Anh đã đưa ra thêm một cảnh báo đối với những đôi giày cao gót trên 5cm, là nếu thường xuyên sử dụng, có thể trở thành mối đe dọa cho sinh hoạt tình dục và sinh sản vì mang giày thường xuyên, bộ máy “nội tạng” cũng bị ảnh hưởng tiêu cực. Hoạt động của hệ thống niệu sinh dục có thể bị nguy hại dẫn tới những thay đổi của cơ quan bên trong. Kết quả có thể xảy ra là sự lãnh cảm vì máu lưu thông không đều đến khu vực xương chậu. Khả năng khác là làm cho khung xương chậu bị nghiêng sang một bên, là nguyên nhân gây rối loạn kinh nguyệt, đau bụng mỗi khi hành kinh và giảm một số chức năng của bụng, dẫn đến khả năng thụ thai kém. BS Quang nói, lưng ong gót sen là biểu hiện cho hoạt động của vùng dưới cơ thể - đặc biệt là của thận và bộ phận sinh dục mạnh vững. Khi các cơ quan đó tốt, gót chân mới đỏ hồng, không bị nứt, không bị vẹo, hai chân linh hoạt, vững vàng.
Tuy nhiên, có một số ý kiến cho rằng, nếu mang giày cao vừa phải, phù hợp, với thời gian ít, có thể cũng là cách rèn luyện giúp cơ xương chậu dẻo dai hơn… Khoa học đã chứng minh: một đôi giày đế cao từ 2 - 4cm và có đường kính gót từ 3 - 5cm có thể an toàn cho đôi chân của bạn. Nếu bạn có chiều cao khiêm tốn, nên chọn loại giày cao đều chứ không chỉ cao ở phần gót.
Theo huấn luyện viên thẩm mỹ Anh Đào (Trung tâm thẩm mỹ Anh Đào - Q.Phú Nhuận, TP.HCM), chỉ nên sử dụng giày cao gót trong những dịp lễ tiệc đặc biệt và không nên mang giày cao quá bốn giờ. Thường xuyên thể dục tư thế đứng khi mang giày cao gót và thay đổi tư thế đứng - ngồi để không làm chân mệt mỏi. Ngoài ra, ngâm chân trong nước ấm, nước muối, thảo dược, massage nhẹ nhàng từ dưới bàn chân lên đến đầu gối cũng có tác dụng làm mềm chân, kích thích huyệt đạo, thúc đẩy lưu thông máu và làm thư giãn đôi chân
Theo Ngọc Tú
PNO
Bài 3. Khi giày dép đe dọa sức khỏe bàn chân
Có một thực tế là, những đôi giày cao gót hay những đôi sandal điệu đà, dù rất đẹp và làm tôn dáng cho bạn nhưng lại đem lại những cơn đau khó chịu.
Bàn chân con người sinh ra không phải để đem bó buộc trong những đôi giày. Đó có phải là cái giá của sắc đẹp? Chúng đem lại những cơn đau cho ngón chân, bàn chân cho đến những cơn đau trên cột sống. Nhưng chúng ta lại không thể sống mà thiếu chúng. Có một vài cách để kiểm soát những cơn đau mà đôi giày mang lại cho bạn.
Giày cao gót
Các chuyên gia y tế gọi đôi giày cao gót là "cái giá đắt nhất" cho sắc đẹp. Phải công nhận một điều đôi giày cao gót làm tôn dáng cho người phụ nữ, khiến họ trở nên quyến rũ hơn, đẹp hơn. Nhưng đôi giày cũng để lại những tác hại không nhỏ cho sức khỏe của đôi chân.
Không ít lần, các bác sĩ đã phải nghe những lời than phiền về đôi chân của người bệnh. Họ cảm thấy "đau mỏi" và cần được chữa trị gấp. Tuy nhiên, đa phần những cơn đau đó đã xuất hiện từ lâu nhưng đến khi không thể chịu được nữa, họ mới đến bệnh viện kiểm tra. Tìm hiểu nguyên nhân, các bác sĩ phát hiện ra rằng, nguyên nhân gây bệnh lớn nhất chính là những đôi giày cao gót đẹp đẽ đó.
Trước hết nói về chiếc gót giày. Tiến sĩ Helen Crawford của Trung tâm điều trị các bệnh về xương (Mỹ) cho biết, chiếc gót giày cao và nhọn hoắt khiến cho các phần của bàn chân bị kéo căng về những hướng khác nhau. Và mắt cá chân phải chịu đựng tất cả sự kéo căng đó cũng như toàn bộ trọng lực của cơ thể dồn vào trung tâm của mắt cá.
Sự kéo căng đó tạo nên những áp lực không giống tự nhiên. Điều này dẫn đến sự xuất hiện của những cục chai, những cơn đau ở nửa bàn chân trước và bệnh sẹo xương. Nặng nề hơn là ảnh hưởng đến cột sống. Tuy nhiên, để giảm độ cao của chiếc gót giày, bạn không thể làm ngay tắp lự. Trong một thời gian dài, các cơ bàn chân, cẳng chân, cơ đùi đã quen với chiếc gót cao nên chúng cần một khoảng thời gian để làm quen với những độ cao thấp hơn. Bạn nên giảm từ từ độ cao của giày. Ví dụ từ 10 phân xuống 7 rồi 5 rồi 3 phân. Cách giảm này sẽ không ảnh hưởng đến các vùng cơ kể trên.
Chiếc mũi giày cao gót cũng để lại những tác hại không kém. Mũi giày nhọn khiến cho những ngón chân phải "chen chúc" trong một không gian chật hẹp. Viện Trung y Nam Kinh đã từng tiếp nhận một bệnh nhân nữ với ngón chân cái quặp hẳn vào bên trong.
Bệnh nhân cho biết, chị thường xuyên đi giày cao gót, thường là 10 phân trong 15 năm. Vài năm trước, ngón chân cái của chị rất đau nhưng do ngại nên không đi khám. Khám trực tiếp, ngón chân cái của chị quặp hẳn vào ngón bên cạnh. Trên ngón út xuất hiện vết chai. Trên phim Xquang, xương ngón chân cái bị vẹo. Nguyên do là bị bó buộc trong không gian hẹp quá lâu. Bệnh nhân phải trải qua một cuộc tiểu phẫu để sắp xếp lại xương ngón chân.
Và sau đó, chị buộc phải đi những đôi giày rộng hơn, êm hơn để đảm bảo căn bệnh không tái phát. Bác sĩ Chương, Viện Trung y Nam Kinh giải thích, khi bạn di chuyển, bàn chân di chuyển theo và những ngón chân đưa sâu hơn vào trong mũi giày. Trong không gian bó buộc, ngón chân cái có xu hướng quặp hẳn vào trong thay vì nằm đúng vị trí. Ở giai đoạn sớm, người bệnh phải tập những bài tập trị liệu để đưa ngón chân về vị trí cũ. Nhưng ở giai đoạn muộn như bệnh nhân kể trên, họ cần phải phẫu thuật để đưa ngón chân về đúng vị trí.
Tuy nhiên, không phải vì chiếc giày cao gót gây hại cho sức khỏe mà bạn từ bỏ hẳn nó. Hãy giảm bớt độ cao của giày và bạn vẫn có thể có vẻ quyến rũ như bạn mong muốn. Trong trường hợp vẫn thường xuyên sử dụng giày cao gót, hãy cố gắng để thư giãn đôi chân khi có dịp.
Ngoài ra, bạn có thể tập bằng cách đứng trên một chân trong vài phút mỗi ngày. Vào các buổi sáng hoặc tối, bạn cũng có thể tập bài tập: hay tay chống vào tường, một chân làm tựa phía trước, chân kia duỗi thẳng hết sức ra phía sau. Hoặc khi ngồi trên ghế, bạn cũng có thể tháo giày, duỗi thẳng chân, kéo căng phần cơ bắp chân một cách từ từ rồi thả lỏng để phần cơ được thư giãn.
Giày trệt
Nhiều người cho rằng giày đế bằng hay giày trệt là lựa chọn tối ưu nhất cho đôi chân. Không cao gót thì không có vấn đề gì. Tất nhiên, chúng dễ dàng hơn rất nhiều cho những chuyến lang thang shopping. Nhưng, đến khi chúng bắt đầu có xu hướng rộng ra, mọi việc không như bạn nghĩ. Và khi đó, giày đế bằng không phải là lựa chọn tối ưu nhất cho đôi chân.
Tiến sĩ Helen giải thích, giày trệt hay còn gọi là giày balê gây ảnh hưởng đến chân không nhỏ. Chiếc đế bằng phẳng và vùng da bao quanh giày khiến chân bị đau và có những cơn nhói nhói vùng mũi chân và gót chân. Hơn nữa, những đôi giày này thường không có quai đeo.
Để giữ giày, bàn chân dùng các ngón chân và vùng cơ phía gót để giữ chặt giày. Lực giữ này càng tăng khi giày càng rộng. Và khi đó, vùng gót chân, ngón chân út thường xuyên hiện những vết phồng rộp hoặc bị bong gân vùng mắt cá chân. Ngoài ra, các cơ bàn chân phải làm việc vất vả hơn trong cả ngày khiến cho chân thường xuyên bị chuột rút.
Tiến sĩ Helen khuyên rằng, cũng giống như giày cao gót, bạn nên chọn những đôi giày trệt mũi rộng hơn để tạo không gian "rộng rãi" hơn cho những ngón chân. Hơn nữa, những đôi giày trệt cũng nên có quai đeo để cho các cơ của bàn chân được thư giãn đôi chút dù những chiếc quai đeo này không tiện lợi cho việc tháo giày.
Sandal
Đôi khi, sandal được chị em lựa chọn thay thế cho những đôi giày trong việc tạo dáng, nhất là vào những ngày hè oi nóng. Tuy nhiên, nghiên cứu của tiến sĩ Helen cho thấy, việc để bàn chân phơi trần quá nhiều ảnh hưởng đến da chân hay nhiễm trùng móng chân...
Việc phơi bàn chân dưới tác động của gió, của ánh sáng khiến cho da khô hơn. Tác động tồi tệ nhất là tác động đến gót chân, khiến chúng trở nên xù xì, thô ráp. Tất nhiên, những loại kem dưỡng gót chân có thể giúp bạn giải quyết vấn đề này nhưng tốt nhất là sử dụng các loại sandal có bao phần gót để bảo vệ gót chân.
Đôi sandal cùng làm tăng nguy cơ bị những chấn thương không đáng có. Không có gì bảo vệ, đôi chân rất dễ bị những "vật lạ" tấn công. Đôi khi do sơ ý, bạn hoặc những người xung quanh có thể bất ngờ làm rớt đồ đạc vào chân. Hay khi đi lại, bạn không để ý và khiến ngón chân bị vấp vào bàn... Khi đó, có thể ngón chân chỉ bị đau nhưng cũng có thể khiến móng chân bị bật ra và chảy máu.
Cũng có khi, chỉ do đi lại nhiều với sandal, bạn bị vi khuẩn xâm nhập vào các kẽ chân. Nếu không vệ sinh thường xuyên và đúng cách, những vi khuẩn này phát triển nhanh chóng và làm cho móng chân của bạn bị nhiễm trùng...
Giày bịt mũi
Những đôi giày bịt mũi này cũng đem lại những rắc rối cho đôi chân hơn những kiểu giày khác. Những cơn đau do chúng đem lại cũng gây khó chịu cho thân chủ. Tiến sĩ Helen cho biết, đôi khi, chị em thường mua giày nhỏ hơn một cỡ so với chân mình để có cảm giác đôi giày vừa vặn hơn và vẫn tiếp tục sử dụng được khi giày bị rộng ra.
Khi đó, đôi chân bị bó buộc, máu không lưu thông được nhiều khiến chân bị mỏi nhanh hơn, gót chân đau và xước nhiều hơn. Các ngón chân bị bó buộc nhiều hơn. Còn khi giày đã rộng ra, những cơn đau lại giống như đôi giày cao gót mà bạn thường mang. Các cơn đau mỏi, những khối chai chân và có khi là những ảnh hưởng đến cột sống.
Lời khuyên mà tiến sĩ Helen dành cho bạn là, hãy chọn cho mình những đôi giày vừa vặn, thích hợp cho từng tình huống bạn cần. Khi mua giày, hãy đi thử đôi giày trong vài phút để cảm nhận những tác động của gót giày, vùng da bao quanh giày, mũi giày đến đôi chân... Ngoài ra, bạn cũng nên tích trữ những sản phẩm chăm sóc da chân tại nhà để mỗi khi chân mệt, bạn có thể để chân được thư giãn.
Theo Tiêu Dùng
Bài 4. Hiểm họa từ giày cao gót và áo quần "thiếu vải"
Không chỉ có giày gót cao, ngay cả dép bệt xỏ ngón, túi xách to cũng không hoàn toàn tốt cho sức khỏe
Những mốt thời trang như giày cao gót, dép bệt xỏ ngón, túi xách quá khổ... luôn được chị em phụ nữ và cả giới trẻ ưa chuộng. Những thiết kế mẫu mã này tuy đẹp, hiện đại nhưng lại tiềm ẩn nhiều mối nguy hại cho sức khỏe
Hại sức khỏe vì giày, dép
Giày gót cao giúp người mang nó trông như cao hơn, dáng đẹp hơn, làm tăng thêm vẻ đẹp của chị em phụ nữ. Trên thực tế, đây là loại giày gây hại đến sức khỏe nhiều nhất. Nếu mang thường xuyên sẽ gây ra các triệu chứng đau lưng và ảnh hưởng đến cột sống.
Bác sĩ Võ Văn Sĩ, Trưởng Khoa Cột sống B Bệnh viện (BV) Chấn thương Chỉnh hình TPHCM, cho biết: “Khi mang giày cao gót, khung xương chậu dễ bị nghiêng do trọng tâm cơ thể đổ dồn về phía trước, cột sống phải cố gắng điều chỉnh nên có nguy cơ bị ưỡn về phía trước nhiều hơn”. Bác sĩ Phan Vương Huy Đổng, Phó Chủ tịch Hội Y học Thể thao TPHCM, cũng khuyến cáo: “Mang giày gót cao còn làm đau gối, đau các ngón chân, đặc biệt là đau ngón cái vì trọng lực cơ thể dồn lên các ngón chân nhiều hơn”.
Những đôi dép bệt tạo sự thoải mái và tiện lợi khiến nhiều bạn trẻ “lạm dụng”. Việc làm tưởng như vô hại này lại vô tình khiến đôi chân trở nên “mệt mỏi” hơn, làm cho lòng bàn chân trở nên đau nhức. Bác sĩ Võ Văn Sĩ cho rằng vì cấu tạo lòng bàn chân của chúng ta hơi lõm nên dép đế bằng lại quá thấp sẽ phải chịu sức nặng của cơ thể, không thể giúp chân nâng cơ thể. Vì thế, lòng bàn chân dễ bị tổn thương, nhức mỏi nhiều hơn nếu lúc nào cũng mang loại dép bệt.
Túi xách lớn, mối nguy lớn
Hiện nay, các loại túi xách cỡ to cũng được chị em phụ nữ ưa chuộng. Những loại túi xách này thường mang một bên vai nên trọng lượng sẽ đổ dồn về một phía. Do đó, bác sĩ Phan Vương Huy Đổng cảnh báo: “Những loại túi này sẽ làm đau vai, đau cổ và đau lưng. Không những thế nó còn làm mất thăng bằng sinh lý cột sống vì cơ thể chỉ phải chịu lực ở một bên”.
Bên cạnh đó, những loại túi xách lớn khiến chị em phụ nữ có thói quen ôm đồm cho vào nhiều thứ, nhất là đối với nữ giới văn phòng. Hành động này góp phần làm cho chiếc túi trở nên nặng hơn, chứa nhiều “mối nguy hiểm” hơn. Công việc ở văn phòng đòi hỏi phải thường xuyên ngồi một chỗ nên dễ gây những cơn mỏi mệt, đau nhức. Do đó, khi phải mang những túi lớn khiến những cơn đau kéo dài hơn, đau buốt hơn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe.
Đặc biệt loại túi này không thích hợp với các bạn trẻ tuổi mới lớn. Theo bác sĩ Võ Văn Sĩ, ở độ tuổi này các em phát triển chưa hoàn thiện, xương còn yếu nên mang túi to một bên dễ làm tổn thương đến cột sống, thậm chí nặng có thể làm lệch vai, vẹo cột sống.
Nguy cơ ung thư từ quần áo “thiếu vải”
Với thời tiết nắng nóng ở nước ta, hiện nay những loại áo hai dây, áo ống, váy ngắn, quần soóc... đã trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi. Nhiều người mặc những kiểu quần áo này khi đi trên phố vì nó tạo cảm giác mát mẻ lại rất thoải mái. Hơn nữa, loại áo quần này còn tạo nên vẻ đẹp quyến rũ cho phụ nữ.
Tuy nhiên, quần áo “thiếu vải” lại quá hở nên nhiều vùng da trên cơ thể dễ dàng tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời. Giáo sư – bác sĩ Nguyễn Chấn Hùng, Chủ tịch Hội Ung thư TPHCM, cho biết: “Nếu để da phơi nắng nhiều, lâu và thường xuyên dưới ánh nắng gay gắt, nhất là vào thời điểm từ 10 giờ đến 14 giờ, tia cực tím sẽ làm da bị bỏng rát, gây tổn thương da, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ung thư da”.
Ngoài ra, các bạn nữ cũng nên chú ý tránh mặc thường xuyên quần jeans bó sát vì nó có thể ảnh hưởng đến “vùng kín”. Thạc sĩ – bác sĩ Đặng Lê Dung Hạnh, BV Hùng Vương TPHCM, khuyên: “Quần jeans bó sát cơ thể không gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản nhưng nó làm bí, hầm hơi dễ gây viêm nhiễm và một số bệnh phụ khoa”.
Thời trang đẹp nhưng phải “thân thiện”
Theo bác sĩ Phan Vương Huy Đổng, thời trang dù đẹp nhưng phải “thân thiện” nhằm bảo đảm sức khỏe. Do đó, các bạn nữ nên lựa chọn những kiểu thiết kế phù hợp để cơ thể vừa khỏe mạnh lại vừa duyên dáng. Nên chọn những loại giày, dép có đế vừa, không quá cao hoặc quá thấp. Những loại này phải phù hợp với lòng bàn chân, phải ôm sát chân, đế mềm, chất liệu nhẹ, độ bám tương đối để tránh đau các khớp ngón chân và không bị chai sần. Với những túi xách không nên chọn loại quá khổ so với cơ thể, tránh mang quá nặng để khỏi ảnh hưởng đến vai và cột sống. Nếu mang nặng tốt nhất nên chọn ba lô để cân bằng trọng lượng hai bên vai. Đồng thời, nên thường xuyên tập những động tác thể dục để tránh gây nhức mỏi, giữ sức khỏe luôn tốt.
Theo Kim Đoan
Nld
Bài 5. Giày đế bằng đôi khi hại chân hơn giày cao gót
Đối với một số người, đi giày cao gót lại có lợi cho sức khỏe hơn giày đế bằng. Có hẳn một công thức để nhận biết bạn hợp với loại giày nào hơn.
Những đôi giày dép cao gót được cho là thủ phạm đem tới nhiều vấn đề về sức khỏe cho phụ nữ, từ viêm tấy ngón chân cho đến đau lưng. Tuy nhiên, dép đế bằng không hẳn lúc nào cũng tốt.
Một nghiên cứu mới đây của Mỹ khẳng định, những đôi giày thể thao có thể tạo áp lực lên các khớp xương chân nhiều hơn giày cao gót quyến rũ. Trên thực tế, nếu như bạn sinh ra đã là một “tín đồ” của giày cao gót thì chính việc cố gắng đi giày dép đế bằng như giày tập hay giày múa ballet sẽ đi ngược lại kiểu bàn chân tự nhiên và sẽ khiến cho chân bạn “căng thẳng”.
Mỗi phụ nữ đều có một con số hoàn hảo cho giày cao gót, tùy thuộc vào cấu trúc đôi bàn chân. Khi mua giày dép, nếu chị em chú ý tới đặc điểm này sẽ có thể mua được món đồ thoải mái và vừa lòng nhất.
Theo bà Emma Supple, chuyên gia chữa các bệnh về chân tại trung tâm y tế Supplefeet, phía Bắc London, đồng thời là cố vấn phẫu thuật cho Bộ Y tế Anh, nhiều bệnh nhân tìm đến bà khi gặp các vấn đề ở chân do họ đã đi sai kích thước giày dép. Bà Emma cho biết, đôi bàn chân là một “công trình kiến trúc tuyệt diệu”, với tổng cộng 28 xương. Tại điểm bàn chân kết nối với cẳng chân có một loại xương được gọi là xương sên. Xương sên và phần trên của chân được nối với nhau bằng xương cổ chân, đem lại sự mềm dẻo và uyển chuyển cho mắt cá chân. Kích thước của xương cổ chân ở mỗi người là khác nhau và điều này quyết định độ co giãn của mắt cá chân cũng như quyết định độ cao lý tưởng cho giày dép của bạn.
Đối với một số phụ nữ có hốc xương cổ chân ở mức trung bình thì độ cao của giày từ 2,5 đến 5 cm là lý tưởng; tuy nhiên, một số khác lại cần đi giày cao khoảng 7,5 cm để đưa bàn chân vào đúng vòng cung. Đối với những người đó, đi giày cao gót sẽ thoải mái hơn giày đế bằng.
Thậm chí, theo bà Emma, những đôi giày cao 10 - 12 cm vẫn có thể chấp nhận được nhưng nếu cao hơn con số đó thì sẽ không tốt cho dáng điệu của người đi, vì nó sẽ làm cho “vòng ba” nhô ra và ngón chân “quá tải”. Những đôi giày cao trên 12 cm chỉ nên đi trong một thời gian ngắn và chúng được tạo ra để ngồi trên xe limo chứ không phải để đi bộ.
Nếu như dáng người của bạn phù hợp với giày cao gót thì không nên đi ngược lại quy luật đó. Khi lớn tuổi, phụ nữ hay đau chân và chuyển sang đi giày đế bằng vì cho rằng nó sẽ giúp bớt đau, nhưng điều đó có thể làm tình hình tồi tệ hơn. Nếu chọn đúng kích cỡ của giày cao gót, nó sẽ giúp hỗ trợ cho cân nặng cơ thể của người đi một cách hợp lý, phù hợp với tư thế tự nhiên của cơ thể.
Hướng dẫn chọn chiều cao thích hợp cho giày dép của chuyên gia Emma.
Để tìm ra được số đo chuẩn cho giày cao gót, bà Emma đã đưa ra một số chỉ dẫn như sau:
- Hãy cởi giày và ngồi xuống ghế, giơ ngang và duỗi thẳng chân một cách thoải mái nhất.
- Nếu bàn chân của bạn ở một góc vuông so với phần chân giơ ngang có nghĩa là trục mắt cá chân của bạn thấp, vì vậy bạn sẽ thoải mái hơn nếu đi giày dép đế bằng.
- Nếu bàn chân của bạn chúc xuống thì bạn cần đo khoảng cách từ đỉnh của ngón chân cái đến gót chân, đó sẽ là số đo lý tưởng cho phần gót giày của bạn.
Theo Phan Anh
Baodatviet/Daily Mail
Những loại quả nên ăn nhiều nếu cảm lạnh, cảm cúm
Theo thống kê, hàng năm mỗi người trong chúng ta trung bình mắc phải bệnh cảm cúm nặng hay nhẹ tổng cộng là 6 lần. Tuy nhiên, ăn một số loại quả có thể giúp bạn phòng tránh cảm cúm.
Có thể đề phòng cảm cúm bằng cách giữ gìn cho cơ thể luôn luôn được khỏe mạnh. Trong đó, ăn uống với đầy đủ chất bổ dưỡng cũng đóng một vai trò vô cùng cần thiết.
Các loại hoa quả có thể giúp cơ thể bạn đấu tranh với những mầm vi khuẩn. Việc nạp vitamin vào cơ thể sẽ tăng khả năng miễn dịch, đẩy lùi cảm lạnh và cảm cúm. Trái cây cũng làm giảm nguy cơ bệnh tim và ung thư. Hãy thử tăng cường 5 loại quả dưới đây để cung cấp cho cơ thể một hệ thống miễn dịch tốt.
Táo
Các nguồn phổ biến nhất của chất chống oxy hóa trong có trong trái táo tương đương với 1.500 mg vitamin C, có tác dụng gia tăng sức bền thành mạch máu và sức đề kháng của cơ thể. Ngoài ra, táo chứa axit folic và vitamin B, có tác dụng ngừa bệnh tim, giảm lượng cholesterol xấu trong cơ thể và tăng hàm lượng cholesterol tốt lên, mà cholesterol xấu chính là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh tim mạch, ung thư.
Trong táo cũng có chứa quercetin, một chất chống oxy hóa có thể giúp bảo vệ phổi tránh các chất gây ô nhiễm từ môi trường bên ngoài.
Đu đủ
Đu đủ là một trong những trái cây nằm trong danh sách hàng đầu giàu dinh dưỡng tốt cho cơ thể. Đu đủ giàu vitamin C, một loại vitamin cần thiết cho cơ thể giúp đẩy mạnh quá trình sản xuất các tế bào bạch cầu và kháng thể, tăng cường sức đề kháng, ngăn chặn sự xâm nhập và tấn công của virus gây bệnh vào cơ thể.
Trong 100g quả đu đủ có 74-80mg vitamin C và 500-1.250 IU caroten. Đu đủ còn có các vitamin B1, B2, các acid gây men và khoáng chất như kali, canxi, magiê, sắt và kẽm. Ăn đu đủ thường xuyên có tác dụng bổ máu, giúp hồi phục gan ở người bị sốt rét.
Các beta-carotene và vitamin C, E trong đu đủ làm giảm viêm nhiễm khắp cơ thể, giảm bớt những ảnh hưởng của bệnh suyễn.
Nam việt quất
Đây là trái cây rất giàu vitamin C và chất chống ô xy hoá. Hai ly nước ép quả nam việt quất mỗi ngày có thể chữa trị hiệu quả vi-rút cúm. Uống nhiều nước trái cây này sẽ giúp thận thải nhanh độc tố qua đường nước tiểu.
Bưởi
Các chuyên gia y tế đều nhất trí khẳng định: sinh tố C trong rau quả mà đặc biệt trong cam, chanh, quít và bưởi có khả năng dinh dưỡng đáng kể làm gia tăng sức mạnh và số lượng bạch huyết cầu nên đề kháng được một số bệnh tật mà trước mắt là bệnh cảm cúm mùa đông. Ngoài vitamin C, bưởi cũng chứa các hợp chất tự nhiên gọi là limonoids có thể hạ thấp cholesterol. Chất lycopene trong bởi có khả năng chống ung thư.
Chuối
Một trong những nguồn dinh dưỡng quan trọng của chuối là vitamin B6. Chuối giúp giảm mệt mỏi, trầm cảm, căng thẳng và mất ngủ. Chuối có rất nhiều magiê giúp xương vững mạnh, kali giúp ngăn ngừa bệnh tim và cao huyết áp.
An Khánh, (Theo MH)
Có thể đề phòng cảm cúm bằng cách giữ gìn cho cơ thể luôn luôn được khỏe mạnh. Trong đó, ăn uống với đầy đủ chất bổ dưỡng cũng đóng một vai trò vô cùng cần thiết.
Các loại hoa quả có thể giúp cơ thể bạn đấu tranh với những mầm vi khuẩn. Việc nạp vitamin vào cơ thể sẽ tăng khả năng miễn dịch, đẩy lùi cảm lạnh và cảm cúm. Trái cây cũng làm giảm nguy cơ bệnh tim và ung thư. Hãy thử tăng cường 5 loại quả dưới đây để cung cấp cho cơ thể một hệ thống miễn dịch tốt.
Táo
Các nguồn phổ biến nhất của chất chống oxy hóa trong có trong trái táo tương đương với 1.500 mg vitamin C, có tác dụng gia tăng sức bền thành mạch máu và sức đề kháng của cơ thể. Ngoài ra, táo chứa axit folic và vitamin B, có tác dụng ngừa bệnh tim, giảm lượng cholesterol xấu trong cơ thể và tăng hàm lượng cholesterol tốt lên, mà cholesterol xấu chính là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh tim mạch, ung thư.
Trong táo cũng có chứa quercetin, một chất chống oxy hóa có thể giúp bảo vệ phổi tránh các chất gây ô nhiễm từ môi trường bên ngoài.
Đu đủ
Đu đủ là một trong những trái cây nằm trong danh sách hàng đầu giàu dinh dưỡng tốt cho cơ thể. Đu đủ giàu vitamin C, một loại vitamin cần thiết cho cơ thể giúp đẩy mạnh quá trình sản xuất các tế bào bạch cầu và kháng thể, tăng cường sức đề kháng, ngăn chặn sự xâm nhập và tấn công của virus gây bệnh vào cơ thể.
Trong 100g quả đu đủ có 74-80mg vitamin C và 500-1.250 IU caroten. Đu đủ còn có các vitamin B1, B2, các acid gây men và khoáng chất như kali, canxi, magiê, sắt và kẽm. Ăn đu đủ thường xuyên có tác dụng bổ máu, giúp hồi phục gan ở người bị sốt rét.
Các beta-carotene và vitamin C, E trong đu đủ làm giảm viêm nhiễm khắp cơ thể, giảm bớt những ảnh hưởng của bệnh suyễn.
Nam việt quất
Đây là trái cây rất giàu vitamin C và chất chống ô xy hoá. Hai ly nước ép quả nam việt quất mỗi ngày có thể chữa trị hiệu quả vi-rút cúm. Uống nhiều nước trái cây này sẽ giúp thận thải nhanh độc tố qua đường nước tiểu.
Bưởi
Các chuyên gia y tế đều nhất trí khẳng định: sinh tố C trong rau quả mà đặc biệt trong cam, chanh, quít và bưởi có khả năng dinh dưỡng đáng kể làm gia tăng sức mạnh và số lượng bạch huyết cầu nên đề kháng được một số bệnh tật mà trước mắt là bệnh cảm cúm mùa đông. Ngoài vitamin C, bưởi cũng chứa các hợp chất tự nhiên gọi là limonoids có thể hạ thấp cholesterol. Chất lycopene trong bởi có khả năng chống ung thư.
Chuối
Một trong những nguồn dinh dưỡng quan trọng của chuối là vitamin B6. Chuối giúp giảm mệt mỏi, trầm cảm, căng thẳng và mất ngủ. Chuối có rất nhiều magiê giúp xương vững mạnh, kali giúp ngăn ngừa bệnh tim và cao huyết áp.
An Khánh, (Theo MH)
Hậu quả khi bị cúm trong thời gian thai kì (2 bài)
Nghiên cứu phát hiện đa số bệnh đều có thể thâm nhập vào thai nhi qua nhau thai, khiến thai nhi bị dị hình hoặc chết lưu. Do đó các bà bầu cần thận trọng với các bệnh truyền nhiễm.
Cảm cúm thông thường hay dịch cúm đều do sự truyền nhiễm qua đường hô hấp mà nên. Các biểu hiện của cảm cúm thông thường như nhức đầu, sổ mũi, ngạt mũi, đau họng, ho và đau người v.v... có thể xảy ra ở rất nhiều người. Những triệu chứng này ảnh hưởng không lớn đến thai nhi. Nhưng nếu nhiệt độ cơ thể cứ kéo dài ở 39 độ C thì phải thận trọng vì có thể nó sẽ gây dị hình ở thai nhi.
Dịch cảm cúm là do các vi rút gây bệnh từ nước bọt, mũi và đờm của người bệnh thông qua không khí truyền sang người bình thường, tính lan truyền của nó rất mạnh gây nên bệnh dịch.
Người mắc vi rút truyền nhiễm thường có các biểu hiện như: lúc nóng, lúc lạnh, sốt tương đối cao, đau đầu, toàn thân nhức mỏi, thường thì sau khi hạ sốt sẽ có các triệu chứng như là ngạt mũi, chảy nước mũi, đau họng v.v... khiến cho thể lực của người bệnh tiêu hao lớn và hồi phục chậm.
Vi rút của dịch cúm không chỉ khiến thai nhi bị dị hình, mà khi sốt cao cộng với độc tính của vi rút cũng có thể kích thích co bóp tử cung gây nên hiện tượng sảy thai hoặc sinh sớm.
Qua điều tra trên 56 thai nhi bị dị hình thì có tới 10 thai nhi là do sản phụ đã từng mắc dịch cúm, thai nhi được khoảng 50 ngày tuổi. Do tính chất của dịch cúm là rất mạnh thông thường phải dùng các biện pháp hạ sốt, tiêm, dùng kháng sinh v.v... nên khi sử dụng bắt buộc phải tiến hành theo chỉ thị từ bác sỹ.
Các bà bầu bí cần chú ý đề phòng vi rút truyền nhiễm, nhất là vấn đề dinh dưỡng để tăng cường thể lực, tránh tiếp xúc với những người bệnh, khi có bệnh dịch thì không nên đến những nơi công cộng.
Khi mắc cúm rồi thì cần kịp thời có biện pháp khống chế bệnh dịch lây lan, loại trừ mầm bệnh đồng thời áp dụng các biện pháp hạ sốt thích hợp cho mình như: uống nhiều nước ấm, chú ý nghỉ ngơi, giữ ấm cho cơ thể, v.v...
Các biện pháp hạ sốt thông thường là dùng khăn lạnh hay chườm đá lên vùng trán v.v... không nên dùng thuốc uống hạ sốt để tránh ảnh hưởng đến sản phụ và thai nhi.
Một số trường hợp có thể căn cứ theo chỉ định của bác sỹ để dùng thuốc bắc điều trị. Thuốc bắc rất có hiệu quả trong việc điều trị cảm cúm mà độc tính lại thấp cho nên các lương y cho rằng việc sử dụng thuốc bắc để điều trị bệnh cảm cúm cho phụ nữ mang thai là biện pháp có thể áp dụng được
Theo afamily.com
Bà bầu lưu ý, mùa cúm thường bắt đầu vào tháng 10, tháng 11. Cách tốt nhất để có một thai kỳ khỏe mạnh là phòng ngừa và có hiểu biết đầy đủ về bệnh cúm.
Tại sao phụ nữ mang thai dễ bị cảm lạnh và cảm cúm?
Hệ thống miễn dịch suy giảm hơn khi phụ nữ bắt đầu mang thai khiến họ dễ bị nhiễm trùng, mắc ho, cảm lạnh và cúm.
Làm sao để giảm nguy cơ bị cảm lạnh hay cảm cúm khi mang thai?
Nghiên cứu cho thấy bệnh do virus như cúm và cảm lạnh ở phụ nữ mang thai thường cao gấp 3 lần. Vì vậy, để phòng ngừa bệnh cúm tốt nhất là chủng ngừa.
Mùa cúm th ường bắt đầu vào tháng 10, tháng 11 vì vậy nên tiêm phòng cúm trước đó 3 tháng và cũng trước thời điểm mang bầu 3 tháng.
Ngoài ra, để cơ thể tăng cường hệ miễn dịch bằng chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh.
Hãy ăn nhiều trái cây tươi và rau quả. Các loại vitamin trong trái cây và rau quả có chứa chất chống oxy hóa, chẳng hạn như vitamin C, giúp chống nhiễm trùng.
Trong giai đoạn bạn mang thai, bác sỹ cũng có thể kê các loại thuốc vitamin và khoáng chất bổ sung đặc biệt dành riêng cho bạn.
Cố gắng giảm thiểu căng thẳng, hệ thống miễn dịch cũng sẽ khoẻ hơn khi bạn không hút thuốc hoặc thụ động hít phải khói thuốc.
Các loại thuốc cần tránh sử dụng khi mang thai?
Bạn không bao giờ được tự ý mua thuốc điều trị ở các hiệu thuốc mà cần có sự tư vấn của bác sỹ về sự an toàn của sản phẩm. Nhiều loại thuốc không an toàn trong khi mang thai và có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi như gây dị tật.
Có nhiều loại thuốc kháng sinh an toàn cho thai nhi nhưng một số thì không. Hãy chắc chắn rằng bác sĩ của bạn biết bạn đang mang thai để kê đơn thuốc phù hợp nhất.
Các loại thuốc cần tránh:
Thuốc chống vi-rút như Tamiflu, Flumadine, Relenza, hoặc Symmetrel. Các thuốc này có thể gây ra các nguy cơ khuyết tật bẩm sinh.
Aspirin và ibuprofen. Aspirin có thể gây chảy máu thai nhi còn Ibuprofen chưa được nghiên cứu ở phụ nữ mang thai.
Tiêu đờm guaifenesin và ức chế ho dextromethorphan. Đây là những chất thường thấy trong xi-rô thuốc chống cúm, cảm lạnh và ho. Chúng có liên quan đến các biến chứng khi mang thai trong các nghiên cứu động vật.
Cách nào điều trị ho và cảm lạnh, cúm an toàn khi đang mang thai?
Đó là sử dụng nước muối pha loãng súc miệng và dùng nước muối biển vệ sinh mũi. Nếu sốt thì hạ sốt bằng biện pháp làm mát thông thường. Có chế độ nghỉ ngơi hợp lý và uống nhiều nước để chống cảm lạnh.
Có chế độ ăn uống cân bằng, bao gồm nhiều trái cây tươi và rau quả để cung cấp cho cơ thể các loại vitamin, khoáng chất, carbohydrate, protein và chất béo.
Nếu nghẹt mũi, hãy sử dụng biện pháp xông hơi như sau: Chùm một chiếc khăn lên đầu, đưa bát nước nóng thêm hai hoặc ba giọt tinh dầu bạch đàn, bạc hà và xông trong 15 phút, bạn sẽ thấy dễ thở hơn.
Nếu bạn có các triệu chứng của bệnh cúm, sốt, đau đầu, ớn lạnh, cơ thể đau nhức, mệt mỏi, chán ăn, háo nước, đặc biệt là nếu bạn bị sốt, để tránh mất nước, hãy uống các loại nước ép trái cây giàu vitamin C như nước cam để tăng cường sức đề kháng.
Một thức uống nước nóng với chanh và mật ong sẽ giúp làm dịu đau họng. Ăn các loại thức ăn bổ dưỡng để cơ thể không bị suy kiệt như súp gà, cháo gà ngải cứu, tía tô…
Theo Dân trí
Cảm cúm thông thường hay dịch cúm đều do sự truyền nhiễm qua đường hô hấp mà nên. Các biểu hiện của cảm cúm thông thường như nhức đầu, sổ mũi, ngạt mũi, đau họng, ho và đau người v.v... có thể xảy ra ở rất nhiều người. Những triệu chứng này ảnh hưởng không lớn đến thai nhi. Nhưng nếu nhiệt độ cơ thể cứ kéo dài ở 39 độ C thì phải thận trọng vì có thể nó sẽ gây dị hình ở thai nhi.
Dịch cảm cúm là do các vi rút gây bệnh từ nước bọt, mũi và đờm của người bệnh thông qua không khí truyền sang người bình thường, tính lan truyền của nó rất mạnh gây nên bệnh dịch.
Người mắc vi rút truyền nhiễm thường có các biểu hiện như: lúc nóng, lúc lạnh, sốt tương đối cao, đau đầu, toàn thân nhức mỏi, thường thì sau khi hạ sốt sẽ có các triệu chứng như là ngạt mũi, chảy nước mũi, đau họng v.v... khiến cho thể lực của người bệnh tiêu hao lớn và hồi phục chậm.
Vi rút của dịch cúm không chỉ khiến thai nhi bị dị hình, mà khi sốt cao cộng với độc tính của vi rút cũng có thể kích thích co bóp tử cung gây nên hiện tượng sảy thai hoặc sinh sớm.
Qua điều tra trên 56 thai nhi bị dị hình thì có tới 10 thai nhi là do sản phụ đã từng mắc dịch cúm, thai nhi được khoảng 50 ngày tuổi. Do tính chất của dịch cúm là rất mạnh thông thường phải dùng các biện pháp hạ sốt, tiêm, dùng kháng sinh v.v... nên khi sử dụng bắt buộc phải tiến hành theo chỉ thị từ bác sỹ.
Các bà bầu bí cần chú ý đề phòng vi rút truyền nhiễm, nhất là vấn đề dinh dưỡng để tăng cường thể lực, tránh tiếp xúc với những người bệnh, khi có bệnh dịch thì không nên đến những nơi công cộng.
Khi mắc cúm rồi thì cần kịp thời có biện pháp khống chế bệnh dịch lây lan, loại trừ mầm bệnh đồng thời áp dụng các biện pháp hạ sốt thích hợp cho mình như: uống nhiều nước ấm, chú ý nghỉ ngơi, giữ ấm cho cơ thể, v.v...
Các biện pháp hạ sốt thông thường là dùng khăn lạnh hay chườm đá lên vùng trán v.v... không nên dùng thuốc uống hạ sốt để tránh ảnh hưởng đến sản phụ và thai nhi.
Một số trường hợp có thể căn cứ theo chỉ định của bác sỹ để dùng thuốc bắc điều trị. Thuốc bắc rất có hiệu quả trong việc điều trị cảm cúm mà độc tính lại thấp cho nên các lương y cho rằng việc sử dụng thuốc bắc để điều trị bệnh cảm cúm cho phụ nữ mang thai là biện pháp có thể áp dụng được
Theo afamily.com
Khi bà bầu bị cúm…
Bà bầu lưu ý, mùa cúm thường bắt đầu vào tháng 10, tháng 11. Cách tốt nhất để có một thai kỳ khỏe mạnh là phòng ngừa và có hiểu biết đầy đủ về bệnh cúm.
Tại sao phụ nữ mang thai dễ bị cảm lạnh và cảm cúm?
Hệ thống miễn dịch suy giảm hơn khi phụ nữ bắt đầu mang thai khiến họ dễ bị nhiễm trùng, mắc ho, cảm lạnh và cúm.
Làm sao để giảm nguy cơ bị cảm lạnh hay cảm cúm khi mang thai?
Nghiên cứu cho thấy bệnh do virus như cúm và cảm lạnh ở phụ nữ mang thai thường cao gấp 3 lần. Vì vậy, để phòng ngừa bệnh cúm tốt nhất là chủng ngừa.
Mùa cúm th ường bắt đầu vào tháng 10, tháng 11 vì vậy nên tiêm phòng cúm trước đó 3 tháng và cũng trước thời điểm mang bầu 3 tháng.
Ngoài ra, để cơ thể tăng cường hệ miễn dịch bằng chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh.
Hãy ăn nhiều trái cây tươi và rau quả. Các loại vitamin trong trái cây và rau quả có chứa chất chống oxy hóa, chẳng hạn như vitamin C, giúp chống nhiễm trùng.
Trong giai đoạn bạn mang thai, bác sỹ cũng có thể kê các loại thuốc vitamin và khoáng chất bổ sung đặc biệt dành riêng cho bạn.
Cố gắng giảm thiểu căng thẳng, hệ thống miễn dịch cũng sẽ khoẻ hơn khi bạn không hút thuốc hoặc thụ động hít phải khói thuốc.
Các loại thuốc cần tránh sử dụng khi mang thai?
Bạn không bao giờ được tự ý mua thuốc điều trị ở các hiệu thuốc mà cần có sự tư vấn của bác sỹ về sự an toàn của sản phẩm. Nhiều loại thuốc không an toàn trong khi mang thai và có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi như gây dị tật.
Có nhiều loại thuốc kháng sinh an toàn cho thai nhi nhưng một số thì không. Hãy chắc chắn rằng bác sĩ của bạn biết bạn đang mang thai để kê đơn thuốc phù hợp nhất.
Các loại thuốc cần tránh:
Thuốc chống vi-rút như Tamiflu, Flumadine, Relenza, hoặc Symmetrel. Các thuốc này có thể gây ra các nguy cơ khuyết tật bẩm sinh.
Aspirin và ibuprofen. Aspirin có thể gây chảy máu thai nhi còn Ibuprofen chưa được nghiên cứu ở phụ nữ mang thai.
Tiêu đờm guaifenesin và ức chế ho dextromethorphan. Đây là những chất thường thấy trong xi-rô thuốc chống cúm, cảm lạnh và ho. Chúng có liên quan đến các biến chứng khi mang thai trong các nghiên cứu động vật.
Cách nào điều trị ho và cảm lạnh, cúm an toàn khi đang mang thai?
Đó là sử dụng nước muối pha loãng súc miệng và dùng nước muối biển vệ sinh mũi. Nếu sốt thì hạ sốt bằng biện pháp làm mát thông thường. Có chế độ nghỉ ngơi hợp lý và uống nhiều nước để chống cảm lạnh.
Có chế độ ăn uống cân bằng, bao gồm nhiều trái cây tươi và rau quả để cung cấp cho cơ thể các loại vitamin, khoáng chất, carbohydrate, protein và chất béo.
Nếu nghẹt mũi, hãy sử dụng biện pháp xông hơi như sau: Chùm một chiếc khăn lên đầu, đưa bát nước nóng thêm hai hoặc ba giọt tinh dầu bạch đàn, bạc hà và xông trong 15 phút, bạn sẽ thấy dễ thở hơn.
Nếu bạn có các triệu chứng của bệnh cúm, sốt, đau đầu, ớn lạnh, cơ thể đau nhức, mệt mỏi, chán ăn, háo nước, đặc biệt là nếu bạn bị sốt, để tránh mất nước, hãy uống các loại nước ép trái cây giàu vitamin C như nước cam để tăng cường sức đề kháng.
Một thức uống nước nóng với chanh và mật ong sẽ giúp làm dịu đau họng. Ăn các loại thức ăn bổ dưỡng để cơ thể không bị suy kiệt như súp gà, cháo gà ngải cứu, tía tô…
Theo Dân trí
Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2011
10 loại quả cực mát cho mùa hè
Trong mùa nóng cần tránh các loại quả chín quá ngọt, chứa nhiều đường vì dễ sinh nhiệt cho cơ thể từ bên trong. Các loại trái cây thích hợp dùng cho mùa hè nóng nực gồm:
1. Dưa hấu có chứa nhiều chất chống oxy hóa trong thiên nhiên, là một nguồn vitamin C và A. Dưa hấu đỏ chứa rất nhiều beta-carotene và licopene. Đây là những chất có tác dụng trung hòa các gốc tự do gây tổn thương cho cơ thể và nguy hiểm nhất là các tế bào gây ung thư.
2. Dưa gang có thể phòng ngừa được cảm nắng. Theo kết quả nghiên cứu, trong dưa gang có một số vitamin và các khoáng chất có lợi cho cơ thể. Quả chín có thể ăn không hoặc ăn với ít đường, quả xanh nấu canh tôm hoặc tép ăn mát. Tuy nhiên ăn nhiều dưa gang sống dễ bị đau bụng, người mới khỏi bệnh và tạng hàn nên kiêng ăn.
3. Măng cụt chứa nhiều hợp chất xanthone có tác dụng như những kháng thể thiên nhiên giúp tăng cường sinh lực, chống mệt mỏi, chống béo phì, ngăn ngừa các bệnh tim mạch, cải thiện hệ tuần hoàn và tiêu hóa, bồi dưỡng cơ thể và chống lão hóa, làm tăng trí nhớ và tuổi thọ.
4. Chanh có hàm lượng vitamin C cao và chứa nhiều axit hữu cơ giúp giải khát rất tốt. Ngoài ra còn nhiều dưỡng chất khác và khoáng tố, đặc biệt là sélénium nên chanh rất tốt cho sự cân bằng chế độ ăn. Tuy nhiên những người có bệnh dạ dày không nên dùng.
5. Chanh dây vị ngọt, chứa các loại axit hữu cơ, chủ yếu là axit citric (3,9 gam/100 gam, ít chua hơn chanh). Ngoài ra, trong chanh dây còn có các chất khoáng và chất vi lượng như sắt, phôtpho, kẽm, manhê..., nhiều loại vitamin, đặc biệt là vitamin C.
6. Quýt, cam, bưởi cũng có hàm lượng vitamin C cao, đặc biệt là các loại quả này, nhất là bưởi, do có nhiều múi xơ còn có tính năng làm tan mỡ nên rất được phụ nữ ưa chuộng.
7. Dứa cũng chứa nhiều vitamin C, khoáng chất và vi lượng, nhưng đặc biệt hơn là điều tiết ra bromélin, một enzym có khả năng làm mềm và khiến protein dễ tiêu hóa.
8. Khế có vị chua ngọt, tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu, được dùng để trừ nhiệt độc trong cơ thể, chữa cảm cúm, sốt, nhức đầu, sổ mũi, ho, viêm họng. Mỗi ngày khoảng 100-120 gam khế tươi ép lấy dịch chiết uống.
9. Nho cũng chứa nhiều axit hữu cơ giúp giải nhiệt tốt. Đặc biệt trong quả nho chứa các hợp chất như resveratrol (cấu trúc polyphenol có tác dụng chống oxy hóa tế bào) có liên quan đến việc phòng chống bệnh ung thư, bệnh tim mạch và thần kinh.
10. Thanh long có chứa nhiều chất dinh dưỡng và vi lượng giúp gia tăng sự chuyển hóa các chất trong cơ thể, tăng cường thải độc, cải thiện làn da giúp da mịn màng. Nhờ có chứa nhiều chất xơ và hàm lượng đường thấp, thanh long còn giúp chữa bệnh tiểu đường và béo phì.
DS LÊ KIM PHỤNG
Theo Tuổi trẻ
1. Dưa hấu có chứa nhiều chất chống oxy hóa trong thiên nhiên, là một nguồn vitamin C và A. Dưa hấu đỏ chứa rất nhiều beta-carotene và licopene. Đây là những chất có tác dụng trung hòa các gốc tự do gây tổn thương cho cơ thể và nguy hiểm nhất là các tế bào gây ung thư.
2. Dưa gang có thể phòng ngừa được cảm nắng. Theo kết quả nghiên cứu, trong dưa gang có một số vitamin và các khoáng chất có lợi cho cơ thể. Quả chín có thể ăn không hoặc ăn với ít đường, quả xanh nấu canh tôm hoặc tép ăn mát. Tuy nhiên ăn nhiều dưa gang sống dễ bị đau bụng, người mới khỏi bệnh và tạng hàn nên kiêng ăn.
3. Măng cụt chứa nhiều hợp chất xanthone có tác dụng như những kháng thể thiên nhiên giúp tăng cường sinh lực, chống mệt mỏi, chống béo phì, ngăn ngừa các bệnh tim mạch, cải thiện hệ tuần hoàn và tiêu hóa, bồi dưỡng cơ thể và chống lão hóa, làm tăng trí nhớ và tuổi thọ.
4. Chanh có hàm lượng vitamin C cao và chứa nhiều axit hữu cơ giúp giải khát rất tốt. Ngoài ra còn nhiều dưỡng chất khác và khoáng tố, đặc biệt là sélénium nên chanh rất tốt cho sự cân bằng chế độ ăn. Tuy nhiên những người có bệnh dạ dày không nên dùng.
5. Chanh dây vị ngọt, chứa các loại axit hữu cơ, chủ yếu là axit citric (3,9 gam/100 gam, ít chua hơn chanh). Ngoài ra, trong chanh dây còn có các chất khoáng và chất vi lượng như sắt, phôtpho, kẽm, manhê..., nhiều loại vitamin, đặc biệt là vitamin C.
6. Quýt, cam, bưởi cũng có hàm lượng vitamin C cao, đặc biệt là các loại quả này, nhất là bưởi, do có nhiều múi xơ còn có tính năng làm tan mỡ nên rất được phụ nữ ưa chuộng.
7. Dứa cũng chứa nhiều vitamin C, khoáng chất và vi lượng, nhưng đặc biệt hơn là điều tiết ra bromélin, một enzym có khả năng làm mềm và khiến protein dễ tiêu hóa.
8. Khế có vị chua ngọt, tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu, được dùng để trừ nhiệt độc trong cơ thể, chữa cảm cúm, sốt, nhức đầu, sổ mũi, ho, viêm họng. Mỗi ngày khoảng 100-120 gam khế tươi ép lấy dịch chiết uống.
9. Nho cũng chứa nhiều axit hữu cơ giúp giải nhiệt tốt. Đặc biệt trong quả nho chứa các hợp chất như resveratrol (cấu trúc polyphenol có tác dụng chống oxy hóa tế bào) có liên quan đến việc phòng chống bệnh ung thư, bệnh tim mạch và thần kinh.
10. Thanh long có chứa nhiều chất dinh dưỡng và vi lượng giúp gia tăng sự chuyển hóa các chất trong cơ thể, tăng cường thải độc, cải thiện làn da giúp da mịn màng. Nhờ có chứa nhiều chất xơ và hàm lượng đường thấp, thanh long còn giúp chữa bệnh tiểu đường và béo phì.
DS LÊ KIM PHỤNG
Theo Tuổi trẻ
Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2011
7 mẹo "xoá sổ" ốm nghén khi mang thai
Bị ốm nghén là nỗi sợ hãi của những phụ nữ mang thai. Làm thế nào để loại bỏ cơn ốm nghén, giúp cho những ngày mang bầu của bạn dễ chịu hơn.
1. Ăn bánh mì hoặc bánh quy trước khi ra khỏi giường. Hãy để một ít ở đầu giường để khi thức dậy, bạn có thể với tay cho vào miệng.
2. Không nên nhảy xuống giường mà hãy bước xuống một cách từ từ. Như thế, bạn sẽ tránh được nguy cơ bị ốm nghén trong lúc mang thai.
3. Một cách khác để hạn chế ốm nghén là ăn sữa chua, pho mát làm từ sữa đã gạn kem, uống nước quả hoặc sữa trước khi thức dậy hoặc di ngủ.
4. Ăn vài bữa nhỏ trong ngày. Đừng để bụng đói quá lâu trong ngày. Bụng đói sẽ càng khiến bạn dễ bị nghén hơn.
5. Kẹo giảm ốm nghén Preggie Pops hoặc Preggie Drops. Những viên kẹo tự nhiên này sử dụng gừng và nhiều loại thảo mộc để giảm buồn nôn khi thai nghén cũng như chứng khô miệng.
6. Vòng đeo giảm ốm nghén Sea bands: Những vòng đeo tay này có tác dụng hạn chế buồn nôn và nôn mửa.
7. Kẹo bạc hà: Vị bạc hà sẽ xoa dịu cơn đau bụng và giúp giảm bớt cơn nghén. Vì thế, hãy thường xuyên mang theo kẹo trong túi nhé.
Nguồn: http://afamily.vn/suc-khoe/20110413010656848/7-meo-xoa-so-om-nghen-khi-mang-thai/
1. Ăn bánh mì hoặc bánh quy trước khi ra khỏi giường. Hãy để một ít ở đầu giường để khi thức dậy, bạn có thể với tay cho vào miệng.
2. Không nên nhảy xuống giường mà hãy bước xuống một cách từ từ. Như thế, bạn sẽ tránh được nguy cơ bị ốm nghén trong lúc mang thai.
3. Một cách khác để hạn chế ốm nghén là ăn sữa chua, pho mát làm từ sữa đã gạn kem, uống nước quả hoặc sữa trước khi thức dậy hoặc di ngủ.
4. Ăn vài bữa nhỏ trong ngày. Đừng để bụng đói quá lâu trong ngày. Bụng đói sẽ càng khiến bạn dễ bị nghén hơn.
5. Kẹo giảm ốm nghén Preggie Pops hoặc Preggie Drops. Những viên kẹo tự nhiên này sử dụng gừng và nhiều loại thảo mộc để giảm buồn nôn khi thai nghén cũng như chứng khô miệng.
6. Vòng đeo giảm ốm nghén Sea bands: Những vòng đeo tay này có tác dụng hạn chế buồn nôn và nôn mửa.
7. Kẹo bạc hà: Vị bạc hà sẽ xoa dịu cơn đau bụng và giúp giảm bớt cơn nghén. Vì thế, hãy thường xuyên mang theo kẹo trong túi nhé.
Nguồn: http://afamily.vn/suc-khoe/20110413010656848/7-meo-xoa-so-om-nghen-khi-mang-thai/
Thứ Năm, 14 tháng 4, 2011
Những cây cảnh trong nhà có tác dụng chữa bệnh
Lá cây sống đời giúp cầm máu; lô hội trị vết bỏng loét; lá bàng chữa cảm sốt, giúp ra mồ hôi, giảm tê thấp và lỵ… Các loại cây này được nhà khoa học khuyên nên trồng ở tư gia vừa làm cảnh vừa chữa bệnh rất hiệu quả.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Thị Đẹp, Trưởng bộ môn Thực vật, Khoa Dược, Đại học Y Dược TP HCM cho biết, khi bị bỏng hoặc đứt tay mà trong nhà không có thuốc cầm máu, có thể dùng lá cây sống đời giã nát rồi đắp lên vết thương, cầm máu rất tốt.
Dưới đây là 16 loại cây cảnh dược lành tính có thể trồng trong nhà: Sống đời, Đinh hương, Lô hội, Nguyệt quế, Đinh lăng, Ớt, Hoa hồng, Hòe, Chanh leo, Ngọc lan, Bàng, Thiên lý, Mẫu đơn, Tầm xuân, Thược dược, Ngưu bàng
Ngoan Ngoan
Nguồn: http://vnexpress.net/gl/doi-song/2010/07/3ba1db93/
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Thị Đẹp, Trưởng bộ môn Thực vật, Khoa Dược, Đại học Y Dược TP HCM cho biết, khi bị bỏng hoặc đứt tay mà trong nhà không có thuốc cầm máu, có thể dùng lá cây sống đời giã nát rồi đắp lên vết thương, cầm máu rất tốt.
Dưới đây là 16 loại cây cảnh dược lành tính có thể trồng trong nhà: Sống đời, Đinh hương, Lô hội, Nguyệt quế, Đinh lăng, Ớt, Hoa hồng, Hòe, Chanh leo, Ngọc lan, Bàng, Thiên lý, Mẫu đơn, Tầm xuân, Thược dược, Ngưu bàng
Ngoan Ngoan
Nguồn: http://vnexpress.net/gl/doi-song/2010/07/3ba1db93/
Uống trà gừng có lợi cho sức khỏe
Bác sĩ Vu Kháng của Khoa Dinh dưỡng, bệnh viện Hợp Hòa, Bắc Kinh cho biết: uống trà gừng là một biện pháp chống lạnh và phòng chống cảm cúm phổ biến trong dân gian. Thực ra trà gừng không chỉ có những tác dụng đó. Vừa bước vào mùa đông, những người bị cao huyết áp, do người khó chịu, huyết áp dễ tăng lên, khi huyết áp tăng lên, có thể ngân châm vào chậu nước gừng nóng khoảng 15 phút, có thể giúp cho sự tuần hoàn của máu, có lợi cho việc kiểm soát huyết áp. Ngâm chân bằng nước gừng không những đỡ lạnh, xúc tiến sự tuần hoàn của máu, mà đối với những người chân ra nhiều mồ hôi cũng rất tốt. Khi ngâm chân cho ít muối và dấm, ngâm xong lau khô chân, bôi ít phấm rôm sẽ không có mùi hôi.
Ngoài cảm cúm, đau họng cũng là loại bệnh mà chúng ta thường mắc phải trong mùa đông, nếu như chúng ta cho it́ muối vào nước gừng uống mỗi ngày 2-3 lần như uống nước trà, và uống thường xuyên có thể tiêu đờm. Đối với những người bị suy nhược thần kinh, Trung y cho rằng, mỗi ngày vào buổi tối và buổi sáng trước khi ăn cơm uống một bát nước gừng nóng, đồng thời kiên trì uống một thời gian sẽ có tác dụng bổ khí, tỉnh táo, cải thiện cho giấc ngủ. Những người bị loét miệng, nếu như kiên trì mỗi ngày lấy nước gừng nóng xúc miệng 2-3 lần sẽ lành được được chỗ bị loét.
Bước vào mùa đông có rất nhiều người bị viêm đường hô hấp. Muốn phòng chống và điều trị bệnh viêm đường hô hấp nên chú ý những điểm sau đây:
Thứ nhất là phải tránh không bị lạnh. Vì khi chúng ta bị lạnh, mạnh máu trong đường hô hấp bị co lại, việc cung cấp máu sẽ giảm đi, sức đề kháng của một bộ phận nào đó trong cơ thể sẽ hạ xuống, khiến cho vi trùng dễ xâm nhập vào cơ thể.
Hai là phải bảo đảm cho không khí trong nhà lưu thông, bởi vì, không khí trong lành có thể khiến cho trong nhà đỡ ẩm và làm loãng sự ô nhiễm trong phòng. Nên định giờ mở cửa cho không khí lưu thông; Cho ánh nắng chiếu vào trong nhà, bởi vì tia tử ngoại trong ánh nắng có tác dụng diệt trùng; Bạn cũng có thể đun nóng dấm ăn, rồi để trong phòng cho bốc hơi, cũng đạt được hiệu quả diệt trùng.
Ba là bổ xung dinh dưỡng. Nên uống nhiều nước và bổ xung một lượng Vitamin thích hợp, chú ý bổ xung những lọai thức ăn giàu dinh dưỡng như: cá, thịt, trứng, sữa v.v để tăng cường sức đề kháng; Ăn nhiều những loại rau xanh và hoa quả giàu chất Vitamin có thể bão hòa được những độc chất trong cơ thể, nâng cao sức đề kháng. Mùa đông khí hậu khô hanh, trong khí bụi bặm nhiều, làm ảnh hưởng đến niêm mạc của mũi, nên uống nhiều nước, để giữ độ ẩm cho niêm mạc mũi, tránh sự xâm nhập của vi trùng, mà còn có lợi cho việc thở ra những độc chất trong cơ thể.
Bốn là chú ý quy luật trong sinh hoạt. Phải ngủ cho đủ giấc. Sinh hoạt không có quy luật, sẽ làm giảm sức đề kháng. Ngủ đủ giấc làm có thể làm tiêu tan sự mệt nhọc, điều tiết các chức năng trong cơ thể, tăng cường sức đề kháng.
Năm là tăng cường rèn luyện sức khỏe. Rèn luyện có thể tăng cường sự tuần hoàn của máu, nâng cao sức đề kháng. Nhưng trong những ngày có sương mù không nên rèn luyện sức khỏe ở ngoài trời, bởi vì trong sương mù không những có nhiều chất độc hại, mà hơi nước nhiều sẽ ảnh hưởng đến sự trao đổi không khí của phổi.
Sáu là phải giữ gìn vệ sinh, và bảo vệ sức khỏe. Phải thường xuyên rửa tay, xúc miệng, khi tay bẩn không nên xoa lên mặt, mắt, mồm v.v, Khi đi ra ngoài nên đến những nơi không khí lưu thông, không nên đến những nơi công cộng đông người.
Theo CRI, 20/9/2010
Ngoài cảm cúm, đau họng cũng là loại bệnh mà chúng ta thường mắc phải trong mùa đông, nếu như chúng ta cho it́ muối vào nước gừng uống mỗi ngày 2-3 lần như uống nước trà, và uống thường xuyên có thể tiêu đờm. Đối với những người bị suy nhược thần kinh, Trung y cho rằng, mỗi ngày vào buổi tối và buổi sáng trước khi ăn cơm uống một bát nước gừng nóng, đồng thời kiên trì uống một thời gian sẽ có tác dụng bổ khí, tỉnh táo, cải thiện cho giấc ngủ. Những người bị loét miệng, nếu như kiên trì mỗi ngày lấy nước gừng nóng xúc miệng 2-3 lần sẽ lành được được chỗ bị loét.
Bước vào mùa đông có rất nhiều người bị viêm đường hô hấp. Muốn phòng chống và điều trị bệnh viêm đường hô hấp nên chú ý những điểm sau đây:
Thứ nhất là phải tránh không bị lạnh. Vì khi chúng ta bị lạnh, mạnh máu trong đường hô hấp bị co lại, việc cung cấp máu sẽ giảm đi, sức đề kháng của một bộ phận nào đó trong cơ thể sẽ hạ xuống, khiến cho vi trùng dễ xâm nhập vào cơ thể.
Hai là phải bảo đảm cho không khí trong nhà lưu thông, bởi vì, không khí trong lành có thể khiến cho trong nhà đỡ ẩm và làm loãng sự ô nhiễm trong phòng. Nên định giờ mở cửa cho không khí lưu thông; Cho ánh nắng chiếu vào trong nhà, bởi vì tia tử ngoại trong ánh nắng có tác dụng diệt trùng; Bạn cũng có thể đun nóng dấm ăn, rồi để trong phòng cho bốc hơi, cũng đạt được hiệu quả diệt trùng.
Ba là bổ xung dinh dưỡng. Nên uống nhiều nước và bổ xung một lượng Vitamin thích hợp, chú ý bổ xung những lọai thức ăn giàu dinh dưỡng như: cá, thịt, trứng, sữa v.v để tăng cường sức đề kháng; Ăn nhiều những loại rau xanh và hoa quả giàu chất Vitamin có thể bão hòa được những độc chất trong cơ thể, nâng cao sức đề kháng. Mùa đông khí hậu khô hanh, trong khí bụi bặm nhiều, làm ảnh hưởng đến niêm mạc của mũi, nên uống nhiều nước, để giữ độ ẩm cho niêm mạc mũi, tránh sự xâm nhập của vi trùng, mà còn có lợi cho việc thở ra những độc chất trong cơ thể.
Bốn là chú ý quy luật trong sinh hoạt. Phải ngủ cho đủ giấc. Sinh hoạt không có quy luật, sẽ làm giảm sức đề kháng. Ngủ đủ giấc làm có thể làm tiêu tan sự mệt nhọc, điều tiết các chức năng trong cơ thể, tăng cường sức đề kháng.
Năm là tăng cường rèn luyện sức khỏe. Rèn luyện có thể tăng cường sự tuần hoàn của máu, nâng cao sức đề kháng. Nhưng trong những ngày có sương mù không nên rèn luyện sức khỏe ở ngoài trời, bởi vì trong sương mù không những có nhiều chất độc hại, mà hơi nước nhiều sẽ ảnh hưởng đến sự trao đổi không khí của phổi.
Sáu là phải giữ gìn vệ sinh, và bảo vệ sức khỏe. Phải thường xuyên rửa tay, xúc miệng, khi tay bẩn không nên xoa lên mặt, mắt, mồm v.v, Khi đi ra ngoài nên đến những nơi không khí lưu thông, không nên đến những nơi công cộng đông người.
Theo CRI, 20/9/2010
Mỗi ngày chỉ nên ăn 1 gam muối
Hàng ngày, chúng ta chỉ cần ăn 1 gam muối là có thể đáp ứng đủ nhu cầu của cơ thể, nhưng lượng tiêu hao muối bình quân đầu người ở nhiều nước lại cao hơn 5 đến 10 lần con số nói trên.
Muối khá có ích đối với sức khoẻ của chúng ta, nhưng tác hại của muối gây ra cho sức khoẻ con người lại nhiều hơn lợi. Ăn nhiều muối sẽ dẫn đến rất nhiều bệnh, gây nên vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng.
Hiện nay, trên thế giới có một số người ăn ít muối, ví dụ như người In-đi-an ở Nam Mỹ. Họ hầu như không ăn muối, và ăn rất nhiều hoa quả và rau xanh, thường xuyên tập thể dục. Huyết áp của họ cơ bản không tăng lên theo độ tuổi, cũng không mắc bệnh tim mạch.
Lượng muối ăn và huyết áp của người bình thường cũng tăng lên theo độ tuổi. Muối bắt đầu ảnh hưởng tới huyết áp chúng ta từ thời niên thiếu. Cuộc điều tra về dinh dưỡng thức ăn nhà nước Anh đã tiến hành bốc thăm điều tra trên toàn quốc đối với trẻ em từ 4 đến 18 tuổi. Nghiên cứu cho thấy, muối bắt đầu ảnh hưởng tới huyết áp của trẻ từ khi còn rất nhỏ. Muối không những có ảnh hưởng đối với những người mắc bệnh cao huyết áp, mà còn có ảnh hưởng tới cả những người huyết áp bình thường.
Còn có rất nhiều nghiên cứu về sự ảnh hưởng của muối đối với huyết áp của người thành niên. Kết quả của 28 thí nghiệm lâm sàng chứng tỏ, nếu lượng muối ăn bình quân của một người giảm 3 gam/ngày, thì rủi ro bị đột qụy giảm 15%, rủi ro bị mắc bệnh tim mạch vành giảm 9%. Cùng với thời gian, hiệu quả này sẽ ngày càng rõ rệt.
Theo CRI, 30/3/2011
Muối khá có ích đối với sức khoẻ của chúng ta, nhưng tác hại của muối gây ra cho sức khoẻ con người lại nhiều hơn lợi. Ăn nhiều muối sẽ dẫn đến rất nhiều bệnh, gây nên vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng.
Hiện nay, trên thế giới có một số người ăn ít muối, ví dụ như người In-đi-an ở Nam Mỹ. Họ hầu như không ăn muối, và ăn rất nhiều hoa quả và rau xanh, thường xuyên tập thể dục. Huyết áp của họ cơ bản không tăng lên theo độ tuổi, cũng không mắc bệnh tim mạch.
Lượng muối ăn và huyết áp của người bình thường cũng tăng lên theo độ tuổi. Muối bắt đầu ảnh hưởng tới huyết áp chúng ta từ thời niên thiếu. Cuộc điều tra về dinh dưỡng thức ăn nhà nước Anh đã tiến hành bốc thăm điều tra trên toàn quốc đối với trẻ em từ 4 đến 18 tuổi. Nghiên cứu cho thấy, muối bắt đầu ảnh hưởng tới huyết áp của trẻ từ khi còn rất nhỏ. Muối không những có ảnh hưởng đối với những người mắc bệnh cao huyết áp, mà còn có ảnh hưởng tới cả những người huyết áp bình thường.
Còn có rất nhiều nghiên cứu về sự ảnh hưởng của muối đối với huyết áp của người thành niên. Kết quả của 28 thí nghiệm lâm sàng chứng tỏ, nếu lượng muối ăn bình quân của một người giảm 3 gam/ngày, thì rủi ro bị đột qụy giảm 15%, rủi ro bị mắc bệnh tim mạch vành giảm 9%. Cùng với thời gian, hiệu quả này sẽ ngày càng rõ rệt.
Theo CRI, 30/3/2011
Những loại thực phẩm tuyệt vời giúp bạn giảm cân
(Xinh xinh) - Hãy tham khảo những thông tin dưới đây của Xinh xinh để có chế độ ăn hợp lý với những loại thực phẩm có thể giúp bạn giảm cân nhé.
Sữa ít béo
Tăng cường cho chế độ ăn uống của bạn bằng cách uống thêm một cốc sữa ít béo mỗi ngày, vì nó rất giàu canxi. Canxi đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh và chuyển hóa chất béo. Người ta cho rằng canxi sẽ giúp bạn cân bằng các tế bào chất béo trong cơ thể và giúp cơ thể bạn cân đối, hài hòa hơn.
Ớt bột
Với món thịt nạc rắc ớt bột nóng, giúp bạn tăng gấp đôi nỗ lực giảm cân của mình. Lượng protein có trong thịt nạc có tác dụng giúp bạn ngon miệng và cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết, trong khi đó, ớt có thể làm tăng sự trao đổi chất cho cơ thể bạn. Bạn cần ăn đủ lượng ớt khiến bạn có thể đổ mồ hôi, sẽ có tác dụng tốt hơn.
Cá hồi hun khói
Cá hồi cung cấp chất béo omega-3, có thể điều tiết lượng đường trong máu, giúp bạn nhanh đói. Các chất béo omega-3 giúp tăng tỷ lệ trao đổi chất của chúng ta, do đó đốt cháy nhiều calo hơn.
Ngũ cốc ăn sáng nhiều đường
Ngũ cốc nhiều đường không có nhiều calo hơn các loại không có đường (điều này là bởi vì carbohydrate phức tạp và đường đều chứa cùng một lượng calo), và có cùng lượng vitamin và khoáng chất. Hơn nữa, việc ăn cái gì đó ngọt ngào sẽ giúp bạn có một chế độ ăn uống lành mạnh, bởi vì bạn sẽ no lâu và không bị chán. Bạn có thể bổ sung sữa chua và trái cây để làm thỏa mãn sự thèm ngọt của bạn nếu bạn không thường xuyên bổ xung ngũ cốc có đường.
Kẹo cao su không đường
Các nhà nghiên cứu đã ước tính rằng nhai kẹo cao su không đường mỗi ngày có thể được coi như việc bạn đang hoạt động, đủ để đốt cháy 1 kg trong vòng một năm. Và chúng ta không nên quên rằng, trong khi bạn đang nhai kẹo cao su bạn không thể ăn bất cứ thứ gì khác, điều này thật tốt biết bao!
Bánh quy bơ
Thay vì mua hai gói bánh bích-quy giá rẻ, bạn hãy mua một gói chất lượng tốt hơn, ví dụ, bánh quy bơ. Mùi vị của nó sẽ tốt hơn, có nghĩa là bạn sẽ chỉ cần ăn một lượng nhỏ cũng đã cảm thấy no. Điều này cũng giúp bạn giảm cân đấy nhé.
Khoai tây luộc
Món khoai tây luộc có thể không ngon như bánh mỳ hay những món ngũ cốc hấp dẫn khác. Nhưng nó sẽ giúp bạn no mà không bị béo.
Bơ đậu phộng
Đậu phộng có tác dụng tương tự như quả hạch . Món bơ đậu phộng có chỉ số glycemic thấp hoàn hảo cho việc ăn nhẹ, nó sẽ giúp bạn giữ lượng đường trong máu ổn định và kiểm soát sự đói. Tất nhiên, bạn cũng không nên ăn quá nhiều bơ đậu phộng trong một ngày.
Rượu
Theo thống kê, những phụ nữ uống một lượng rượu vừa phải sẽ gầy hơn những phụ nữ không uống gì cả. Tuy nhiên, điều quan trọng là lượng rượu bạn uống, bạn chỉ nên uống một hoặc hai ly nhỏ mỗi ngày.
Tôm
Victoria Beckham được cho là người ăn nhiều tôm nhất trong chế độ ăn của cô ấy, và hẳn là không khó để bạn hiểu tại sao lại thế. Tôm chứa protein rất tốt cho cơ thể, có thể kiểm soát sự thèm ăn của bạn, trong khi chỉ chứa 54 calo và 0.5g chất béo trong 75g tôm mà bạn ăn.
Thịt đỏ
Không nên tránh xa thịt đỏ bởi vì bạn đang theo dõi trọng lượng của bạn, nó sẽ giúp bạn kiểm soát sự đói, nó cũng giúp bạn hạn chế một phần dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của bạn, và nó còn có ít chất béo hơn cả phô mai.
Nam Anh
Nguồn: http://www.baomoi.com/Home/LamDep/xinhxinh.com.vn/Nhung-loai-thuc-pham-tuyet-voi-giup-ban-giam-can/6064500.epi
Sữa ít béo
Tăng cường cho chế độ ăn uống của bạn bằng cách uống thêm một cốc sữa ít béo mỗi ngày, vì nó rất giàu canxi. Canxi đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh và chuyển hóa chất béo. Người ta cho rằng canxi sẽ giúp bạn cân bằng các tế bào chất béo trong cơ thể và giúp cơ thể bạn cân đối, hài hòa hơn.
Ớt bột
Với món thịt nạc rắc ớt bột nóng, giúp bạn tăng gấp đôi nỗ lực giảm cân của mình. Lượng protein có trong thịt nạc có tác dụng giúp bạn ngon miệng và cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết, trong khi đó, ớt có thể làm tăng sự trao đổi chất cho cơ thể bạn. Bạn cần ăn đủ lượng ớt khiến bạn có thể đổ mồ hôi, sẽ có tác dụng tốt hơn.
Cá hồi hun khói
Cá hồi cung cấp chất béo omega-3, có thể điều tiết lượng đường trong máu, giúp bạn nhanh đói. Các chất béo omega-3 giúp tăng tỷ lệ trao đổi chất của chúng ta, do đó đốt cháy nhiều calo hơn.
Ngũ cốc ăn sáng nhiều đường
Ngũ cốc nhiều đường không có nhiều calo hơn các loại không có đường (điều này là bởi vì carbohydrate phức tạp và đường đều chứa cùng một lượng calo), và có cùng lượng vitamin và khoáng chất. Hơn nữa, việc ăn cái gì đó ngọt ngào sẽ giúp bạn có một chế độ ăn uống lành mạnh, bởi vì bạn sẽ no lâu và không bị chán. Bạn có thể bổ sung sữa chua và trái cây để làm thỏa mãn sự thèm ngọt của bạn nếu bạn không thường xuyên bổ xung ngũ cốc có đường.
Kẹo cao su không đường
Các nhà nghiên cứu đã ước tính rằng nhai kẹo cao su không đường mỗi ngày có thể được coi như việc bạn đang hoạt động, đủ để đốt cháy 1 kg trong vòng một năm. Và chúng ta không nên quên rằng, trong khi bạn đang nhai kẹo cao su bạn không thể ăn bất cứ thứ gì khác, điều này thật tốt biết bao!
Bánh quy bơ
Thay vì mua hai gói bánh bích-quy giá rẻ, bạn hãy mua một gói chất lượng tốt hơn, ví dụ, bánh quy bơ. Mùi vị của nó sẽ tốt hơn, có nghĩa là bạn sẽ chỉ cần ăn một lượng nhỏ cũng đã cảm thấy no. Điều này cũng giúp bạn giảm cân đấy nhé.
Khoai tây luộc
Món khoai tây luộc có thể không ngon như bánh mỳ hay những món ngũ cốc hấp dẫn khác. Nhưng nó sẽ giúp bạn no mà không bị béo.
Bơ đậu phộng
Đậu phộng có tác dụng tương tự như quả hạch . Món bơ đậu phộng có chỉ số glycemic thấp hoàn hảo cho việc ăn nhẹ, nó sẽ giúp bạn giữ lượng đường trong máu ổn định và kiểm soát sự đói. Tất nhiên, bạn cũng không nên ăn quá nhiều bơ đậu phộng trong một ngày.
Rượu
Theo thống kê, những phụ nữ uống một lượng rượu vừa phải sẽ gầy hơn những phụ nữ không uống gì cả. Tuy nhiên, điều quan trọng là lượng rượu bạn uống, bạn chỉ nên uống một hoặc hai ly nhỏ mỗi ngày.
Tôm
Victoria Beckham được cho là người ăn nhiều tôm nhất trong chế độ ăn của cô ấy, và hẳn là không khó để bạn hiểu tại sao lại thế. Tôm chứa protein rất tốt cho cơ thể, có thể kiểm soát sự thèm ăn của bạn, trong khi chỉ chứa 54 calo và 0.5g chất béo trong 75g tôm mà bạn ăn.
Thịt đỏ
Không nên tránh xa thịt đỏ bởi vì bạn đang theo dõi trọng lượng của bạn, nó sẽ giúp bạn kiểm soát sự đói, nó cũng giúp bạn hạn chế một phần dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của bạn, và nó còn có ít chất béo hơn cả phô mai.
Nam Anh
Nguồn: http://www.baomoi.com/Home/LamDep/xinhxinh.com.vn/Nhung-loai-thuc-pham-tuyet-voi-giup-ban-giam-can/6064500.epi
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
Bài đăng phổ biến
-
Có bao giờ em nghĩ đến tôi như tôi đã từng, dù biết mình chưa thật sự là gì của nhau, thân có thân, quí có quí, thương cũng có thương, nhưng...
-
Hiện nay, không ít người dân có thói quen dùng thuốc bổ khi cảm giác là mình có vấn đề về sức khoẻ. Hay người ta uống thuốc bổ đơn giản vì n...
-
Thành Lộc và Thúy Hạnh bức xúc khi thí sinh Hoàng Duy Dũng giả gái, uốn éo cợt nhả. Trong vòng loại sân khấu Vietnam's Got Talent mùa t...
-
Thêm một hồi chuông báo động nữa về cách sống buông thả của một bộ phận giới trẻ Ngày hôm qua, một đoạn clip dài hơn 30 giây ghi lại hình ản...
-
Ngày 29/11, TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã tuyên phạt Nguyễn Văn Quân (26 tuổi, quê Thanh Hóa) tù chung thân về tội hiếp dâm trẻ em. Nạn nhân ...
-
Sau hai lần dùng quyền đưa Bá Lộc đi tiếp, nữ huấn luyện viên quyết định chia tay chàng trai có thân hình mỏng manh ở đêm Liveshow 8 tối 9/1...
-
Có một số thực phẩm ngon và bổ nhưng nếu cho trẻ dùng nhiều sẽ rất hại sức khỏe, thậm chí nguy hiểm, trong đó có đậu Hà Lan. Không như người...
-
(Dân trí) - Những năm gần đây, đồ nướng đã trở thành món ăn rất được ưa thích. Tuy nhiên, các thực phẩm sau khi nướng ở nhiệt độ cao rất dễ ...
-
50% bà mẹ bị tăng đường huyết trong ba tháng cuối của thai kỳ Ai cũng rõ thai phụ cần được cung cấp nhiều dưỡng chất trong suốt giai đoạn 9 ...
-
Đỗ Xuân Sơn và Dương Trần Nghĩa của đội Thu Minh phải đấu loại trực tiếp. Cặp Sing-off ở đội Trần Lập là Văn Thắng và Thùy Linh. Hương Tràm ...